KINH ĐẠI BỬU TÍCH

Hán dịch: Tây Tấn, Thanh Tín Sĩ Nhiếp Ðạo Chơn
Việt dịch: Việt Nam Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

PHẨM THANH VĂN THỨ HAI

Bấy giờ Vô Cấu Thí bạch Tôn giả Xá Lợi Phất rằng : « Bạch Ðại Ðức ! Tôi có ít lời hỏi xin Ngài thương mà giải thích.  Ðức Thế Tôn thọ ký Ngài là đệ nhứt trong hàng trí huệ.  Vậy trí huệ ấy là hữu vi hay là vô vi ? Nếu là hữu vi thì là pháp hư dối không thiệt, nếu là vô vi thì pháp vô vi không có sanh, pháp không sanh thì không có khởi , vì là không khởi thì trí huệ ấy là vô sở hữu ».

Tôn giả Xá Lợi Phất yên lặng.  Thấy vậy Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên nói với Tôn giả Xá Lợi Phất : « Sao Ðại Ðức chẳng đáp lời hỏi của Vô Cấu Thí ? ».

Tôn giả Xá Lợi Phất nói : « Cô ấy chẳng hỏi pháp hữu vi mà hỏi đệ nhứt nghĩa.  Trong đệ nhứt nghĩa không có ngôn thuyết, nên tôi không thể dùng ngôn thuyết để đáp ».

Vô Cấu Thí hỏi Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên :  « Bạch Ðại Ðức ! Ðức Thế Tôn thọ ký Ngài là thần túc đệ nhứt.  Lúc Ðại Ðức thừa thần túc là tưởng niệm chúng sanh hay là tưởng niệm nơi pháp ? Nếu an trụ chúng sanh tưởng thì chúng sanh không thiệt thần túc ấy cũng không thiệt, nếu an trụ nơi pháp tưởng thì pháp không biến dị, nếu không biến dị thì vô sở đắc, nếu vô sở đắc thì vô phân biệt ».

Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên yên lặng. Thấy vậy Tôn giả Ma Ha Ca Diếp hỏi : « Sao Ðại Ðức chẳng đáp lời hỏi của Vô Cấu Thí ? ».

Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên nói : « Cô ấy chẳng hỏi phân biệt thần túc mà hỏi pháp chư Phật.  Pháp chư Phật vô tác vô phân biệt không ngôn thuyết được ».

Vô Cấu Thí hỏi Tôn giả Ma Ha Ca Diếp : « Bạch Ðại Ðức ! Ðức Thế Tôn thọ ký Ngài là đầu đà đệ nhứt.  Ðại Ðức vì thương chúng sanh đã nhập bát giải thoát rồi mà họ cúng thí, nhẫn một niệm thọ người cúng thí.

Vậy Ðại Ðức dùng thân báo ơn hay dùng tâm báo ơn họ.  Nếu dùng thân báo ơn thì thân tánh vô ký không khác cỏ cây tường vách ngói sạn tất không thể báo ơn cúng thí, Nếu dùng tâm báo ơn thì tâm niệm niệm chẳng dừng cũng chẳng báo ơn được, nếu trừ thân tâm thì là pháp vô vi, ai có thể báo ơn được ?

Tôn giả Ma Ha Ca Diếp yên lặng.  Thấy vậy Tôn giả Tu Bồ Ðề hỏi : « Sao Ðại Ðức chẳng đáp lời hỏi của Vô Cấu Thí ? ».

Tôn giả Ma Ha Ca Diếp nói : « Cô ấy hỏi pháp chơn tế, lý ấy chẳng thể dùng lời để đáp ».

Vô Cấu Thí hỏi Tôn giả Tu Bồ Ðề : « Bạch Ðại Ðức ! đức Thế Tôn thọ ký Ngài là đệ nhứt vô tránh.  Hạnh vô tránh ấy nhập hữu tánh hay nhập như tánh ? Nếu nhập như tánh thì như chẳng phải tướng sanh tướng diệt, nếu chẳng có tướng sanh diệt thì là bình đẳng, nếu bình đẳng thì là như vậy, nếu như vậy thì là vô tác, nếu vô tác thì không ngôn thuyết, nếu không ngôn thuyết thì là bất khả tư nghị, nếu bất khả tư nghị thì là chẳng thể tuyên bày được.  Còn nếu nhập tại hữu tánh thì là hư dối chẳng phải thánh hạnh ».

Tôn giả Tu Bồ Ðề yên lặng.  Thấy vậy Tôn giả Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử hỏi : « Sao Ðại Ðức chẳng đáp ? ».

Tôn giả Tu Bồ Ðề nói : « Ở nơi lý tôi chẳng nên có đối đáp chỉ có yên lặng là chỗ mà tôi thích.  Cô ấy hỏi pháp không hí luận, nếu có ngôn thuyết thì sanh lỗi, pháp tánh vô thuyết là hạnh vô tránh vậy ».

Vô Câu Thí hỏi Tôn giả Phú Lâu Na : « Bạch Ðại Ðức ! Ðức Thế Tôn thọ ký Ngài là thuyết pháp đệ nhứt.  Lúc Ngài thuyết pháp là thuyết pháp có cảnh giới hay thuyết pháp không cảnh giới.  Nếu thuyết pháp có cảnh giới thì đồng với phàm phu, tại sao ? Vì phàm phu nói pháp có cảnh giới vậy, thế nên Ðại Ðức chẳng rời pháp phàm phu.  Còn nếu pháp không cảnh giới thì là vô sở hữu, lấy gì gọi là đệ nhứt trong hàng người thuyết pháp ? ».

Tôn giả Phú Lâu Na yên lặng.  Thấy vậy Tôn giả Ly Việt bảo rằng : « Sao Ðại Ðức chẳng đáp ? ».

Tôn giả Phú Lâu Na nói : « Cô ấy chẳng hỏi pháp hữu vi mà hỏi đệ nhứt nghĩa.  Trong đệ nhứt nghĩa không có ngôn thuyết , thế nên không có lý để đáp ».

Vô Cấu Thí hỏi Tôn giả Ly Việt : « Bạch Ðại Ðức ! Ðức Thế Tôn thọ ký Ngài là người hành thiền đệ nhứt.  Lúc Ðại Ðức hành thiền là y nơi thiền có tâm hay thiền không tâm ? Nếu y như tâm nhập thiền thì tâm như huyễn hóa chẳng thiệt, định ấy cũng chẳng thiệt, còn nếu vô tâm nhập thiền thì cỏ cây v. v…cũng lẽ ra đắc thiền, vì nó cũng đồng vô tâm vậy ».

Tôn giả Ly Việt yên lặng.  Thấy vậy Tôn giả A Na Luật hỏi : « Sao Ðại Ðức chẳng đáp ? ».

Tôn giả Ly Việt nói : « Cô ấy hỏi chỗ sở hành của chư Phật chẳng phải hàng Thanh Văn giải đáp ».

Vô Cấu Thí nói : « Chư Phật pháp cùng Thanh Văn pháp có khác chăng ? Nếu có khác nhau thì vô vi có hai chăng ? Chư Hiền Thánh đều hành vô vi, pháp vô vi không có sanh , nếu không có sanh thì không có hai, nếu không có hai thì như vậy, như vậy không hai, thế sao Ðại Ðức Ly Việt lại nói lời như trên ư ! ».

Vô Cấu Thí hỏi Tôn giả A Na Luật : « Bạch Ðại Ðức ! Ðức Thế Tôn thọ ký Ngài thiên nhãn đệ nhứt. Chỗ Ngài dùng thiên nhãn thấy là có vật hay không có vật ? Nếu thấy có vật thì là kiến thường, còn thấy không có vật thì là kiến đoạn.  Nếu rời cả hai bên thì là không có thấy ».

Tôn giả A Na Luật yên lặng.  Thấy vậy Tôn giả A Nan hỏi : « Sao Ðại Ðức không đáp ? ».

Tôn giả A Na Luật nói : « Lời cô ấy hỏi là để phá giả danh nên không thể dùng giả danh để đáp ».

Vô Cấu Thí hỏi Tôn giả A Nan : « Bạch Ðại Ðức ! Ðức Thế Tôn thọ ký Ngài là đa văn đệ nhứt.  Ða văn ấy là thiệt nghĩa hay là văn tự ? Nếu là thiệt nghĩa thì nghĩa ấy chẳng thể nói, nếu là pháp chẳng thể nói thì chẳng phải chỗ nghe biết của nhĩ thức, nếu chẳng phải nhĩ thức nghe biết thì lại là chẳng thể nói.  Còn nếu do văn tự , như lời đức Thế Tôn dạy « y theo liễu nghĩa chẳng y theo văn tự ».  Thế nên Ðại Ðức A Nan  chẳng phải đa văn cũng chẳng phải liễu nghĩa ».

Tôn giả A Nan yên lặng.  Thấy vậy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi : « Sao Ðại Ðức chẳng đáp lời hỏi của Vô Cấu Thí ? ».

Tôn giả A Nan nói : « Chỗ hỏi đa văn của cô ấy rời lìa văn tự, đây chẳng thể dùng âm thanh để đáp vấn nơi bình đẳng, bình đẳng chẳng phải tâm thức vì rời lìa tướng của tâm vậy.  Ðây chẳng phải là pháp của hàng học địa, tôi đâu đáp được, đây là chỗ mà đức Như Lai Pháp Vương đến bỉ ngạn vậy ».