KINH ĐẠI BỬU TÍCH

Hán dịch: Nhà Đường, Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi
Việt dịch: Thích Trí Tịnh

XL
PHÁP HỘI
TỊNH TÍN ÐỒNG NỮ
THỨ BỐN MƯƠI

Như vậy, tôi nghe một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm người câu hội.

Ðại Bồ Tát tám ngàn người,  tất cả đều là tri thức của mọi người. Các Ngài đã được đà la ni vô ngại biện tài, có đủ các nhẫn hàng phục ma oán đến các pháp đã được của Như Lai.

Danh hiệu của các Ngài là : Trì Thế Bồ Tát, Trì Ðạo Bồ Tát, Trì Ðịa Bồ Tát, Trì Ðại Ðịa Bồ Tát, Lạc Ý Bồ Tát, Linh Tín Lạc Bồ Tát, Diệu Sắc Trang Nghiêm Bồ Tát, Bửu Diệm Bồ Tát, Bửu Tràng bồ Tát, Bửu Tư Bồ Tát, Bửu Xứ Bồ Tát, Bửu Huệ Bồ Tát, Bửu Ðức Bồ Tát, Bửu Quang bồ Tát, còn có chư Bồ Tát Hiền Kiếp mà Di Lặc Bồ Tát làm thượng thủ, còn có sáu mươi vô đẳng dụ tâm chư Bồ Tát mà Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm thượng thủ, còn có mười sáu Ðại Sĩ mà Hiền Hộ Bồ Tát làm thượng thủ, còn có hai vạn Thiên Tử Ðâu Suất đều ở trong pháp hội.

Bấy giờ đức Thế Tôn ngồi tòa sư tử Ðại Trang Nghiêm Tạng, vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh, quang minh chiếu sáng như nhựt nguyệt, oai đức thù thắng như Ðế Thích Phạm Vương, cao vọi vượt chúng như núi Tu Di, tia sáng chói rực như lửa đuốc lớn, nhìn ngó an tường như đại tượng vương, thuyết pháp vô úy như sư tử hống, che trùm đại chúng như La Hầu La Vương, tướng hảo trang nghiêm oai quang xí thạnh, phát xuất phạm âm vang khắp tam thiên Ðại Thiên  thế giới, vì muốn giác ngộ tất cả chúng sanh khiến đều an trụ thắng nghĩa quyết định nên ở giữa đại chúng rộng tuyên pháp yếu.

Ái nữ của vua Ba Tư Nặc tên Tịnh Tín tuổi còn ấu trĩ, dung mạo đoan nghiêm được mọi người ưa nhìn, đời trước gieo trồng gốc lành tu tập đại thừa, cùng năm trăm đồng nữ sau trước vây quanh tay cầm vòng hoa xuất thành Xá Vệ tiến đến rừng Kỳ Ðà đảnh lễ chưn Phật hữu nhiễu ba vòng đứng qua một phía.  Rồi ở trước Phật, nàng nói kệ rằng :

Lâu tích phước thiện nghiệp thanh tịnh

Ðầy đủ vô biên biển công đức

Khiến chúng tin ưa đều vui mừng

Nên tôi đảnh lễ đấng Mâu Ni

Hiển hiện oai quang tướng kỳ đặc

Khai thị pháp môn tạng trân bửu

Thân quang một tấm thường chiếu sáng

Tôi lễ Ðại Huệ ao thanh lương

Cây to công đức phước vô tận

Tối tôn trong người đời khen ngợi

Bổn nguyện giới hạnh đã viên mãn

Nên tôi đảnh lễ đấng Ứng Cúng

An trụ diệu pháp thường yên lặng

Lòng thương chúng sanh như con một

Trí huệ thiện xảo biết các hành

Chỉ đường bình thản như Ðạo Sư

Nếu có người kiên cố dũng mãnh

Từ bi lợi ích loài chúng sanh

Bồ Tát như vậy chánh tu hành

Duy nguyện Như Lai tuyên dạy họ

Thế nào sẽ được sức vững chắc

An trụ sanh tử hàng phục ma

Thế nào sẽ được pháp bình đẳng

Thế nào thành thục các chúng sanh

Thế nào như địa như hư không

Như phong như thủy cũng như hỏa

Thế nào tín tâm ở nơi pháp

Như Tu Di Vương Sư Tử Vương

Thế nào xa rời lòng ghét thương

Tâm sạch trách trực không siểm khúc

Thế nào xuất sanh thí giới nhẫn

Tinh tiến thiền định và giải thoát

Trí huệ phá các phiền não tối

Mà thường an lạc đại phương tiện

Tam muội tổng trì vô ngại biện

Trụ tứ vô lượng ngũ thần thông

Thế nào được ở gần chư Phật

Thường thọ hóa sanh hóa túc mạng

Ðầu đà vô tránh ở lan nhã

Ðiều phục tâm mình dứt phiền não

Trì giới tu tập đạo Bồ đề

Chứng đạo cam lồ hàng ma oán

Thí chúng an lạc chuyển pháp luân

Chánh đạo như vậy nguyện tuyên nói”.

Ðức Thế Tôn bảo Tịnh Tín đồng nữ rằng : “ Bồ Tát nếu thành tựu được tám sức lực thì ở trong sanh tử kiên cố dũng mãnh không mỏi mệt.

Một là sức chí nguyện vì không dua dối.  Hai là sức thắng giải vì lìa các ác.  Ba là sức gia hạnh vì thường tu điều lành.  Bốn là sức tịnh tín thâm tín nghiệp báo.  Năm là sức Bồ đề tâm vì chẳng cầu Tiểu thừa.  Sáu là sức đại từ vì chẳng hại chúng sanh.  Bảy là sức đại bi và kham nhẫn các ác.  Tám là sức thiện hữu vì luôn luôn cảnh giác.  Nầy đồng nữ ! Ðây gọi là tám sức lực, nếu Bồ Tát thành tựu sức lực nầy thì kiên cố dũng mãnh ở trong sanh tử không nhiễm trước”.

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

 “Chí nguyện dũng mãnh

Rời lìa siễm cuống

Thường hành chất trực

Ðúng đường Bồ đề

Dùng sức thắng giải

Xa lìa các ác

Thuần tu hạnh lành

An trụ chánh cần

Gia hạnh đầy đủ

Hằng khéo quan sát

Tinh tiến kiên cố

An lạc chúng sanh

Do sức tịnh tín

Biết rõ nghiệp báo

Tin nơi Phật trí

Nhiếp thọ thế gian

Sức tâm Bồ đề

Xa lìa Tiểu thừa

Chẳng dứt Phật chủng

An trụ pháp tánh

Do sức đại từ

Bình đẳng chúng sanh

Không yêu không ghét

Chẳng làm giận hại

Do sức đại bi

Chịu được các ác

chẳng nhiễm sanh tử

Cũng không mỏi mệt

Do sức thiện hữu

Thường cảnh tỉnh nhau

Lòng chẳng thối chuyển

An trụ Bồ đề

Người tinh tiến tu

Ðược tám sức nầy

Sẽ ngồi đạo tràng

Phá các chúng ma

Lại nầy đồng nữ !  Vì Bồ Tát đã thành tựu tám pháp nên an trụ nơi bình đẳng :

Một là tất cả chúng sanh bình đẳng vì bổn vô ngã.  Hai là tất cả pháp bình đẳng vì các pháp tịch tĩnh.  Ba là tất cả thế giới bình đẳng vì đều nhập vào không giới.  Bốn là tất cả trí bình đẳng vì bình đẳng thuyết pháp. Năm là tất cả hành bình đẳng vì nhơn duyên vô tánh.  Sáu là tất cả thừa bình đẳng vì đồng vô vi.  Bảy là tất cả tâm bình đẳng vì tâm như huyễn.  Tám là tất cả ma bình đẳng vì phiền não làm trước bất khả đắc.  Ðây là tám pháp an trụ bình đẳng ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

 

«  Chúng sanh bổn vô ngã

Niệm niệm bất khả đắc

Người an trụ bình đẳng

Phải quan sát như vậy

Tất cả pháp bình đẳng

Bổn tánh thường không tịch

Văn tự có phân biệt

Các pháp vốn không khác

Mười phương các quốc độ

Biên tế bất khả đắc

Tánh nó như hư không

Phật quốc thường bình đẳng

Tam thế chư Như Lai

Trụ pháp giới bình đẳng

Vô biên trí giải thoát

Chư Phật đều như vậy

Chúng sanh bổn duyên khởi

Tất cả đều bình đẳng

Khéo biết họ sở hành

Dùng chỗ khai ngộ họ

Chúng sanh bao nhiêu thứ

Biết rõ như huyễn hóa

Trong ngoài vô sở thủ

Tự tánh thường thanh tịnh

Các thừa nói các pháp

Tánh vô vi bình đẳng

Ðạo Sư thiện phương tiện

Phân biệt nói ba thừa

Hiện ở phiền não ma

Phiền não vô sở hữu

Thiên ma uẩn tử ma

Cảnh giới nó đều không

Lại nầy đồng nữ ! Vì Bồ Tát đã thành tựu tám pháp nên rời lìa ghét thương :

Một là từ, hai là bi, ba là thường làm lợi ích, bốn là chẳng nhiễm thế pháp, năm là chẳng luyến thân mình, sáu là thường tu định tâm, bảy là xả ly thân mạng, tám là quan sát phiền não.  Tu tám pháp nầy thì có thể rời lìa ghét thương vậy ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

 

« Mặc vững giáp từ tâm

Thương xót tất cả loài

An trụ tâm bình đẳng

Thì chẳng sanh yêu ghét

Người trí làm lợi ích

Thường ban cho an vui

Ðược lợi chẳng tự cao

Bị khi chẳng sanh giận

Chẳng bị tám gió động

Thì chẳng sanh yêu ghét

Với mình và với người

Chẳng nghĩ tưởng ghét yêu

Ðều bỏ lìa ý tưởng

không luyến trước cảnh giới

Thường tự xem thân mình

Chẳng luyến tiếc thân mạng

Người trí nơi khổ vui

Bất động như hư không

Khéo quan sát phiền não

Lìa cả ngã ngã sở

Gìn lòng hằng như đất

Thì chẳng sanh yêu ghét

Lại nầy đồng nữ ! Vì Bồ Tát thành tựu tám pháp nên ở trong sanh tử không có mỏi mệt :

Một là vì thiện căn quảng đại.  Hai là vì quan sát chúng sanh.  Ba là vì thường được thấy Phật sắm đồ cúng dường.  Bốn là vì được thấy vô lượng Phật độ.  Năm là vì thường cầu Phật trí.  Sáu là vì biết rõ sanh tử như mộng.  Bảy là vì đối với pháp thù thắng không khiếp nhược.  Tám là quan sát tiền tế và hậu tế đồng như thiệt tế ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

 

« Nếu những người hành đạo

Tu lành không vết nhơ

Như không nguyệt thanh tịnh

Ðộ thoát khổ chúng sanh

Vì nhiếp các công đức

Ở sanh tử không mệt

Quan sát tánh chúng sanh

Bền vững tu tinh tiến

Nơi vô lượng Phật độ

Cung kính cúng dường Phật

Thế nên bực thập lực

Ở sanh tử chẳng mỏi

Vô lượng vô biên đời

Thuyết bất tư nghì pháp

Chẳng dứt giống Tam bửu

Sẽ thành giống Pháp Vương

Người kiên trì cấm giới

Ở sanh tử chẳng mệt

Biết rõ tánh sanh tử

Như mộng như mây chớp

Nơi pháp được giải thoát

Ở sanh tử chẳng mỏi

An trụ nơi Bồ đề

Lòng mừng luôn vui vẻ

Ðến nơi bờ phương tiện

Ở sanh tử không mệt

Thường tu pháp thù thắng

Như không nguyệt thêm tròn

Ưa thích Phật công đức

Ở sanh tử chẳng mỏi

Sanh tử không biên tế

Thường an trụ thiệt tế

Một niệm huệ tương ưng

Ở sanh tử không mệt

Lại nầy đồng nữ ! Vì Bồ Tát thành tựu tám pháp nên tâm giới bình đẳng :

Một là tâm như địa.  Hai là tâm như thủy.  Ba là tâm như hỏa.  Bốn là tâm như phong.  Năm là tâm như hư không.  Sáu là tâm đồng pháp giới.  Bảy là tâm đồng giải thoát.  Tám là tâm đồng Niết bàn.  Ðây gọi là tám thứ tâm giới bình đẳng ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

« Tâm bình đẳng như đất

Gánh chở tất cả loài

Với thiện và với ác

Không có chỗ tăng giảm

Tâm bình đẳng như thủy

Rửa sạch các cấu dơ

Dưỡng dục các thế gian

Trừ khô khát phiền não

Tâm bình đẳng như hỏa

Ðốt cháy tiêu phiền não

Ánh sáng như đuốc lớn

Không chỗ nào chẳng sáng

Tâm bình đẳng như phong

Không xứ sở không nương

Thổi bay hương giới văn

Khắp đến khứ lai kim

Tâm bình đẳng hư không

Lìa kiến chấp thanh tịnh

Khắp nhập vào tất cả

Mà chẳng theo chúng ma

Tâm bình đẳng pháp giới

Khéo được thường an trụ

Chẳng tăng cũng chẳng giảm

Thường nhập vào bình đẳng

Thanh Văn và Duyên Giác

Chỗ chứng được giải thoát

Không còn có trói buộc

Cũng không có cởi trói

Sanh tử và Niết bàn

Không lai cũng không khứ

An trụ nơi tịch tĩnh

Ði khắp trong tam thế

Lại nữa, nầy đồng nữ ! Có tám pháp mà Bồ Tát thành tựu được thì xuất sanh Bồ đề :

Một là bố thí xuất sanh vì xả sở hữu vậy.  Hai là trì giới xuất sanh vì không phạm lỗi vậy.  Ba là nhẫn nhục xuất sanh vì không sân khuể vậy.  Bốn là tinh tiến xuất sanh  vì chẳng giải đãi thối thất vậy.  Năm là thiền định xuất sanh vì hành phương tiện vậy.  Sáu là huệ xuất sanh vì thọ trì đa văn vậy.  Bảy là phạm trụ xuất sanh vì giải thoát tịch tĩnh vậy.  Tám là thần thông xuất sanh vì thường tại chánh định vậy”.

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

 

“Người thường hành bố thí

Rời lìa tham nhiệt não

Chẳng mong cầu quả báo

Hồi hướng Phật bồ đề

Trì giới tu Ðại Thừa

Ðập đánh không sân hận

Chí cầu đại an lạc

Trừ tập khi chứng diệt

Bồ Tát hành tinh tiến

Nhiều kiếp vì chúng sanh

Chịu khổ ở thế gian

Sức tinh tiến tăng trưởng

Người tu hành thiền định

Rời xa các hí luận

Ðến bỉ ngạn thiền định

Mà chẳng theo thiền sanh

Ðại huệ không gì bằng

Rời hẳn các chấp kiến

Biết rõ đời không tịch

Si tối dứt không thừa

Tịch tĩnh tu phạm trụ

Trừ sạch các ác đạo

Thường làm Thích Phạm Vương

Siêng tu các nghĩa lợi

Thần thông đạo Phật độ

Hầu Phật nghe Phật dạy

Khéo biết các tánh dục

Thuyết pháp độ chúng sanh

Lại nầy đồng nữ ! Vì thành tựu tám pháp mà Bồ Tát được đà la ni biện tài vô ngại :

Một là tôn trọng Phật pháp.  Hai là kính thờ Hòa Thượng và A xà Lê.  Ba là cầu pháp không chán.  Bốn như chỗ được nghe mà  thuyết pháp.  Năm là chẳng bỏn xẻn chánh pháp.  Sáu là chẳng rao lỗi người.  Bảy là yêu kính pháp sư như Hòa Thượng.  Tám là chẳng thấy lỗi người và khuyên người chừa lỗi ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

« Chí nguyện thường cầu pháp

Thờ thầy gần thiện hữu

Rời xa ác tri thức

Ðược vô tận tạng trì

Ða văn không chán đủ

Dũng mãnh siêng cầu pháp

Như nghe mà diễn thuyết

Chẳng mong cầu lợi dưỡng

Ðược biện tài thanh tịnh

Khiến chúng đều hoan hỉ

Vui thích làm pháp thí

Rời xa bỏn xẻn ganh

Hành pháp vô sở trước

Chứng được đà la ni

Hộ giới tự quán thân

Chẳng tìm tội lỗi người

Từ bi làm y chỉ

Phát ngữ chẳng phi thời

Sẽ được vô ngại biện

Ðến bỉ ngạn ngôn thuyết

Với người thuyết pháp giỏi

Yêu kính như thầy mình

ẩn lỗi khuyên rời lỗi

Ðược biển vô tận trì

Lại nầy đồng nữ ! Vì thành tựu tám pháp Bồ Tát ở trước chư Phật liên hoa hóa sanh :

Một là dầu cho đến mất mạng cũng chẳng nói lỗi người.  Hai là khuyến hóa chúng sanh khiến quy y Tam Bảo.  Ba là an trí tất cả nơi tâm Bồ đề.  Bốn là phạm hạnh không nhiễm.  Năm là tạo lập tượng Phật đặt trên tòa sen.  Sáu là chúng sanh ưu não khiến trừ ưu não.  Bảy là với kẻ cống cao thường tự khiêm hạ.  Tám là chẳng não hại người ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

Dầu bị khổ bức thân

Trọn chẳng nói lỗi người

Thường ca ngợi Tam bảo

Hóa sanh ở trước Phật

Khuyên phát tâm Bồ đề

Khiến cầu Nhứt thiết trí

Thường tu hành phạm hạnh

Hóa sanh ở trước Phật

Vàng ròng trang nghiêm tượng

Ðặt trên tòa sen báu

Trừ ưu não chúng sanh

Hóa sanh ở trước Phật

Với kẻ kiêu mạn kia

Khiêm hạ như đệ tử

Chẳng để họ não phiền

Hóa sanh ở trước Phật

Lại nầy Tịnh Tín ! Có tám pháp mà Bồ Tát thành tựu công đức đầu đà thì thường thích an trụ nơi a lan nhã :

Một là thiểu dục.  Hai là tri túc.  Ba là mãn túc sở nguyện.  Bốn là dùng thiện tự bồi dưỡng.  Năm là thường trì thánh chủng.  Sáu là thấy

Khổ sanh tử lòng thường chán lìa.  Bảy là hàng quán vô thường.  Tám là tín sâu vững chắc chẳng theo lời người khác ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

« Thiểu dục tri túc bất phóng dật

Pháp hỉ các thiện làm tư dưỡng

Ưa thích thường tu nơi thánh chửng

Thấy khổ sanh tử sanh lòng sợ

Do đó thường thích hành đầu đà

Như tê một sừng ở cô độc

Quán pháp hữu vi khổ vô ngã

Huệ tâm thâm tín trụ chánh cần

Tự thấy nơi pháp chẳng theo người

Thường ở không nhàn được Phât khen

Ðầu đà viễn ly không não hoạn

Không các tranh luận những tội lỗi

Xa lìa quyến thuộc tuyệt khen tặng

Do đó thích ở a lan nhã

Lại nầy Tịnh Tín ! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì hàng phục ma oán :

Một là nhập vào tánh không.  Hai là tin vô tưởng.  Ba là tin vô nguyện.  Bốn là biết rõ vô tác.  Năm là trong không nghi hoặc.  Sáu là

nhẫn nơi vô sanh.  Bảy là quyết liễu vô tánh.  Tám là nơi tất cả pháp phương tiện quan sát chẳng hoại như như ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

 

« Nơi không vô tướng và vô nguyện

Ðược ba giải thoát hàng ma oán

Hữu vi vô vi không hai tướng

Chứng nơi vô sanh được giải thoát

Các pháp vô sanh nhẫn như vậy

Người nầy hàng phục các ma oán

Ở trong vô sanh vô diệt nầy

Uẩn giới vô ngã dường như huyễn

Quyết định biết rõ pháp vô tánh

Chẳng hoại nơi như xảo phương tiện

Phân biệt các pháp là nghiệp ma

Xả ly phân biêt thì hàng ma

Trí huệ phương tiện làm cả hai

Hoặc có hoặc không vô sở trụ

Tu tập thắng pháp như vậy thảy

được thiện phương tiện diệu sắc thân.

 

Lại nầy Tịnh tín ! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì chẳng rời lìa Bồ đề :

Một là chánh kiến vì thành thục chúng sanh tà kiến vậy.  Hai là chánh niệm vì bi mẫn chúng sanh tà niệm vậy.  Ba là chánh ngữ vì thương các chúng sanh tà ngữ vậy. .  Bốn là chánh nghiệp vì nhiếp các chúng sanh tà nghiệp vậy.  Năm là chánh tinh tiến vì độ các chúng sanh tà cần vậy.  Sáu là chánh mạng vì chẳng bỏ tà mạng chúng sanh vậy.  Bảy là chánh tư duy vì khiến chúng sanh lìa tà tư duy vậy.  Tám là chánh định vì phát khởi tăng tiến các chúng sanh tà định vậy ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

« Người thành tựu chánh kiến

Giáo hóa kẻ tà kiến

Thường tu hành chánh niệm

Thương xót kẻ tà niệm

Thanh tịnh chánh ngôn thuyết

Thương các kẻ tà ngữ

An trụ nơi chánh nghiệp

Nhiếp những kẻ tà nghiệp

Thường tu hạnh chánh cần

Chẳng bỏ kẻ tà cần

Tương ưng chánh tịnh mạng

Nhiếp các kẻ tà mạn

Trí giả chánh tư duy

Thương xót kẻ tà tư

Thường an trụ chánh định

Nhiếp những kẻ tà định

Vô thượng bát chánh đạo

An ổn qua dòng dữ

Lại độ kẻ phiêu lưu

Là đạo đại Bồ đề

Thanh Văn và Duyên giác

Bè cỏ chỉ tự độ

Bồ Tát rộng cứu độ

Như tối đại thuyền trưởng

Lại nầy Tịnh Tín ! Bồ Tát thành tựu tám pháp thì chứng đạo cam lộ

Một là an trụ pháp vô tránh.  Hai là khéo giữ tâm vô chướng ngại.  Ba là thường quán nghĩa như thiệt.  Bốn là an trụ tâm Bồ đề tu sáu niệm.  Năm là tinh tấn tu tập các Ba la mật.  Sáu là chứa họp thiện căn thành thục chúng sanh.  Bảy là an trụ đại bi nhiếp thọ chánh pháp.  Tám là được vô sanh nhẫn an trụ bất thối chuyển »

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

 

« Thường tu hạnh vô tránh

Trụ pháp đại Sa Môn

Xa rời lỗi sân khuể

Chứa họp các thiện căn

Khéo quán nghĩa chơn thiệt

Ðược những vô tận hiện

An trụ tâm Bồ đề

Thường niệm nơi vô niệm

Tất cả Ba la mật

Siêng tu không thối chuyển

Ðược các phương tiện lực

Do đây độ chúng sanh

Hay đem của Pháp Vương

Từ bi ban tất cả

Mau chứng vô sanh nhẫn

Bất thối chuyển Bồ đề

Nếu tu hành được vậy

Phật pháp chẳng khó được

Chẳng lâu hàng chúng ma

Chứng tối thượng Bồ đề ».

 

Nghe pháp xong, Tịnh tín đồng nữ vui mừng  hớn hở bạch đức Phật rằng : « Bạch đức

Thế Tôn ! Thành tựu mấy pháp có thể chuyển được nữ thân ? ».

Ðức Phật dạy : « Nầy Tịnh Tín ! Thành tựu tám pháp thì có thể chuyển nữ nhân :

Một là chẳng ganh ghét.  Hai là chẳng bỏn xẻn.  Ba là chẳng dua nịnh.  Bốn là chẳng sân.  Năm là thiệt ngữ.  Sáu là chẳng ác khẩu.  Bảy là xả ly tham dục.  Tám là rời các tà kiến.  ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

Chẳng tật đố người khác

Lìa bỏn xẻn ưa pháp

Chẳng có lòng siểm cuống

Chán ghét thân nữ nhơn

Tâm từ bỏ rời sân

Thường tu nói lời thiệt

Trừ tham lìa ác khẩu

An trụ trong chánh kiến

Nếu chán thân nữ nhơn

Nên tu pháp như vậy

Thì sẽ mau được chuyển

Thọ thân thiện trượng phu.

Lại nầy Tịnh Tín ! Nếu thành tựu tám pháp thì chuyển được nữ thân :

Một là tôn trọng chư Phật rất thích chánh pháp.  Hai là cung kính cúng dường các Sa Môn Bà La Môn trì giới nhẫn nhục đa văn.  Ba là đối với chồng con và cư gia chẳng sanh lòng luyến ái.  Bốn là thọ trì cấm giới không khuyết phạm.  Năm và với các người chẳng sanh tà niệm.  Sáu là có ý nguyện tăng thượng chán lìa nữ thân.  Bảy là an tru tâm Bồ đề pháp đại trượng phu.  Tám là xem gia nghiệp thế gian như ảo như mộng ».

Ðức Thế Tôn lại nói kệ rằng :

« Kính Phật rất ưa pháp

Tôn trọng giới văn Tăng

Chẳng sanh lòng tham ái

Thân nữ sẽ chuyển mau

Trì giới đủ tàm quý

Chẳng vọng niệm người khác

An trụ tâm Bồ đề

Chẳng ưa pháp nhị thừa

Do đây mau chuyển được

Thân người nữ bất tịnh

Thắng chí tâm chán lìa

Tất cả đều như huyễn

Các pháp bổn bất động

Nhơn duyên tánh không tịch

Siêng tu pháp như thiệt

Chóng được thân trượng phu.

Bấy giờ Tịnh Tín đồng nữ đem tràng hoa vàng mà cô đang cầm tán lên trên đức Phật, hoa ở trên hư không biến thành cung điện lâu các chơn kim, trong cung điện ấy có đức Hóa Phật ngồi tòa vàng.  Năm trăm đồng nữ cũng cời đồ trang sức tán lên trên đức Phật biến thành lâu các  chơn kim ở trên hư không có trướng báu lọng báu các thứ trang nghiêm.  Thấy đại thần biến ấy, năm trăm đồng nữ khác miệng đồng lời nói kệ rằng :

“Thế Tôn thù thắng  nhứt loài người

Thương xót lợi ích các chúng sanh

Nay tôi đã phát tâm Bồ đề

Chí nguyện tương ưng trụ điều phục

Làm thầy thế gian ban an lạc

Tôi phải cúng dường Nhơn Trung Tôn

Nghe pháp đã lìa các trần cấu

Chúng tôi chẳng còn những nghi lầm

Mới lìa thân nữ nhiều nhiểm ô

Phá hẳn phiền não hàng ma oán

Mười phương vô lượng câu chi Phật

Tôi sẽ hoan hỉ thường cúng dường

An trụ thí giới siêng tinh tấn

Nhẫn nhục thiền định khéo điều tâm

Trí huệ phương tiện nhiếp chúng sanh

Sẽ chứng tối thượng đạo Bồ đề

Lợi ích vô lượng chúng Trời Người

đều khiến phát khởi tâm Ðại thừa

Chúng tôi sẽ hay sư tử hống

Chúng tôi sẽ làm Thiên Nhơn Sư”.

 

Ðức Thế Tôn hiện mỉm cười.  Theo lệ thường của chư Phật, lúc đức Phật mỉm cười thì từ miệng đức Phật có những tia sáng nhiều màu xanh vàng đỏ trắng hồng tía pha lê phóng ra chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới cao đến trời Phạm Thế rồi trở về nhiễu đức Phật ba vòng lại nhập vào đảnh của Phật.

Trưởng lão A Nan làm lễ bạch rằng :” Bạch đức Thế Tôn ! Do nhơn duyên gì mà hiện mỉm cười ?”.

Ðức Phật dạy : “ Nầy A Nan ! Ông có thấy Tịnh Tín đồng nữ chăng ?

-Vâng, bạch Thế Tôn ! Tôi đã thấy.

– Nầy A Nan ! Tịnh Tín và năm trăm đồng nữ thọ trong loài người sẽ bỏ thân nữ sanh Trời Ðâu Suất thừa sự cúng dường Di Lặc Thế Tôn và chư Như Lai trong Hiền kiếp.  Quá tám vạn bốn ngàn câu chi na do tha kiếp.  Tịnh Tín sẽ được làm Phật tại ÐiệnQuang thế giới hiệu Quang Minh Trang Nghiêm Vương Như Lai, kiếp tên Thường Quang, Phật ấy thọ như Trời Ðâu Suất mười hai ngàn tuổi, có vô lượng vô biên chúng đại Bồ Tát làm quyến thuộc, mà năm trăm đồng nữ nầy sẽ là thượng thủ nhứt trong đại chúng ấy, cũng như hiện nay Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ trong sáu mươi Bồ Tát vậy. ?

Nầy A Nan ! Nếu có nữ nhơn được nghe kinh nầy rồi họ trì đọc tụng, khi hết thân nữ nầy chẳng còn thọ thân nữ nữa và mau chứng được Vô thượng Bồ đề”.

Ðức Phật nói kinh nầy rồi, Tịnh Tín với năm trăm đồng nữ và tất cả thế gian Trời, Người, A Tu La nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.

 

PHÁP HỘI TỊNH TÍN ÐỒNG NỮ

THỨ BỐN MƯƠI

HẾT TẬP VI