TÂN BIÊN QUÁN ÂM LINH CẢM LỤC
Biên soạn: Lý Viên Tịnh
Việt dịch: Sa môn Thích Trí Minh

 

Các Chương trong Sách:

 

THIÊN THỨ HAI CỨU TẾ ÁCH NẠN

1. Triều nhà Tấn có một thương chủ ở Tây Vực đi buôn. Ông cùng với những người bạn lênh đênh trên biển do bị lạc đường nên tất cả nhất tâm trì niệm Thánh hiệu Quán Âm. Không bao lâu thì thấy một vị Tăng hiện ra ở không trung, tay cầm tích trượng dẫn đường, chưa được một tiếng đồng hồ, cả đoàn tàu đã cập bến an toàn nơi bổn quốc. (Trích Đường Tây Vực Ký).

2. Triều nhà Tấn, Lữ Tung tự là Mậu Cao, là người ở huyện Đoài châu, tỉnh Sơn Đông. Nhà Ông ở bên ngọn núi Thủy Phong. Phía Nam huyện Đoài Châu có một dòng suối nước chảy như thác và quanh co uốn khúc như rắn lượn, lại có bờ đá cao chót vót rất nhiều đá lớn chất chồng, địa thế hiểm trở, vì thế mà nhiều người đi ngang qua đó trong lúc ban ngày vẫn lo sợ nguy hiểm. Tung thường kể lại việc phụ thân của mình đã từng đi qua suối ấy cho mọi người nghe. Ông kể rằng: Một hôm cha Ông chèo thuyền đi qua suối, khi cách nhà chừng hơn 10 dặm thì lúc bấy giờ, trời đã về chiều nên mặt trời sắp lặn, lại gặp lúc mưa to gió lớn, tối tăm mù mịt, không nhận biết được hướng đông tây, cha Ông tự nghĩ thế nào cũng bị lật ghe; chết chìm, nên nhất tâm quy hướng Quán Âm Bồ Tát và chí thành xưng niệm danh hiệu của Ngài. Trong giây lát, bỗng Ông thấy có ánh sáng của ngọn đuốc đang soi đường, ánh sáng ấy chiếu soi rất xa, soi sáng lòng suối một cách rõ ràng và cứ cách thuyền cha của Tung khoảng mười bước. Nhờ ánh sáng ấy dẫn đường cho thuyền hướng vào bờ an toàn, mà cha của Tung về nhà được an nhiên vô sự. Bạn thân của Tung là Hý Gia Tân nghe câu chuyện ấy nên đã ghi chép lại rõ ràng và đầy đủ. (Trích Minh Trường Ký).

3. Triều nhà Tấn có Từ Vinh là người ở Lang Gia, tỉnh Sơn Đông. Một độ nọ Vinh có duyên sự phải đến Đông Dương. Khi trở về thì đi bằng đường thủy, lúc đến Định Sơn thì do người lái thuyền không thạo đường nên thuyền đi vào chổ nước xoáy. Khi thuyền sắp bị chìm thì Từ Vinh chí thành cung kính xưng niệm danh hiệu Quán Âm Đại Sĩ. Chỉ trong chốc lát, dường như có sức mạnh vô hình của vài mươi người đồng sức kéo chiếc thuyền ra khỏi vùng nước xoáy và đưa thuyền Ông đi dọc theo bờ sông. Khổ nổi, lúc ấy mặt trời đã lặn, bầu trời tối tăm như mực, lại gặp lúc mưa to gió lớn, chiếc thuyền chỉ tiến về trước mà không biết phải đi theo hướng nào, lại sóng nhồi dữ dội nên thuyền mấy lần muốn lật úp. Từ Vinh lại chí tâm tụng kinh Phổ Môn không dứt, bỗng thấy trên đầu núi có ánh đèn lửa soi sáng như ánh đèn hải đăng, hướng ghe của Vinh vào đến bờ an ổn. Sau khi vào bờ thì không ai còn nhìn thấy đèn lửa ấy nữa. Sáng hôm sau, Ông hỏi mọi người trong vùng xem ai đã đốt lửa cứu mình thì dân chúng rất ngạc nhiên bảo rằng: “Đêm qua mưa to gió lớn như bão thì làm gì có đèn lửa trên đầu núi được”. Bấy giờ, Ông mới biết chính là nhờ Từ lực của Phật minh gia. Từ Vinh về sau làm Đốc phủ ở Hội kê đã đem chuyện này thuật lại cho một danh sĩ là Tạ Phu Hằng nghe. Người đi cùng ghe với Từ Vinh là Sa môn Tích Chi Đạo Uẩn là người nghiêm trì giới luật, tánh tình rất thận trọng cũng đem việc nói trên kể cho mọi người biết để phát khởi tín tâm hướng về Đại Sĩ để được nhiều lợi lạc. (Trích Minh Tường Ký).

4. Triều nhà Tấn có sa môn Thích Pháp Thuần ở chùa Hiển Nghĩa, xứ Sơn Âm. Trong niên hiệu Nguyên Hưng, Thầy có duyên sự phải đi qua biển Thái Hồ thì gặp lúc mưa to gió lớn. Vì thuyền của Thầy nhỏ nên nước tràn vào thuyền, sinh mạng gần như chỉ còn trong nháy mắt. Thầy Pháp Thuần bèn nhất tâm quy hướng về đức Quán Âm, chí thành xưng niệm danh hiệu của Bồ tát không dứt. Một lúc sau, từ xa bỗng nhiên có một chiếc thuyền lớn trôi lềnh bềnh đến trước thuyền của Thầy, mọi người thấy vậy lớn tiếng kêu cứu thì chiếc thuyền ấy áp sát lại, nhờ đó mà mọi người trèo qua an toàn. Khi mọi người vừa qua hết chiếc thuyền lớn thì nhìn lại thấy chiếc thuyền nhỏ cũng đã chìm dần. Ai nấy đều vô cùng khiếp sợ và đều thành kính cảm tạ sự linh ứng của Đức Quan Âm Đại Sĩ. Chiếc thuyền lớn lướt sóng đi về phía trước, chốc lát thì đã đến bờ. Mọi người lên bờ và dò hỏi xem người chủ thuyền là ai thì không ai nhận là chủ và cũng chỉ trong chớp mắt, chiếc thuyền lớn đã biến mất không còn dấu vết. Bấy giờ, một lần nữa cả Thầy và dân chúng đi trên thuyền đều kinh ngạc và tán thán lòng Từ bi của Bồ tát Quan Âm đã minh gia cứu độ. Thật là một phép màu không thể nghĩ bàn. (Trích Cao Tăng Truyện – Tập 1 & Pháp Uyển Châu Lâm).

5. Triều đại Lưu Tống có Thầy Thích Đạo Huỳnh, người ở Phù Phong, tỉnh Thiểm Tây. Niên hiệu Hoàng Trị năm thứ 18, Bổn sư của Thầy là Thích Đạo Tứ bị bệnh nên sai Thầy Thích Đạo Huỳnh cùng ba người nữa đi đến Hoành Sơn ở tỉnh Hà Nam tìm thuốc. Đường đi vào núi rất xa phải trải qua hàng vạn dặm, lại rất hiểm trở, lúc thì trèo non, khi thì lội suối. Một hôm cả bốn người phải chui qua một cái hang đầy nước lại rất tối tăm, ba người đi với Thầy đều bị hụt chân chết chìm, đèn đuốc cũng bị tắt ngấm.

Thầy Thích Đạo Huỳnh bình nhật rất siêng năng chí thành trì tụng Kinh Pháp Hoa nên nương nhờ thiện nghiệp ấy và trong lúc ấy lại thành tâm niệm Thánh hiệu Đức Quán Thế Âm, nên chỉ trong chốc lát thì nhìn thấy có một tia sáng như lửa đom đóm, đóm lửa ấy cách Thầy vài bước chân nhưng lại bay rất nhanh. Thầy cố gắng chạy theo cho kịp thì trong chốc lát đã đến cửa hang. Sau khi thoát nạn về chùa, Thầy tu Thiền rất tinh tấn, lại thường tu các Sám pháp và thường xuất hiện nhiều thoại ứng. Thời gian sau, Thầy cùng với bốn người bạn đồng học đi qua sông, gặp vào lúc tiết nghiêm Đông rất lạnh, dòng sông đã trở thành băng giá. Chẳng may, giữa đường gặp chổ băng mỏng, cả bốn người bạn của Thầy đều bị chết chìm. Riêng Thầy lúc bấy giờ nhờ chí thành qui hướng đức Quán Âm, khẩn thiết xưng niệm danh hiệu của Ngài nên lúc ấy cảm thấy dưới chân mình dường như có một vật gì đó đang nâng đở không cho chìm xuống nước. Sau đó trước mặt Thầy bỗng xuất hiện một tia sáng đỏ, tia sáng ấy bay trước mặt và hướng dẫn Thầy đi theo để đến bờ bình an vô sự. (Trích Cao Tăng Truyện – Tập 1).

6. Đời Lưu Tống có một Phật tử tên Cổ Mại, người ở Ngô Quận. Trong niên hiệu Nguyên Gia, Phật tử này từ kinh đô về Quảng Lăng thì đi bằng đường thủy. Khi thuyền đến địa phận Thành Thạch Đầu thì gặp mưa to gió lớn, người lái thuyền không thể tìm chổ đậu vì đang ở giữa dòng nước nên vẫn phải đi tiếp, sóng gió nhồi dữ dội nên chiếc thuyền chẳng khác gì chiếc lá nhỏ, vùi dập giữa ba đào. Tình thế thật là tiến thối lưỡng nan, Cố Mại trong lòng vô cùng lo sợ, chợt nhớ đến Đức Quan Âm cứu khổ cứu nạn, bèn chí thành trì tụng kinh Phổ Môn, ước chừng mười biến thì thấy thế gió yếu dần, sóng cũng lặng bớt, giữa thinh không lại có mùi hương thơm bát ngát. Tâm của Cố Mại lúc bấy giờ rất phấn chấn, tiếp tục trì tụng không dứt, nhờ đó mà gió bão dứt bặt, mọi nguy hiểm đều qua khỏi. (Trích Minh Tường Ký).

7. Đời Lưu Tống, Sa Môn Thích Huệ Khánh là người Quảng Lăng. Vào niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 12, Ông có việc đi đến Lô Sơn. Khi thuyền vừa mới ra đến sông lớn thì bỗng nhiên gió to sóng lớn nổi lên như trận bão, thuyền của Ông đang lênh đênh giữa dòng sông nên bị muôn lớp sóng cao nhồi đến ào ạt, trăm phần khó thoát khỏi việc bị lật úp thuyền. Bấy giờ, thầy Thích Huệ Khánh chí thành định tâm tụng kinh Quán Thế Âm để cầu xin Đại Sĩ cứu độ. Không lâu sau đó, thuyền bỗng nhẹ hẳn và lướt sóng đi thật êm ái như có vài chục người phía sau đẩy tới, vậy mà đến bờ an ổn. Những người ở hai bờ sông thấy thuyền của Thầy lướt sóng vào bờ an toàn một cách lạ lùng thì ai nấy đều kinh ngạc. (Trích Minh Tường Ký).

8. Đời Lưu Tống, Phục Vạn Thọ là người ở Bình Sương. Vào niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 19, Ông làm Khuê Phủ Tham Quân tại Quảng Lăng. Nhân lúc nghỉ phép nên Ông về quê. Vào đầu canh tư thì đi tới bờ sông, lúc đó sóng yên gió lặng nên Ông cho thuyền tiến ra giữa sông. Bỗng đâu gió nổi lên ào ào, vì trời vẫn còn tối đen như mực nên không biết phương hướng là đâu. Vạn Thọ vốn là Phật tử tín phụng Phật pháp nên lúc gặp nạn chỉ nhất tâm quy mạng Quán Thế Âm Bồ Tát, và chí thành niệm danh hiệu Ngài không gián đoạn. Trong chốc lát, Ông và những người trên thuyền đồng thấy bờ phía Bắc có ánh sáng như đèn lửa trong xóm làng nên ai nấy đều cố chèo thuyền đến hướng đó, lúc đến nơi thì trời vẫn còn chưa sáng. Người trên thuyền hỏi thăm dân địa phương về những ngọn đèn lửa kia thì ai cũng bảo giữa đêm hôm giông bão thì làm gì có đèn lửa như vậy. Lúc bấy giờ mọi người trên thuyền mới hiểu đã may mắn thoát chết nhờ lòng Đại từ Đại bi của Bồ tát minh gia thị hiện để cứu độ cho mình thoát nạn. (Trích Minh Tường Ký).

9. Triều nhà Lương có thầy Thích Pháp Hiển người họ Cung ở Bình Dương. Triều nhà Tấn, niên hiệu Long An, Thầy cùng với bạn học là Huệ Cảnh lập chí nguyện đi Tây Vực thỉnh kinh. Bắt đầu từ Trường An, họ trải qua không biết bao nhiêu nguy hiểm, vì trên đường đi phải băng qua các bãi sa mạc rộng lớn. Sau khi đến nước Thiên Trúc, thỉnh được các Kinh Luật thì họ quá giang thuyền lớn của các thương nhân theo đường biển mà về, số người trên thuyền này ước chừng hai trăm người. Đi được vài ngày thì một hôm, thuyền bỗng gặp cuồng phong nổi dậy, nước biển sắp tràn vào thuyền nên mọi người hoảng sợ ném bớt đồ xuống biển. Thầy Pháp Hiển sợ họ lấy Kinh Luật của Thầy quăng xuống biển nên chí tâm xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, cầu xin Ngài minh gia. Kỳ diệu thay, sau đó thuyền ấy mặc dù gặp gió to sóng lớn vẫn an nhiên lướt tới không bị mảy may thương tổn. Trải qua hơn mười ngày, thuyền đến nước Gia Bà Đề, mọi người tạm trú tại đó năm tháng và sau đó tiếp tục cuộc hải trình về Đông Độ và đến thẳng Quảng châu an toàn. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 1).

10. Triều nhà Đường có thầy Thích Đạo Hiển sống ở chùa Thánh Thiện. Trong niên hiệu Khai Nguyên, Thầy làm trụ trì chùa Đại Vân, tỉnh Giang Châu. Bấy giờ có quan Thứ Sử Nguyên Mổ, phát nguyện muốn họa bảy bức tượng Quán Thế Âm nên đem việc ấy nhờ Thầy Thích Đạo Hiển giúp dùm. Nhận trách nhiệm này nên thầy Đạo Hiển bảo họa sĩ phải trì trai thanh khiết khi vẽ tượng. Lúc họa tượng phải dùng toàn nhủ đào hương thay thế cho a dao để làm vật liệu trộn vào các màu khi tô vẽ. Khi họa xong thì bảy bức họa này thật trang nghiêm và vô cùng đẹp đẽ. Công việc đã xong nên Thầy đi đến Dự Ninh để đốn gỗ mang về để kiến tạo Văn thù Đường. Khi đốn gỗ xong chất lên bè để chở về thì không may Thầy té xuống sông, lúc bấy giờ vì nước chảy quá xiết nên nước cuốn Thầy đi thật xa, đồng bạn không ai vớt Thầy kịp. Thầy Thích Đạo Hiển, lúc vừa té xuống sông thì liền xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm. Ngay lúc ấy bỗng nhiên Thầy thấy dưới làn nước có ánh sáng lạ, Thầy chuyên chú nhìn kỹ thì thấy bảy bức tượng Bồ tát đã họa hiện ra phía trước và đồng bảo Thầy: “Ngươi nên chí thành xưng niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì tai nạn nầy liền được thoát khỏi.” Thầy Đạo Hiển nhờ có ánh sáng chiếu rọi nên biết mình đang ở dưới lòng sông, trong lòng vô cùng lo sợ khó mà tránh khỏi cái chết nên tức thì vâng lời Bồ tát dạy, nhất tâm xưng niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Thầy vừa niệm đến câu thứ hai thì thấy bảy vị Bồ tát đồng nâng chân Thầy lên mặt nước, kỳ diệu là cả y áo và giầy dép vẫn không ướt chút nào. Chổ Thầy bị nạn cách bè gỗ hơn bốn mươi dặm nhưng nhờ từ lực của Bồ Tát cứu mạng đã đưa kịp Thầy trở lại với bè cây. Thầy Thích Đạo Hiển về sau viên tịch vào niên hiệu Thiên Bảo năm đầu. Hiện nay tại chùa Đại Vân ở Giang Châu vẫn còn thờ bảy bức tượng của Bồ tát, ngoài ra còn có bức họa kể lại sự việc Thầy Thích Đạo Hiển té nước thoát chết được lưu truyền để khuyến hóa mọi người nhất tâm hướng về Quan Âm Đại Sĩ để được nhiều lợi lạc. (Trích Quảng Dị Ký).

11. Triều nhà Đường có Phật tử là Sầm Văn Bổn tự Cảnh Nhơn, là người ở Kinh Dương. Ông phát tâm tín hướng Phật pháp từ khi còn nhỏ. Hàng ngày Ông đều thành kính trì tụng Phẩm Phổ Môn. Có lần Ông đi thuyền đến Ngô Giang, tỉnh Giang Tô, đến giữa dòng thì thuyền bị sóng đánh lật úp. Mọi người trên thuyền đều bị chết chìm, Văn Bổn cũng bị chìm trong nước nhưng ngay lúc ấy bỗng nghe có người bảo rằng: “Nhà ngươi thường ngày thành kính trì tụng Phẩm Phổ Môn nên sẽ được qua khỏi nạn tai này”. Ông nghe ba lần như thế thì thấy thân mình như có ai đẩy lên, nổi trên mặt nước và chỉ trong chốc lát thì đã thấy đến bờ. Sau đó, Ông trở về nhà, thiết lập trai đàn cúng dường chư Tăng. Trong số chư Tăng ấy có một vị đi sau cùng bảo với Ông rằng: “Chính lúc thiên hạ rối loạn, riêng Ông nương nhờ thiện duyên phước đức mà được tai qua nạn khỏi, sau này sẽ gặp cảnh thái bình, hưởng phú quý hiển vinh”. Nói mấy lời ấy xong thì vị Tăng ấy không thấy đâu nữa. Sau khi lễ trai tăng xong thì Phật tử Văn Bổn nhìn thấy có hai hạt xá lợi ở trong chiếc bình bát của vị Tăng ấy để lại. Về sau ông làm quan đến chức Trung thư Lệnh cũng vào thời triều nhà Đường. (Trích Phật Tổ thống ký).

12. Triều nhà Đường có Ngài Bất Không Tam Tạng Pháp sư, vốn thuộc dòng Bà La Môn, nước Thiên Trúc. Một lần nọ, Ngài quá giang thuyền đến Nam hải, đi giữa đường thì gặp cuồng phong nổi dậy, sóng nhồi rất lớn. Các thương nhân đều kinh sợ nên mỗi người đều theo tín ngưỡng của mình mà xưng niệm vị giáo chủ của họ, nhiều vị còn tác pháp theo các tôn giáo mà họ đang tín ngưỡng, nhưng tất cả đều không hiệu nghiệm. Sóng gió mỗi lúc một dữ dội nên mọi người bèn quay sang Pháp sư lễ bái cầu xin cứu độ. Pháp sư điềm tỉnh an ủi: “Quý vị đừng lo, Tôi hiện nay có một phương pháp có thể giúp quý vị thoát nạn”. Dứt lời, Pháp sư dùng tay mặt cầm bảo xử ngũ cổ bồ đề tâm, tay trái cầm quyển kinh Bát nhã, Ngài tụng Thần chú Đại bi của Đức Quán Thế Âm một biến, tức thì gió lặng sóng yên; nhưng lúc ấy bỗng có một con đại kình ngư từ dưới biển nổi lên mặt nước, phun ra những đợt sóng nước cao như núi, đập vào mạn thuyền. Tình hình lúc này còn nguy hiểm gấp vạn lần so với nạn trước, các thương nhân chỉ còn biết phó thác sinh mạng vào Pháp sư nên đồng nhất tâm hướng về Pháp sư xin cứu nạn, Pháp sư cũng thực hành theo cách như trên, Ngài lại bảo thầy Huệ Biện, vị thị giả đi theo Pháp sư tụng Kinh “Ta Yết Long Quảng” thì mọi cơn sóng đều tan biến, tại nạn liền qua khỏi, cả đoàn thuyền nhờ đó đều được bình an vô sự. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 3).

13. Thời nhà Tống, triều Vua Huy Tôn, vào niên hiệu Sùng Ninh, có quan Hộ Bộ Thị lang Lưu Đại cùng với quan Cấp sự Trung Ngô Thực đồng đi sứ đến nước Cao Ly. Khi trở về bổn quốc, họ phải đi ngang qua các ngọn núi và đảo suốt bốn ngày đêm, lúc ấy nhằm lúc tiết trời âm u, trăng mờ vì mây che phủ, cảnh trời đen tối không phân biệt được hướng Đông Tây nên Lưu Đại vô cùng sợ hãi. Ông bèn hướng về Phổ Đà Bảo Sơn thành kính xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm Đại Sĩ, bỗng nhiên thần quang xuất hiện, soi khắp mặt biển rõ bốn phía như lúc ban ngày và cũng thấy rõ Phổ Đà Bảo Sơn. Mọi người nhờ đó được đi đến bờ an toàn vô sự. (Trích Phổ Đà Sơn chí).

14. Triều nhà Tống, thân mẫu của Ngài Từ Hy Tải là Trình Thị, vốn là một Phật tử thành kính Tam bảo, trong nhà lại thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát rất thành kính. Niên hiệu Thiên Hưng năm thứ 4 nhà Tống, Hy Tải có duyên sự đi xa dẫn theo hai người con, đến nghỉ trọ tại nhà của Bành Đại Nhậm. Trên đường về thì gặp lúc mưa to gió lớn, sóng cao như núi nên thuyền Ông không thể nào tiến vào bờ được, chòng chành sắp đắm. Hy Tải chẳng biết làm sao nên lập tức kêu gọi những người có mặt trên thuyền đồng thanh xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát. Chỉ trong chốc lát, mọi người bỗng nhìn thấy một gốc cây dâu vô cùng to lớn trôi đến trước mặt nên gắng sức kéo gốc cây ấy cặp sát vào thuyền và dùng dây buộc thuyền vào gốc cây dâu ấy, để nương theo gốc cây mà thuyền giữ được thăng bằng trước sức mạnh của gió bão. Đến lúc trời sáng thì tất cả mọi người đều thấy họ đang ở trên bãi cát an toàn, còn gốc cây dâu to đêm qua thì biến đâu mất không thấy nữa. Lúc Hy Tải vừa về đến nhà, mẫu thân của Ông mừng rỡ ra đón. Bà mĩm cười nói rằng: “Đêm qua Mẹ nằm mộng thấy có bà già dắt tay cha con tụi bây về thăm Mẹ, quả nhiên là y như trong mộng”. Khi ấy, Hy Tải nghiệm ra mới biết họ được thoát nạn là nhờ vào thần lực bất tư nghì của Quan Âm Bồ Tát. (Trích Dị Kiên Chí).

15. Triều nhà Minh có một đồng tử họ Tảo, người tỉnh Giang Nam. Đồng tử này phát tâm quy y Tam bảo từ lúc nhỏ và rất nghiêm trì giới luật, từng phát nguyện xả thân cúng dường Phật. Có bao nhiêu tiền của, thường đem bố thí cho người nghèo cùng, đói khát trong xóm làng. Vào niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, tháng hai năm Canh Tuất, đồng tử theo Trang Trưởng Lão đến núi Phổ Đà chiêm bái cúng dường Đại Sĩ. Khi đến núi Mai Sầm là nơi khách hành hương đều ghé lại để chiêm bái kim dung của Quán Thế Âm Bồ Tát, đồng tử đối trước pháp tòa của Bồ tát ngự, phát thệ nguyện xả thân cúng dường để báo thâm ân của Phật. Sau đó, khi thuyền ra cửa biển đến Liên Hoa Dương thì bỗng nhiên gió to sóng lớn nổi lên đùng đùng, Đồng tử chấp tay, ngước mặt lên không trung, miệng xưng Phật hiệu rồi nhảy xuống giữa muôn ngàn sóng để mãn với thệ nguyện đã phát. Trang Trưởng Lão sau khi trở về nhà, chọn ngày để mời chư Tăng tụng kinh bái Sám, làm lễ siêu độ cho đồng tử. Đến tháng bảy năm đó thì Đồng tử bổng xuất hiện tại chổ ở của Trang Trưởng Lão ai nấy đều kinh ngạc vì không tin là Đồng tử còn sống. Lúc ấy, Đồng tử thuật lại những điều đã xảy ra cho mọi người nghe. Khi vừa nhảy xuống Liên Hoa Dương thì đồng tử bỗng thấy ở phía dưới biển, cách mình chừng vài bước chân có một vị Hồ tăng đang chèo một chiếc bè ván đến chổ đồng tử xả thân bảo rằng: “Thầy đến đây để độ con”. Dứt lời, vị Tăng ấy kéo đồng tử lên bè, chiếc bè chèo đi nhanh như ngựa phi, chẳng mấy chốc bè đã đến bãi cát ở vùng Châu Sơn. Vị Tăng ấy dắt đồng tử vào nhà một ngư ông xin nghỉ trọ. Sau đó, vị Tăng ấy bỗng nhiên biến mất. Mọi người trong nhà ông lão dò hỏi nguyên nhân thì đồng tử thuật lại việc đã xảy ra. Ai nghe xong cũng đều ngợi khen cho là việc chưa từng có. Lúc ấy mới biết vị Tăng ấy chính là Quan Âm Bồ tát từ bi ứng hiện để cứu đồng tử. Sáng ngày hôm sau, ngư ông dẫn đồng tử đến chùa Trấn Hải ở Châu Sơn. Đồng tử cầu xin thầy trụ trì chùa ấy làm lễ thế phát và dạy cho học tập các Kinh Chú. Khi đồng tử quay trở lại cố hương, Đồng tử có vào trong một ngôi Tịnh thất xin tá túc, nhưng vị Sư trong ấy không bằng lòng nên bèn tìm hỏi nơi ở của Trang Trưởng Lão xin nghỉ trọ. Trang Trưởng Lão sau khi nghe Đồng tử thuật lại mọi việc thì rất cảm động nên mời Đồng tử ở lại gia trang vài ngày ngơi nghĩ rồi dắt về nhà cha mẹ đồng tử. Cha mẹ Đồng tử gặp lại con thì vui mừng khôn xiết, hết lòng cảm tạ Trang Trưởng Lão và thành tâm kính ngưỡng thần lực cứu độ của Quan Thế Âm Bồ Tát. Sự tích Bồ Tát ứng hiện cứu khổ trên đã làm cho mọi người Tăng tục thời ấy đều nhất tâm quy hướng về Quán Âm Đại sĩ rất đông. (Trích Quán Viên bút ký).

16. Triều nhà Minh có Lưu Cắt Hiền là quan Tả Vệ Quân, thống lĩnh ngàn quân ở Tỉnh Trực Lệ. Ông cùng với quan Thái Giám Trịnh Hòa đi sứ ở các nước phiên bang. Khi thuyền đang đi trên biển thì Lưu Tả Quân trượt chân té xuống biển, bấy giờ nhằm lúc buồm đang tuân theo hướng gió nên thuyền chạy rất nhanh, quân sĩ trên thuyền không thể nào cứu được. Quan Thái Giám Trịnh Hòa chỉ còn biết sai quân sĩ leo lên cột buồm để xem xét tình hình thì quân sĩ báo lại chỉ thấy phía sau ở đằng xa dáng một người lúc ẩn lúc hiện trong các đợt sóng, cách thuyền đang chạy vài mươi dặm. Tất cả mọi người trên thuyền đều bảo nhau Lưu Tả Vệ Quân khó lòng qua được. Nhưng chỉ trong chốc lát thì thấy Lưu Tả Vệ Quân đã đuổi theo kịp chiếc thuyền. Quan Thái Giám Trịnh Hòa cùng tất cả người trên thuyền đều vui mừng khôn tả, lấy đồ tiếp cứu để đưa Tướng quân lên thuyền. Điều ngạc nhiên là thấy có một con cá lớn dài gần hơn hai trượng, thong thả bơi quanh mạn thuyền. Ai nấy đều xúm nhau hỏi thăm thì lúc ấy Lưu Tả Vệ Quân bèn kể lại: lúc Ông bị rớt xuống biển, nhờ có cá Ông này đỡ lên. Mấy lần bị chìm, đều nhờ cá Ông dùng vi nâng lên không cho chìm xuống, nhờ vậy mà nước không vào miệng. Sau đó, cá Ông lại chở Ông đuổi theo chiếc thuyền. Mọi người trên thuyền nghe nói đều kinh ngạc tán thán và hỏi Lưu Tả Vệ Quân: “Bình sanh Ngài tu tập thiện hạnh gì mà được quả báo tốt đẹp như vậy?“ Lưu tả Vệ Quân đáp: “Tôi chưa tu được thiện hạnh gì cả, từ lúc chưa ra làm quan cho đến nay, hàng ngày chỉ thành tâm lễ niệm Quán Âm Đại Sĩ và tụng kinh Phổ Môn thế thôi.” (Trích Thiện Dũ Đường Thừa Bút).

17. Triều nhà Minh, thầy Thích Hoàng Tế, tự Đồng Chu, hiệu Thiên Ngạn, là người ở Du Giao, tỉnh Chiết Giang. Thầy xuất gia từ lúc ấu thơ và thường tu các Sám pháp, tụng Kinh Pháp hoa, Kim Quang Minh, v.v… và cảm được nhiều thần dị. Vào niên hiệu Thái Định, năm đầu nhà Nguyên, Thầy làm trụ trì chùa Viên Giác ở Vạn Thọ. Một hôm, tại chổ Thầy ở, bờ biển bị sạt lở nên nước biển tràn vào phá hoại nhà cửa hoa màu, dân chúng miền biển đều vô cùng buồn rầu lo sợ vì mạng sống bị đe dọa. Lúc ấy, quan Thừa Tướng Thoát Sái trông thấy dân chúng bị nạn như vậy nên hết sức lo buồn. Ông đích thân đến chùa Viên Giác, lễ bái và thỉnh thầy Thích Hoàng Tế đến trước đài Quán Âm Đại Sĩ ở Thượng Trúc lễ bái cầu nguyện. Đồng thời, Ông cũng cho người đến nơi bờ biển, kiến lập thủy lục đàn trai, thỉnh thầy Thích Hoàng Tế đến đó cầu nguyện. Thầy Thích Hoàng Tế nhập từ tâm tam muội, lấy cát trì tụng Thần chú đại bi, gia bị vào trong ấy, rồi Thầy cùng với quan quân và dân chúng đi rải cát ấy vào những chổ bị sạt lở. Linh nghiệm thay khi dấu chân Thầy bước đến đâu thì bờ biển lập tức ngưng sạt lở, đất trở nên kiên cố, nước không tràn vào bờ được nữa. Quan dân đương thời đều kính phục đức hạnh của Thầy và xem Thầy như một vị Phật sống. (Trích Cao Tăng truyện- Tập 4).

18. Triều nhà Minh, Tăng chúng trong chùa Nam Đài ở Phước Châu có đắp một pho tượng Quán Âm mới để thờ, họ tính đem pho tượng cũ đi hủy phá thì thợ đúc tượng là Lâm Ông thấy vậy bèn xin đem tượng này về nhà để thờ, ngày đêm Ông lễ niệm rất thành kính. Vài tháng sau, Lâm Ông có việc đi thuyền ra biển, chẳng may thuyền đụng phải đá ngầm nên bị chìm. Trong giây phút nguy cấp ấy, Lâm Ông bèn lớn tiếng xưng niệm: “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, con đã từng cứu Bồ tát, giờ phút này con bị hiểm nạn, Bồ Tát nở nào không cứu con”. Vừa dứt lời thì thấy thân mình tự nổi lên mặt nước, lại gặp một miếng ván lớn nên trèo lên ngồi trên tấm ván ấy, mặc dù sóng to nhưng Lâm Ông vẫn ngồi yên ổn trên miếng ván ấy. Nó trôi được chừng trăm dặm thì theo dòng nước đi vào một cái rạch nhỏ, bất ngờ Lâm Ông lại gặp một chiếc rương nhỏ đang trôi lềnh bềnh trước mắt. Lâm Ông vớt chiếc rương ấy lên, khi mở ra thì thấy có nhiều vàng bạc và đồ quí trong ấy, Lâm Ông vui mừng vô hạn, tự nghĩ Bồ tát đã cứu mình khỏi nạn, lại còn ban cho tài bảo để sinh sống. Từ ấy, Lâm Ông từ bỏ chuyện thế tục, một lòng chuyên nhất tu hành. (Trích Thiện Dũ Đường Thừa Bút).

19. Triều nhà Thanh, ông Phan Quốc Chương là người ở Thuận Đức, tỉnh Quảng Châu, là một Phật tử phát tâm quy hướng Tam Bảo từ lâu. Một ngày nọ, Ông đi buôn ở Đoan Châu. Trên đường về quê, lúc bấy giờ là năm Bính Tuất, thuyền Ông đến sông Tam Thủy thì gặp lúc gió to sóng lớn nên thuyền bị lập úp. Quốc Chương lúc ấy nhất tâm thành kính xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm Đại Sĩ. Vì không biết bơi nên khi thuyền lật úp, Ông bị chìm xuống dưới đáy biển lớn mênh mông nhưng Ông vẫn thành kính mặc niệm Thánh hiệu Đức Quan Âm. Trong giây lát Ông bỗng thấy mình đến bãi cát trên bờ, các thứ hành trang Ông mang theo vẫn còn ở trong tay, quay đầu nhìn lại mới biết là mình vừa từ trong những đợt sóng cao ngất giữa biển đi ra. Sau khi thoát nạn, Quốc Chương xuất gia và đến núi Nhật Thân, chuyên tu Tịnh nghiệp, cầu xin vãng sanh Tây phương Cực lạc. Ông tự lấy hiệu là Huyền Cầu. (Trích Quán Âm Từ Lâm tập).

20. Triều nhà Thanh có Phật tử Bành Nhứt Thừa, người ở Nam Hải Phật Sơn, tỉnh Quảng Châu. Ông phát tâm quy y thọ giới từ lúc nhỏ. Hàng ngày Ông tụng kinh niệm Phật, phụng trì pháp lục trai mỗi tháng. Niên hiệu Khang Hy nhà Thanh, vào lúc tháng Chạp năm Đinh Mùi, trên đường từ Quảng châu về nhà, Nhứt Thừa cùng với năm người bạn đi trên một chiếc thuyền. Giữa đường thì gặp cuồng phong nổi lên, sóng biển dâng cao nên thuyền bị lật úp chìm. Năm người kia đều là những người bơi giỏi nên bơi được vào bờ thoát chết, chỉ duy Nhứt Thừa bị kẹt trong lòng ghe lật úp, không thể nào thoát ra được. Trong tình thế nguy hiểm muôn phần này, Ông nhất tâm thành kính niệm Thánh hiệu Quán Âm Đại Sĩ. Dù lúc bấy giờ, Ông đã bị nước biển tràn vào miệng, uống đầy nửa bụng, nhưng tâm Ông vẫn giữ Thánh hiệu Bồ Tát. Lúc ấy, bỗng nhiên Ông cảm thấy có người nắm tay kéo lên mặt nước, chiếc thuyền lật trở lại và trương buồm lên, Ông được đặt vào trong thuyền. Chiếc thuyền theo hướng gió thuận chiều, tiến vào bờ an toàn. Sau khi lên bờ, những người trên bờ đều gạn hỏi Nhứt Thừa: “Khi nãy chúng tôi trông thấy có người mặc bạch y vác tấm buồm ngồi trên thuyền, trương buồm lên cho thuyền đi, sao giờ chỉ thấy có mình ông, người ấy còn ở dưới thuyền hay bị chết chìm rồi? “Nhứt Thừa đáp: “Không có người nào hết, chỉ có mình tôi thôi. Chính trong lúc tôi sắp bị chết chìm thì cảm thấy hình như có ai đó đã cứu tôi, để vào trong thuyền, sau đó tôi hoàn toàn không biết vì sao thuyền có thể vào bờ được.” Mọi người vẫn hoài nghi, gạn hỏi Thừa hai, ba lần thì Thừa đều đáp như vậy. Lúc ấy, Ông mới biết người mặc bạch y cứu Ông thoát nạn chính là Đại Sĩ hiện thân cứu độ. Sau khi thoát nạn, Ông đã tự ghi lại việc này và in thành sách để lưu truyền trong nhân gian. (Trích Quán Âm Từ Lâm tập).

21. Triều nhà Thanh, Lưu Thổ Sơn là người xứ Mạc Lang. Mẫu thân của Ông lúc bốn mươi tám tuổi vẫn chưa có con nên bà đi chùa lễ bái cầu đảo, sau đó có thai sanh ra Thổ Sơn. Vừa sinh ra, Ông đã không chịu bú sữa Mẹ do mẫu thân dùng thức ăn huyết nhục, người nhà chỉ dùng nước cháo bột đậu xanh nuôi Ông lớn, lúc biết ăn thì bắt đầu ăn chay cho đến lớn. Đến năm Kỷ Sửu, họ Lưu đi Nam Hải để chiêm bái cúng dường Đại Sĩ. Khi ở trên thuyền, Ông phát nguyện cầu xin được thấy Quán Thế Âm Bồ Tát. Sau khi phát nguyện xong thì liền thấy trên mặt biển có hai đóa sen lớn như bánh xe, một đóa sen có đồng nam đứng, trong đóa sen kia thì lại thấy đồng nữ đứng, cả hai đều đứng chấp tay. Tiếp đó, Ông lại thấy Đại sĩ đang ngồi trên đóa sen rất lớn. Lưu tập lức cúi đầu lễ bái. Khi vừa đứng dậy ngước mặt xem thì Bồ tát cùng với hoa sen đều không thấy, đồng nam và đồng nữ cũng chẳng còn. Đi được một lúc thì sóng to gió lớn nổi lên ầm ầm nên chiếc thuyền bị lật úp. Lưu vừa rơi xuống biển thì thấy trước mắt mình vẫn thông suốt, không bị ngạt và ngộp nước. Lúc ấy Ông thấy có một vị Tăng nắm tay Ông dắt đi, trong chốc lát đã thấy đến trước cửa nhà mình, y phục vẫn khô ráo. Khi ngoảnh lại thì vị Tăng không còn nữa. Mẫu thân nhìn thấy Ông nên vội vàng ra đón, Lưu lúc bấy giờ vẫn như người say trong mộng, ngơ ngơ ngác ngác. Mẫu thân của Ông bèn dùng nước trà cho uống thì Thổ Sơn mới tỉnh lại. Sau khi tỉnh lại Ông thuật rõ cho Mẹ nghe mọi việc khi bị nạn, Ông và mẹ Ông đều tin chắc rằng vị Tăng kia chính là Quán Âm Bồ Tát đã thùy từ cứu hộ. (Trích Đường Nghi Chi Ký Kỳ Thơ).

22. Triều nhà Thanh có người tên Diệp Mai sanh là người ở huyện Mai Phong, tỉnh Giang Tây, từng thuật lại việc của người chú vợ là Trần Đình Dục như sau: Đình Dục là người có tín tâm Phật Pháp, lại thờ Quán Âm Đại Sĩ rất thành kính. Hàng ngày đều tụng chú Đại bi, dù bận rộn cách nào cũng không bỏ sót. Niên hiệu Đạo Quan nhà Thanh, vào lúc mùa Thu năm Quý Tỵ, Đình Dục nhậm chức Quận Ty Mã. Một hôm, Ông có việc đi từ Hàn Giang vào Kinh Đô theo đường thủy, lúc ấy do tiết trời mát mẻ Ông bèn ra trước mũi thuyền ngắm phong cảnh không may là gặp nhằm lúc người lái thuyền sửa buồm theo hướng gió, rủi ro đụng vào Đình Dục làm Ông mất thăng bằng, sẩy chân té xuống sông, Lúc bấy giờ vì gió thổi quá mạnh, thuyền theo hướng gió lao về trước, chỉ trong nháy mắt đã cách chổ Ông rơi xuống nước cả dặm. Đình Dục khi té xuống nước thì nhìn thấy sóng trắng xóa như tuyết, nhưng thật lạ lùng, nước chỉ đến đầu gối Ông mà thôi, dưới chân Ông hình như có vật gì nâng đỡ rất vững nên Ông không bị chìm mà cũng không lay động nghiêng ngã, chỉ có y phục Ông bay phất phới trên mặt nước mà thôi. Lúc bấy giờ Ông thành tâm trì tụng Chú Đại bi, chưa đầy ba biến thì liền có người thấy, đến tiếp cứu đưa Ông vào bờ. (Trích Thường Túc Am Tùy Bút).

23. Triều nhà Thanh, niên hiệu Khang Hy năm thứ hai có một ngư dân sống tại một miền duyên hải. Môt đêm nọ, Anh cho ghe đánh cá đậu dưới chân một ngọn núi nhỏ, đang mơ màng ngủ thì nghe Sơn thần bảo thuộc hạ rằng: “Sáng ngày sẽ có ghe muối đi ngang qua đây, tụi bây phải để ý và bắt họ lại”. Đến sáng, quả nhiên anh ngư dân thấy có ghe muối trương buồm theo gió chạy ngang qua núi ấy. Vừa lúc ấy thì cuồng phong nổi lên làm cho sóng nhồi rất dữ đội, nhưng lạ thay chiếc ghe muối mấy lần sắp bị lật úp nhưng một hồi lâu vẫn bình yên. Cuối cùng, cuồng phong không đánh úp được chiếc thuyền và nó vượt qua nơi ấy một cách an toàn. Đêm ấy, anh ngư dân vẫn cho ghe mình đậu ở chổ cũ, nửa khuya Anh đang ngủ thì nghe Sơn thần lớn tiếng quở trách thuộc hạ vì sao trái lệnh Ông, không đánh đắm chiếc thuyền chở muối thì thuộc hạ liền đáp: “Chúng tôi đã vâng theo lệnh của đại thần nhưng lúc làm cho cuồng giông, sóng gió nổi lên, định bắt chiếc ghe muối thì thấy phía sau ghe có Quán Âm Đại Sĩ nên không dám đến gần.” Qua ngày hôm sau, người đánh cá bèn đi tìm ghe muối hôm trước để hỏi cho biết thực hư thì người trong ghe muối cho biết là không ai đứng phía sau ghe ngoài người cầm lái. Người này trì trai đã lâu năm và hàng ngày đều lễ bái phụng thờ Quán Thế Âm rất thành kính. (Trích Vạn Thiện Tiên Tự).

24. Triều nhà Thanh, Trình Chiêu người ở huyện Phù Lương, tỉnh Giang Tây, là một bậc hiếu liêm (danh từ hiếu liêm có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là người có học hạnh do các quan địa phương tiến cử về triều làm quan, nghĩa thứ hai là cách gọi các Cử nhơn đời nhà Minh và nhà Thanh). Trình Chiêu mắc bệnh sốt rét lâu năm nhưng chạy chữa không khỏi nên Ông thành tâm phát nguyện nhất tâm trì tụng Bát nhã Tâm Kinh. Sau một thời gian thì chứng bệnh của Ông liền khỏi hẳn, nhưng ông vẫn mai chiều mặc niệm không gián đoạn. Niên hiệu Đạo Quan, năm Quý Tỵ, Ông vào kinh đô thi Cử nhân thì bị hỏng. Trên đường về, khi ghe Ông đến sông lớn thì sóng to gió lớn nổi lên nên ghe bị lật úp. Trình Chiêu trôi nổi theo chiếc ghe hơn 10 dặm, trong lúc hốt hoảng, Ông chí thành trì niệm Tâm kinh và ôm được bánh lái của chiếc ghe bị úp. Trong phút chốc, Ông cảm thấy như có vật gì đó nâng chân Ông lên nên Ông lấy hết sức trèo lên bánh lái, ngồi yên trên đó. Một lúc sau thì nghe có tiếng nói từ trong bờ nên gọi người đến tiếp cứu, nhờ vậy mà Ông được lên bờ an ổn vô sự. (Trích Hải nam Nhứt chước).

25. Tại tỉnh Giang Ninh có Phật tử tên Phương Đoan, nhạc mẫu của Ông là Trang Thị, thường ngày hay qua nhà con gái và con rễ để trì tụng Kinh Phổ Môn, xong việc rồi thì về. Do nhà của Bà, chồng và con trai đều không tin Phật pháp, nên Bà thường rủ các con gái cùng với mình mỗi tối đến tụng kinh tại nhà con rễ. Một thời gian sau, gặp lúc quân triều đình trên đường nam chinh, chúng đi ngang qua xóm ấy vào từng nhà dân vơ vét tài vật. Khi các binh sĩ xông vào nhà Phương Đoan, các cô gái vì sợ bị làm nhục nên đồng nhau nhảy xuống sông tự tử, nhưng lạ thay không một ai bị chìm, họ đều nổi trên mặt nước và trôi dạt vào một bãi cát. Còn bọn lính sau khi đã vơ vét tài sản của dân chúng, đem chất xuống ghe. Ngay đêm ấy, giông bão nổi lên đánh chìm tất cả tài sản chúng đã cướp được, riêng bọn chúng nhờ biết bơi nên không bị chết đuối. (Trích Kinh Tín Lục).

26. Tại huyện Đông Đoài có một bà lão họ Phương đã ngoài 60 tuổi. Một hôm, bà bồng cháu xuống thuyền để qua sông thì trượt chân tên cầu té xuống nước. Nước sông lúc ấy chảy xiết nhưng điều lạ lùng là mọi người nhìn thấy bà lão bồng đứa cháu vẫn đứng trên mặt nước như đứng trên mặt đất, không bị chìm. Mọi người đều vội vã cho ghe đến tiếp cứu hai bà cháu lên bờ. Khi đưa Bà và cháu bé lên bờ, ai cũng ngạc nhiên, gạn hỏi nguyên do làm sao mà Bà không bị chìm thì Bà lão cho biết: “Tôi vẫn không biết gì là tai nạn nguy hiểm đang xảy ra chỉ vì lúc đó Tôi đang mãi chuyên tâm trì niệm Thánh hiệu Đức Quán Âm”. Bà lão cũng cho biết trong lúc hàng ngày, Bà đều trì niệm Danh hiệu đức Quan Âm và thời gian trì niệm đã lâu năm nên đã trở nên thói quen thuần thục, do đó lúc bị nạn, Bà tin chắc rằng Bà đã được Bồ tát thùy từ gia hộ. Sự việc này do Huệ Sơn Hòa thượng ở chùa Tây Thiên, xứ Kim Lăng thuật lại. (Trích Quán Thế Âm trì Niệm ký).

27. Triều nhà Tấn có người tên là Trúc Tường Thư, gốc ở xứ Thiên Trúc nhưng lập nghiệp sinh sống ở Ngô Trung đã lâu năm. Hàng ngày Ông chuyên tâm trì tụng Kinh Phổ Môn. Một hôm, có nhà hàng xóm bị hỏa hoạn nên các nhà tiếp nhau đều bị cháy, Tường Thư lúc ấy nhất tâm trì niệm, cầu xin Quán Âm Đại Sĩ minh gia cứu độ. Túp lều tranh của Tường Thư ở ngay hướng gió, nhưng khi ngọn lửa sắp đến gần thì gió bỗng nhiên chuyển hướng nên nhà Ông vẫn nguyên vẹn. Vào thời đó, dân chúng toàn huyện nghe câu chuyện này đều lấy làm lạ và ngợi khen là việc chưa từng có. Trong số những người nghe chuyện, có một thiếu niên nghe mọi người tán thán sự linh nghiệm của Đại Sĩ Quan Âm thì rất ghét vì Anh không tin Phật pháp. Đêm đến, chờ đến lúc gió mạnh, Anh ta bèn phóng lửa ném vào nóc nhà Tường Thư, nhưng khi củi chạm vào nóc nhà thì ngọn lửa tắt lịm, ném đến lần thứ tư, củi vẫn tắt, không cháy được. Lúc này thiếu niên này thấy kinh ngạc và rất ân hận vì việc làm đầy tội lổi của mình, nên liền đến trước mặt Tường Thư cúi đầu nhận tội sám hối. Thiếu niên này bèn hỏi: “Ông có thần lực chi mà cả bốn lần Tôi cố ý đốt nhà Ông, lửa đều bị dập tắt?” Tường Thư thành thật đáp: “Tôi không có thần lực gì cả, chỉ là do hàng ngày thành kính trì niệm Thánh hiệu của đức Quán Thế Âm mà thôi. Nhờ Bồ tát từ bi gia hộ, chẳng những không bị tai nạn hỏa hoạn mà mỗi khi có những tai nạn cấp bách gì thì cũng đều được bình an, thoát khổ.” (Trích Minh Tường Ký).

28. Đời Nguyên Ngụy có Thầy thích Pháp Lực muốn xây cất Tịnh xá ở tại Quận Lỗ để tu hành nhưng vì không đủ kinh phí và không có Phật tử ủng hộ nên Thầy cùng với một chú Sa di tên là Minh Thâm, thân hành đi đến Thượng Cốc. Hai thầy trò lưu lại ở lại đó trong một năm để xin chỉ gai đem về bán mà xây Tịnh xá. Công việc vừa kết thúc thì Thầy trò cùng nhau đi về. Trên đường về đi ngang qua một đầm hoang đầy cỏ lau, nhằm lúc mùa nắng nóng nên cỏ lau bốc cháy đúng lúc hai thầy trò đi qua. Do đường xa mệt nên hai thầy trò đều ngủ mê trên xe. Đến lúc lửa cháy đến gần mới choàng tỉnh thì lửa đã bao vây tứ phía. Ngay lúc ấy, Thầy bèn lớn tiếng xưng niệm Thánh hiệu của Đức Quán Âm. Vừa xướng đến chữ Quán chưa đến hai chữ Thế Âm thì gió liền đổi hướng và lửa tắt. Hai thầy trò được bình an vô sự về đến nơi.

LỜI BÌNH: Trong lúc tai nạn cấp bách mà được sự minh gia của Bồ tát như thế là do hàng ngày đã tin sâu và thường thành kính xưng niệm Thánh hiệu Bồ tát, công huân thuần thục nên mới cảm đến Đại sĩ như âm vang ứng tiếng như vậy. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 2).

29. Triều đại Dao Tần, thầy Thích Pháp Trí kể lại: lúc Thầy chưa xuất gia, từng một mình đến một khu đầm lớn. Lúc bấy giờ nhằm mùa khô nên người dân trong vùng đốt cỏ để trồng hoa màu. Khi thầy phát hiện thì thế lửa đã trở nên dữ dội, vì gió to nên bốn phía đều cháy mạnh, chẳng khác nào một trận cháy rừng. Thầy Pháp Trí lúc bấy giờ bị kẹt trong đám cháy, sanh mạng trăm phần nguy ngập nên trong lúc thập tử nhất sinh ấy, Thầy liền nhớ đến Đức Quan Âm Bồ Tát cứu khổ độ sanh bèn nhiếp tâm khẩn thiết trì niệm Thánh hiệu Quán Âm. Một lúc sau, bỗng nhiên lửa bắt đầu tắt. Khi lửa tắt hết thì Thầy nhận ra cây cỏ trong đầm đều bị thiêu rụi, chỉ có chổ Thầy ngồi là còn nguyên vẹn, không hề bị cháy. Sau khi thoát khỏi tai nạn này, Thầy liền phát tâm quy hướng Phật pháp, mặc dù còn tại gia nhưng vẫn luôn tinh tấn trì niệm danh hiệu Quan Âm Bồ Tát hàng ngày, không hề xao lãng. Một thời gian sau, Chúa Giao Hưng sai Thầy cầm quân đi dẹp loạn. Trong một trận tùng chinh, tự nhiên con ngựa của Thầy chạy lạc vào vòng vây của quân địch. Trong tình thế nguy cấp này, Thầy túng thế, vội ẩn mình trong một bụi gai bên dòng suối nhỏ. Tuy nhiên bụi gai này không rậm nên chỉ che được phần đầu và cổ của Thầy mà thôi. Trong giờ phút này, Thầy chỉ còn biết chí thành một lòng xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm, xin Ngài cứu mạng. Lúc ấy, một số người nhìn thấy Thầy núp trong bụi gai nên gọi binh sĩ đến chỉ chổ để bắt Thầy. Tuy nhiên khi binh sĩ đến chổ ấy tìm kiếm đều không thấy, tìm một hồi lâu không có kết quả, chúng bèn bỏ đi, nhờ đó mà Thầy thoát được tử nạn. Sau chuyến dẹp loạn ấy, Thầy xin từ quan và xuất gia tu hành. (Trích Minh Tường Ký).

30. Thiện Ấp và Mẹo Điền là hai địa phương thường bị hỏa hoạn, dân cư ở hai nơi ấy không ai thoát khỏi, duy chỉ có nhà của Ngưu Khải là không bị ảnh hưởng. Dân chúng do vậy thường bàn tán và lấy làm lạ về việc này. Về sau, một số người lân cận nhà họ Ngưu đến nơi để thăm dò, quan sát thì thấy mỗi lúc trong xóm bị hỏa hoạn, khi lửa dữ lan gần đến phía tả nhà Họ Ngưu kia thì bị tắt hẳn, nhiều lần hỏa hoạn xảy ra thì lần nào cũng như vậy nên người ta đến chái nhà đó để tìm kiếm nguyên nhân thì thấy trên gác chái nhà ấy có để những bản khắc Kinh Quán Âm từ rất lâu. Bấy giờ mọi người mới biết vì sao nhà Khải được thoát hỏa tai. Mọi người bèn quyên góp tiền của để mướn thợ khắc bản, in Kinh Quán Âm để trì tụng, nhiều người lại còn phát nguyện trường trai. Từ ấy về sau, hai địa phương nói trên tai nạn hỏa hoạn dứt hẳn không còn. (Trích Quán Âm Kinh cận nghiệm).

31. Tại Minh Huy, có người họ Uông ngụ ở Côn Sơn, đối diện với nhà Vương Trưởng lão. Người họ Uông này phát nguyện trì trai niệm Phật đã ba năm và dự định sẽ đến Phổ Đà Bảo sơn để chiêm bái cúng dường Đức Quan Âm Đại sĩ.

Vào ngày Nguyên Đán, ông sắm sửa hành trang xuống thuyền, bỗng nhiên hiệu buôn bên cạnh nhà Ông bị hỏa hoạn, người nhà vội đi tìm báo tin cho Ông biết và hối thúc phải trở về nhà gấp để lo phòng hỏa hoạn sẽ lan sang hiệu buôn của Ông. Người họ Uông bình tĩnh đáp: “Tôi đã trải qua ba năm chí thành nguyện trường trai niệm Phật, mong được đến Bảo Sơn cúng dường chiêm bái Bồ Tát, hôm nay đâu vì một cái tiệm mà thay đổi chí hướng. Tiệm cháy thì đành chịu, Tôi không thể về.” Nói rồi chiếc thuyền của Ông nhổ neo, trương buồm hướng về phía Hải Nam mà lướt sóng. Sau khi chiêm bái cúng dường Đại sĩ trở về Côn Sơn thì Ông thấy các hiệu buôn bốn phía quanh nhà Ông cùng với nhà Vương Trưởng lão đều thành một đống tro tàn đổ nát, duy chỉ có hiệu buôn của Ông vẫn còn nguyên vẹn. Dân chúng thời ấy đều truyền tụng câu chuyện này và tán thán là điều chưa từng có. (Trích Hiện quả tùy lục).

32. Triều nhà Thanh, Phật tử Thái Tư Nhương, phụng mạng triều đình thực hiện việc giám sát các tuyến vận tải đường thủy tại cửa sông Hoàng hà. Ông đến Giang Tây, một thị trấn nằm bên bờ sông Hoàng Hà thuê một dãy nhà lớn của dân địa phương để làm công sở. Dãy nhà này không có vách ngăn, bốn phía để trống, nằm liền kề với nhà dân chúng. Ngày 11 tháng 5, thị trấn Giang Tây bị hỏa hạn, tất cả các gia đình đều lo cứu hỏa và dời đồ vật ra ngoài. Trong lúc đó, Phật tử Tư Nhương vẫn ngồi yên bất động. Gia nhân thấy vậy rất sợ hãi, đã mấy lần đến thỉnh xin Ông ra ngoài tránh nạn lửa nhưng Ông không nao núng và không ra khỏi chổ Ông ngồi. Ngọn lửa càng lúc càng dữ dội, lan sang các nơi bên cạnh và thiêu cháy các nóc nhà sát chổ của Tư Nhương. Tuy nhiên có điều rất lạ là khi lửa đến nơi nóc nhà của Tư Nhương thì lướt qua khu nhà này và tiếp tục thiêu hủy mấy nóc nhà kế tiếp rồi mới tắt. Dân chúng xung quanh thấy ly kỳ bèn gạn hỏi: “Ngài có pháp thuật chi mà được như vậy?” Tư Nhương đáp: “Tôi hoàn toàn không có pháp thuật chi cả. Lúc lửa cháy dữ dội, chỉ kiền thành trì tụng Chú Đại bi của Quán Thế Âm Bồ tát để cầu xin Ngài cứu độ cho qua nạn lửa mà thôi.” Có một người nghe xong bèn nói: “Thần chú của Phật linh hiển là lẽ dĩ nhiên, chúng tôi không bao giờ dám phủ nhận nhưng chúng tôi thấy bao nhiêu người trì tụng mà trong muôn người thì không có được lấy một người cảm được sự linh ứng. Vậy mà Ngài dám cả gan ở trong biển lửa, ngồi yên bất động, đây chẳng phải là việc hy sinh thân mạng một cách oan uổng hay sao? Phật tử Tư Nhương lại ôn hòa giải thích: “Quý vị nói đúng. Gia đình tôi từ thời tổ tiên đến nay, qua nhiều đời đều chí thành trì tụng Thần chú ấy nên được thoát ly tất cả tai nạn đao binh thủy hỏa, v.v… những việc này không thể nào kể hết được. Chính bản thân tôi trì tụng Chú Đại bi đã hơn 20 năm, mỗi khi gặp cấp nạn thì chí thành khẩn thiết trì tụng liền được cảm ứng. Trước đây, vào niên hiệu Càn Long năm thứ 29 nhà Thanh vào lúc mùa Xuân, lúc ấy Tôi đang ở Kinh Sư, nhà tôi nằm trên phía Nam hồ Đầm. Một ngày nọ, xóm nhà này phát hỏa, lại nhằm lúc gió Nam thổi mạnh, ngọn lửa nương theo sức gió nên cháy lan dữ dội. Lúc đó, Tôi biết mình không thể nào dời đồ đi cho kịp nên nhất tâm thành kính trì Chú Đại Bi. Chưa xong một biến thì gió đổi hướng, ngọn lửa chuyển sang hướng khác, nhờ đó mà nhà tôi còn nguyên vẹn. Vì vậy, Tôi tin chắc rằng Thần Chú ĐạI Bi này có năng lực chuyển tất cả ách nạn. Nếu lòng tin không chân thật thì Tôi đâu dám khinh thường sanh mạng, dấn thân vào chổ hiểm nguy như thế. (Trích Tín tâm Lục).

33. Phật tử Châu Văn Trị tự là Thiếu Tiên, người ở Dư Giao. Trong niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh, Ông đổ Cử nhân. Thiếu Tiên là người chánh trực, nhân hậu, lại đặc biệt có đức hiếu hạnh. Khi nhậm chức Học Chánh ở Châu Hải Ninh, Ông có biên lời tựa cho một quyển sách tên là Thuyết Tiêu Lâu Ích Thọ Tỏa ngọa ký, trong ấy có một đoạn văn ngắn kể về một việc hỏa hoạn như sau: Niên hiệu Đạo Quan, năm thứ Tư nhà Thanh, vào ngày mùng 7 tháng 9 năm Giáp Thân, xóm nhà phía Bắc bị hỏa hoạn, xóm nhà này lại nằm sát hướng Đông nhà tôi ở. Tôi thường ngày trì tụng Thần chú Bạch Y của Quán Âm Đại Sĩ không gián đoạn, vì thế trong lúc hỏa hoạn cấp bách này, Tôi cũng vẫn thành tâm trì tụng. Chỉ trong chốc lát, hơn mười nhà đã thành đống tro tàn, ngay sau đó một trận cuồng phong bỗng nổi dậy, gió đột nhiên chuyển sang hướng Tây nên Thuyết Tiêu Lầu của Tôi bắt đầu chìm vào biển lửa, không làm sao dập tắt được. Tôi liền chí thành trì niệm Bạch Y Thần Chú. Ngay lúc thập tử nhất sanh ấy, thì trời bỗng đổ xuống một trận mưa to mặc dù bầu trời rất quang đãng, gió cũng ngừng hẳn, nhờ đó mà mọi người dập tắt được lửa dữ, tất cả mọi người trong nhà Tôi ai cũng đều kinh sợ. Cũng trong ngày ấy thì phụ thân Tôi đang đi vào trong núi, khi Ông trèo lên đỉnh núi nhìn về hướng nhà Tôi thì xa xa, Ông trông thấy có hai người mặc bạch y cao chừng một trượng, đứng ở hai hướng Đông và Tây trên nóc nhà của Tôi, và cùng làm động tác giống như người đi chửa lữa. Thời gian sau đó, Tôi nhớ hôm ấy là ngày 30 năm Mậu Thìn, một xóm nhà dân ở phía sau căn lầu thờ Pháp bảo ở Hải Dương của Tôi lại bị hỏa hoạn, gió Tây Bắc thổi mạnh nên đưa ngọn lửa áp sát thẳng đến lầu Pháp bảo. Dù thời tiết lúc đó vào mùa Đông, trời rất lạnh nhưng các cánh cửa, song cửa sổ, vách tường đều nóng như lửa than. Khi ấy, Tôi vẫn ở dưới lầu chí thành tụng Chú. Chỉ trong nháy mắt, gió đã dừng lại. Thế là Tôi được sự che chở của Phật lực, tính đến lần đó đã là lần thứ hai.” (Trích Nhiếp Vân Đài Canh Tân Trai Tùy bút).

34. Triều nhà Tấn, có người tên Cái Hội ở Sơn Dương, vì bị kết tội tử hình nên nhốt trong ngục. Tội nhân biết lổi nên suốt ba ngày đêm thành tâm xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm không gián đoạn. Vào đêm thứ ba, Hội thấy Bồ tát hiện thân, toàn thân Ngài phóng quang minh, chiếu đến thân mình Hội thì xiềng xích rời khỏi thân, cửa ngục tự mở nên liền trốn ra khỏi ngục. Quang minh của Đức Quan Âm dẩn lối cho Hội chừng 20 dặm thì ánh sáng đó mới tắt. (Trích Quán Âm Huyền nghĩa Ký).

35. Triều nhà Tấn có Đậu Truyền là người tỉnh Hà Nam. Vào niên hiệu Vĩnh Hòa, Ông bị kẻ địch bắt cùng với bảy người bạn, cả tám người đều bị trói chung vào nhà ngục, xiềng xích gông cùm rất nghiêm nhặt. Sa môn Thích Đạo Sơn vốn là người quen biết với Đậu Truyền nên vừa nghe tin Ông bị bắt thì đến thăm nhưng không vào trong được, chỉ đứng ngoài cửa nói chuyện. Đậu Truyền thưa rằng: “Hiện nay sanh mạng con như ngàn cân treo sợi tóc, Thầy có phương pháp gì cứu khổ cho con?” Thầy Thích Đạo Sơn nói: “Tôi là phàm Tăng, đâu có pháp gì cứu nạn được, tuy nhiên nếu đạo hữu thành tâm quy mạng Quán Thế Âm Bồ Tát, chuyên xưng danh hiệu Ngài thì Ngài sẽ tầm thinh cứu khổ, nhất định có cảm ứng.” Thời gian trước đó, Truyền cũng từng nghe nhiều người nói về việc tầm thinh cứu khổ của Đức Quán Thế Âm nên bây giờ nghe Thầy Đạo Sơn nói thì liền phát tâm thâm tín, chuyên lòng trì niệm ngày đêm không dứt. Trải qua ba ngày ba đêm, Tuyền cảm thấy thấy gông cùm nơi thân bị nới lỏng như muốn rớt ra, dùng tay tháo thử thì xiềng xích tuột ra khỏi người. Truyền lại tự nghĩ những người bạn của mình đương bị xiềng xích gông cùm, nở nào một mình ta thoát thân nên Ông lại chí thành khẩn thiết cầu đảo Quán Thế Âm Bồ Tát Đại từ Đại bi dùng thần lực phổ độ cho tất cả tù nhân đồng khỏi tai nạn. Sau khi cầu nguyện, ông lại đi cứu những người khác, rồi thừa lúc đêm tối, mở cửa trốn thoát, lính canh không một người nào hay biết. Trèo thành đi được hơn mười dặm thì trời sáng. Lúc ấy mới biết mình đang trong chốn rừng sâu, nhưng trong chốc lát đã nhìn thấy quân lính bao vây tứ phía, chổ của tù nhân và Đậu Truyền đang ẩn nắp chỉ cách chổ binh lính đang tìm khoảng một mẫu nhưng may mắn thay, binh lính không đến đó, nhờ vậy mà tất cả mọi người đều thoát nạn. Các tù nhân sau khi thoát nạn về lại quê hương đều phát tâm tín kính Đức Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, người nào cũng tạc tượng Bồ tát để hàng ngày đều chiêm bái, xưng niệm Thánh hiệu của Bồ Tát. Thời gian sau đó thầy Thích Đạo Sơn đi qua sông ở khu vực đó thì được nghe một Phật tử cư sĩ họ Tạ thuật lại chuyện này. (Trích Minh Tường Ký).

36. Triều nhà Tấn có người tên Quách Tuyền Chi ở quận Thái Nguyên, niên hiệu Nghĩa Hy năm thứ tư, vị quan Thứ Sử Lương châu là Dương Tư Bình do giết hại các tham quan nên bị vu oan bắt vào ngục, Tuyền Chi bị nghi là đồng phạm nên cũng bị bắt giam vào ngục, chịu gông cùm xiềng xích, canh gác cẩn mật. Tuyền Chi lúc ở trong ngục chỉ nhất tâm quy hướng Quán Âm Đại Sĩ, ngày đêm chí thành cung kính, xưng niệm Thánh hiệu của Bồ tát. Đêm nọ lúc sắp ngủ thì Ông bỗng thấy Bồ tát hiện thân phóng quang chiếu trong lao ngục, Tuyền Chi cúi đầu đảnh lễ cầu nguyện, một lúc sau thì Bồ tát ẩn mất. Không bao lâu thì Tuyền Chi được ân xá. Sau khi thoát khỏi tai nạn, Ông liền mời họa sĩ đến họa lại Từ dung của Bồ tát đã hiện trong ngục, lại lập Tịnh xá thờ Bồ tát để suốt đời chiêm bái xưng niệm cúng dường Đại Sĩ. (Trích Minh Tường Ký).

37. Triều Lưu Tống có Tăng Bao Pháp sư, người ở Kinh Triệu là trụ trì của chùa Kỳ Hoàn. Một hôm nọ lúc đi đường thì trông thấy một bọn giặc cướp sáu người bị bắt đang bị giải đi. Pháp sư vì họ thuyết pháp và khuyên họ chí thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm. Bọn giặc vâng lời chuyên tâm trì niệm suốt từ lúc bị bắt đến lúc bị hành hình. Khi chuẩn bị hành hình thì tất cả vẫn chí thành khẩn thiết xưng niệm, bỗng nhiên có lệnh ân xá của nhà vua nên tất cả đều được khỏi nạn. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 1).

38. Triều Lưu Tống có Thầy Thích Tăng Hồng, người Dự Châu là trụ trì chùa Ngỏa Quan tại Kinh Sư. Từ lúc nhỏ, Thầy đã là người nghiêm trì giới luật, tu hành rất tinh tấn. Thời gian sau, Thầy đi khuyến hóa những Phật tử hữu duyên để chung sức tạc tượng Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật bằng đồng. Sau khi nấu đồng đúc tượng vừa xong, chưa kịp mở khuôn thì Thầy bị bắt trói đem đến Phủ Tường hạ ngục. Lúc bấy giờ là cuối triều Tấn, hoàng đế ban hành một đạo luật rất nghiêm, cấm nhân dân toàn quốc không ai được dùng đồng. Nếu người nào vi phạm thì xử tử hình không tha. Thầy Tăng Hồng do vậy đã phạm vào quốc pháp nên bị xử tội. Khi vào trong ngục, Thầy chí thành tụng kinh Phổ môn và nhất tâm quy mạng tượng Phật đã đúc. Một đêm Thầy nằm mộng thấy bức tượng Phật đã đúc xong, bức tượng này đến dùng tay xoa đầu Thầy và bảo mọi sự sẽ bình an, đừng lo sợ. Thầy nhìn thấy trước ngực của tượng ấy khoảng chừng một thước vuông, sắc đồng bị cháy nám. Ngày đem Thầy đi hành hình, Quan Tham Quân, giám sát ở Phủ Tường cho xe bò đến chở phạm nhân đi, thì con bò kéo xe bỗng rống lên bỏ chạy làm hỏng xe, vì thế nên không đến pháp trường được. Quan Giám sát bèn định lại ngày khác thì có chiếu chỉ của Hoàng đế đến, trong đó vắn tắt mấy chữ: “Tội của Tăng Hồng theo Trẫm nhận thấy thì đáng dung thứ, các ngươi không được giết”. Do vậy, Thầy được thả về chùa bình an. Sau khi về chùa, Thầy liền mở khuôn đúc để đảnh lễ tượng Phật thì thấy trước ngực của tượng Phật, quả nhiên có một khoảng vuông bị cháy nám. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 1).

39. Triều đại Lưu Tống, Vương Cầu tự Thúc Đạt là người ở quận Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, ra làm Quan Thái Thú ở Đồi Lăng, tỉnh Tứ Xuyên. Ông là một vị quan có lòng từ tâm, thương dân như con. Niên hiệu Nguyên Gia, năm đầu, có nội loạn tại địa phương nên Ông bị bọn chúng bắt hạ ngục, gông cùm xiềng xích nghiêm mật. Vương Thái Thú vốn là một Phật tử luôn kính phụng Phật pháp, đối với các Phật sự thường không biếng trể. Khi bị hạ ngục, nhìn thấy tội nhân hơn cả một trăm người đa số đều bị đói khát thì động từ tâm, mỗi bữa ăn đều đem phần mình bố thí chia cho họ, phần Ông thì trường trai và chí thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm. Vào một đêm, Ông nằm mộng thấy mình lên một pháp tòa cao đẹp, có một vị Sa Môn đem một quyển Kinh trao cho, đề mục Kinh ấy là “Quang Minh Âm Hạnh Phẩm” trong đó có các danh hiệu của chư Bồ Tát mười phương. Vương Cầu cúi đầu nhận lãnh, mở Kinh ra đọc. Sau đó, Ông lại nhìn thấy một bánh xe, thì được vị Sa Môn giải thích là bánh xe luân hồi ngũ đạo. Sau khi tỉnh giấc thì Ông không nhớ danh hiệu vị Bồ tát thứ nhất, chỉ nhớ danh hiệu Bồ tát thứ hai là Quán Thế Âm, thứ ba là Đại Thế Chí lúc ấy. Sau khi trì niệm, Ông bỗng thấy xiềng xích đều rời khỏi thân mình thì trong tâm, Vương Thái Thú biết được chính là nhờ Phật từ gia hộ. Bấy giờ, Ông càng tinh tấn chuyên tâm xưng niệm nhưng vì sợ người giữ ngục biết nên Ông tự lấy xiềng xích gông cùm mang vào lại. Ba ngày sau, Ông được bọn giặc phóng thích. (Trích Pháp Uyển Châu Lâm và Minh Tường Ký).

40. Triều đại Lưu Tống có người tên Trương Hưng ở huyện Tân Hưng, tỉnh Quảng Đông. Người này có tâm tín kính Tam bảo và đã nhiều lần theo hai vị Cao tăng là Sa môn Tăng Dung và Đàm Duật thọ bát Quan trai. Niên hiệu Nguyên Gia năm đầu, triều Lưu Tống, Ông bị người vu khống là giặc cướp nên bỏ trốn đi nơi khác. Ở nhà, vợ Ông bị bắt tống vào ngục. Sau khi vợ Ông bị bắt vào ngục thì vài ngày sau đó, nhà ngục bị hỏa hoạn nên phải chuyển các tù nhân ra vệ đường. Lúc ấy có hai vị Sa môn đi ngang qua, vợ Ông thoáng thấy bèn kêu lớn: “Hòa Thượng, xin hai Thầy cứu con.” Tăng Dung nhìn thấy vợ Ông bèn nói: “Bần đạo không có năng lực gì có thể cứu Ưu Bà Di được. Tuy nhiên nếu Ưu Bà Di nghe lời Thầy thì nên chí thành khẩn thiết niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, chắc chắn sẽ qua khỏi tai nạn này.” Vợ họ Trương vâng lời, ngày đêm chí thành cầu nguyện, xưng niệm Thánh hiệu Đại Sĩ. Trải qua thời gian 10 ngày thì một đêm nọ Bà nằm mộng thấy một vị Sa Môn dùng chân đạp mạnh vào chiếc gông trên Thân mình Bà và nói rằng: “Đừng ngủ nữa, dậy mau đi vợ họ Trương”. Bà giựt mình tỉnh giấc thì thấy gông cùm trên thân đều rời khỏi thân mình nhưng cửa ngục vẫn còn đóng khóa rất kỹ nên không thể đi ra được. Sợ lính canh biết nên Bà lấy gông cùm xiềng xích mang vào và ngủ lại. Vừa nhắm mắt mơ màng thì thấy vị Sa Môn lúc nãy đến bảo: “Cửa đã mở rồi, hãy thoát ra ngoài đi”. Bà giật mình choàng tỉnh chạy ra, tất cả lính canh đều ngủ mê mệt không hay biết nên Bà chậm rãi mở cửa trốn thoát. Trời tối mịt nên Bà phải dò từng bước, đi được vài dặm thì bỗng vấp phải một người, té nhào xuống đất, thế rồi khi hỏi thăm nhau thì mới biết người này không ai xa lạ chính là chồng Bà. Hai người cùng nhau bỏ trốn đến chùa của Sa Môn Đàm Duật. Thầy bảo ở lại vài ngày rồi về nhà, sẽ an ổn và khỏi hẳn tai nạn. (Trích Minh Tường Ký).

41. Triều đại Lưu Tống có Phật tử Trương Sương là người thành kính Tam bảo. Trong nhà Ông thờ Quán Âm Đại Sĩ rất thành kính trang nghiêm, thường ngày đều chiêm bái trì niệm Thánh hiệu của Đại sĩ. Một độ nọ, Nam Tiêu Vương có ý định làm phản nên rủ Trương Sương theo mình nhưng Trương không nghe theo nên Tiêu Vương có ý định giết chết họ Trương để không bị bại lộ. Đêm ấy, Tiêu Vương nằm mộng thấy Quán Thế Âm Bồ tát đến bảo: “Nhà ngươi phải thận trọng, không được giết Trương Sương” nên Tiêu Vương không dám giết. Khi Tiêu Vương bị lộ và bị xử trảm; Trương Sương cũng bì tình nghi nên bị bắt tống vào ngục. Trong ngục, Sương hết lòng thành kính tụng kinh Phổ Môn ngàn biến thì xiềng xích nơi thân tự dưng đứt thành từng đoạn. Quan giám ngục đổi xích khác thì đều vẫn đứt như vậy. Nhiều lần như vậy nên Ông tâu sự việc này lên cấp trên. Có một vị Đại quan trong triều sau khi biết rõ những việc ấy bèn tấu trình lên Hoàng thượng, nhà Vua nghe tin thì cho lệnh phóng thích Trương Sương. (Trích Đàm Tẩu).

42. Triều Lưu Tống có Phật tử Hàm Huy, ở Chi Giang cùng với Chú bị người vu oan nên đồng bị bắt nhốt trong ngục tại địa phương, chịu gông cùm rất nghiêm nhặt. Huy là người thờ Phật trong nhà, cúng dường rất trang nghiêm, hàng ngày đều chí thành trì tụng Kinh Phổ Môn nên khi bị bắt vào nhà lao vẫn ngày đêm chí thành trì tụng. Lúc tụng đến khoảng vài trăm biến, thì xiềng xích trên người Huy tự nhiên khua động lớn như tiếng pháo nổ, thế rồi xiềng xích trên thân tự đứt ra và rơi xuống. Huy sợ quan Giám ngục cho là mình chặt phá, vội nhờ người mời quan Giám ngục đến để tận mắt xem việc ấy, vị quan này dù thấy việc này là lạ nhưng vẫn không tin nên lấy xiềng xích khác trói tội nhân lại rồi bỏ đi. Huy vẫn tụng kinh như thường thì sang ngày hôm sau, xiềng xích lại khua động và đứt từng khúc như hôm trước. Quan giám ngục lúc này bèn báo cáo lại với thượng cấp về việc này. Quan trên yêu cầu mang xiềng xích đến xem kỹ lại và cho đòi Huy đến để hỏi rõ nguyên do thì Huy cho biết từ lúc bị hạ ngục đến nay chí thành tụng Kinh Phổ Môn để cầu xin thoát nạn. Các quan nghe nói thì rất tán thán và hết lòng kính phục sự cứu khổ linh ứng của Bồ tát liền phóng thích Huy cho về nhà. (Trích Minh Tường Ký).

43. Triều nhà Tề, Phật tử Bành Tử Kiều là người ở huyện Ích Vương, tỉnh Hồ Nam được bổ nhiệm chức Chủ Bộ tại quận địa phương và kiêm việc hầu hạ giúp đỡ quan Thái thú Trần Văn Long. Hàng ngày lúc rảnh việc thì Ông thường trì tụng kinh Phổ Môn. Niên hiệu Kiến Nguyên, năm đầu nhà Tề, vì phạm tội nên Ông bị trói và nhốt trong ngục. Quan Thái Thú Văn Long lúc ấy vì quá tức giận nên quyết định xử trảm Ông. Tử Kiều vô cùng lo sợ, thấy không có phương cách gì cứu mạng sống được, bấy giờ chí thành nhất tâm xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm Đại sĩ và chí thành tụng kinh Phổ Môn. Khi tụng được hơn 100 biến thì một hôm vì quá mỏi mệt nên nằm ngủ vào ban ngày. Trong ngục cũng có một vị quan vì phạm tội bị bắt nhốt tên là Đổ Đạo Vinh, người huyện Tương Tây. Trong lúc Đạo Vinh ngủ, thì mộng thấy có cặp bạch hạc bay đến đậu ở chổ bình phong của Tử Kiều. Một con sau đó lại bay đến cạnh Tử Kiều, lúc này Đạo Vinh có cảm giác con hạc ấy dường như là một mỹ nhân, đến tháo cùm ra khỏi người Tử Kiều. Ngay lúc ấy thì Vinh giật mình tỉnh giấc. Nhìn qua chổ Tử Kiều thì thấy hai cùm chân của Tử Kiều đã rớt ra khỏi chân nhưng cùm vẫn còn nguyên, không có dấu hiệu bẻ khóa gì cả nên Đạo Vinh vô cùng kinh ngạc. Đang chú ý xem thì Tử Kiều cũng vừa thức giấc, cả hai đều nhìn cái cùm mà không hiểu được việc này là vì sao. Lúc ấy, Đạo Vinh bèn hỏi Tử Kiều lúc ngủ có nằm mộng thấy gì không thì Tử Kiều cho biết là mình không có mộng gì hết. Đạo Vinh bèn thuật lại tất cả điềm chiêm bao cho Tử Kiều nghe. Tử Kiều nghe xong, biết chắc là Phật lực từ bi gia hộ cho mình nhưng vì lo sợ quan Giám ngục nghi ngờ là mình làm phản nên lấy cùm mang lại. Khoảng bốn, năm ngày sau đó thì Tử Kiều được phóng thích. (Trích Pháp Uyển Châu Lâm).

44. Triều Nguyên Ngụy, trong niên hiệu Thiên Bình, có Phật tử Tôn Kính Đức là một tu sĩ ở Định Châu, tỉnh Trực Lệ. Trước khi xuất gia, Ông là người có tâm tín kính Tam bảo, từng tạo tượng Quán Âm Đại Sĩ để thờ, ngày đêm lễ bái xưng niệm cúng dường. Sau đó, Ông bị nghi ngờ có liên quan đến giặc cướp nên bị hạ ngục. Ở trong ngục, Ông phải chịu đủ hình phạt tra tấn, rất thảm khốc. Một đêm, Ông nằm mộng thấy một vị Sa môn đến bảo: “Ngươi nên tụng kinh Phổ Môn đủ một ngàn biến thì được khỏi nạn.” Vâng lời dạy, Ông chí thành tụng Kinh, đến lúc đưa đi hành hình thì Ông tụng vừa đủ nghìn biến. Lúc đao phủ vừa giơ dao lên chém, thì dao đứt thành ba đoạn, cổ Ông không bị hề hấn gì. Ba lần thay dao đều xảy ra y hệt như vậy nên quan Hữu ty vội bẩm báo việc này lên triều đình. Thừa Tướng Cao Ngoan sau khi tiếp biểu tấu thì dâng biểu xin Hoàng đế Nguyên Ngụy tha tội chết cho Kính Đức. Sau khi được tha về nhà, Ông đến bàn Phật đảnh lễ thì thấy trên tượng Quán Âm Đại Sĩ ở nhà, tại nơi cổ có ba dấu dao chém. (Trích Minh Tường Ký).

45. Triều Nguyên Ngụy, Lư Cảnh Dục và Tuyết Mân Sơn đều là quốc sinh Quốc Tử Giám, do kẻ ác phao vu có dính líu đến vụ trộm cướp, nên cả hai bị bắt trói nhốt vào trong ngục Tấn Vương. Hai người này thường ngày vẫn tín phụng Phật pháp và thường chí tâm tụng trì phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm trong kinh Pháp hoa, nên lúc bị nạn vẫn thành kính chuyên tụng kinh Phổ Môn. Lúc nào trong người cảm thấy khỏe thì tụng toàn bộ Bộ Kinh Pháp Hoa. Một hôm, sau thời đọc kinh thì bỗng nhiên gông cùm xiềng xích trên thân của hai người đều tự rớt xuống khỏi thân. Quan Giám ngục nhìn thấy việc kỳ lạ này bèn tâu lên triều đình. Vì nhà vua là người tín kinh Phật Pháp nên liền ra chiếu chỉ hạ lệnh tha tội cho cả hai. (Trích Bác Ngụy Thơ & Pháp Hoa Cảm thông).

46. Triều Nguyên Ngụy, Thầy Thích Siêu Đạt là một người học vấn uyên thâm không chỉ trong Phật pháp mà còn ở kiến thức thế gian. Thời bấy giờ, vua Nguyên Ngụy đang ban hành sắc lệnh nghiêm cấm không cho ai được phép chứa Kinh sấm giảng và cho người đi các nơi để xem xét việc thực hiện. Do bị người ghen ghét, thầy Siêu Đạt bị vu khống là có chứa loại Kinh sấm này nên bị bắt giam nhốt trong ngục Tấn Vương. Thầy bị cột cổ vào bánh xe và bị canh phòng rất nghiêm ngặt. Thầy Siêu Đạt tự thấy không có hy vọng gì sống sót nên ngày đêm chí thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, cầu mong mình được mau tiêu trừ túc nghiệp. Đến canh tư một đêm nọ, bánh xe trên cổ Thầy tự nhiên rớt xuống và biến đâu mất không thấy. Lúc ấy những người canh gác đều ngủ mê, nên Thầy thừa dịp này vội trốn thoát ra ngoài và cố gắng chạy cho thật xa. Nhưng do bị nhốt trong ngục lâu ngày nên hai chân Thầy yếu sức không thể đi mau được. Đến lúc trời sáng, quan quân phát hiện tù nhân trốn mất nên họ phái quân lính bủa ra bốn phía truy tìm. Thầy Siêu Đạt bấy giờ vô cùng sợ hãi, chỉ còn biết núp mình trong một bụi cỏ. Khi quân kỵ binh đi ngang, bụi cỏ chổ Thầy núp đều bị ngựa dẫm đạp, nằm rạp xuống hết nhưng quân kỵ binh lại không hề nhìn thấy Thầy. Thầy lén nhìn qua đám cỏ thì thấy những kỵ binh này đều dùng da trâu để che mặt. Trong giờ phút này, Thầy chí thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát để cầu xin Ngài che chở. Quân kỵ binh tìm kiếm một hồi lâu không thấy Thầy nên rút binh về hết. Đêm xuống, Thầy mới rời khỏi chổ ẩn nấp và tìm đường thoát khỏi hiểm nguy. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 2).

47. Triều Nguyên Ngụy, thầy Thích Tăng Minh là trụ trì của chùa Thạch Hỏa ở Đài Bắc. Vào thời đó, chúa nhà Ngụy bổng sanh tâm nghi ngờ Sa môn Phật giáo là những người có thể làm phản, nên lệnh cho quan quân bắt đến mấy trăm người, cột trói họ dính chùm nhau, thầy Tăng Minh cũng không thể thoát được nạn này. Thầy bị quan quân cột dây chặt từ đầu đến chân, tống vào ngục để chờ ngày đem đi xử trảm. Trong ngục thất, Thầy nhất tâm thành kính xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm Đại sĩ. Đến lúc nửa đêm thì Thầy có cảm giác dây trói trên thân nới lỏng dần ra, trong tâm Thầy vô cùng vui mừng nên càng thiết tha xưng niệm Thánh hiệu Bồ tát, đến lúc gần sáng thì dây trói trên thân Thầy đều đứt hết. Nhân cơ hội này, Thầy vội thoát ra khỏi ngục chạy trốn. Đến sáng ngày, Quan Giám ngục tới xem thì tội nhân đã biến mất, chỉ còn thấy những khúc dây bị đứt trong ngục. Biết chắc là do Từ lực của Phật minh gia nên quan Giám ngục liền đem việc này tâu lên triều đình. Chúa Ngụy nghe nói nên tỉnh ngộ, xem xét lại mọi sự và tin chắc chư Tăng không phải là những người làm phản, nên hạ chiếu đồng thời phóng thích tất cả. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 2).

48. Triều nhà Đường, ở tỉnh Hà Đông, trong niên hiệu Trinh Quán, có người tên Đổng Hùng làm chức Đại lý thừa. Ông là người tín phụng Phật pháp từ lúc ấu thơ lại nhiều năm trường trai. Một ngày nọ, do bị nghi ngờ là có dính líu đến vụ án Lý Tiên Đồng là một quan nha trong triều, nên Ông cùng với các bạn đồng lưu là Lý Kính Huyền, Vương Hân, v.v… bị bắt nhốt trong ngục. Hoàng đế rất tức giận nên ra lệnh cho quan Thị Ngự là Vĩ Tôn tra hỏi thật gắt gao. Trong thời gian thọ hình, Ông nhất tâm thành kính tụng kinh Phổ Môn ngày ba mươi biến, liên tục trong ba ngày thì đến ngày thứ ba, trong đêm ấy, xiềng xích trên thân Ông bỗng nhiên đứt ra và rớt xuống đất. Đổng Hùng lo sợ nên đem việc này nói với Lý Kính Huyền và Vương Hân. Hân liền đến xem xét dây xích thì thấy dây xích vẫn rất kiên cố, các then vẫn dính liền nhau, sợi dây xích rơi cách chổ Đổng Hùng chỉ vài bước, nên báo lại việc này cho người giữ ngục. Đêm đó, Quan Ngự sử Trương Thử Nhất túc trực trong ngục, Ông bảo người đốt đèn sáng, sau đó lấy xiềng xích khác cột lại, và lấy giấy dán lên trên dây xích để làm dấu rồi bỏ đi. Trong lúc ấy, Đổng Hùng vẫn tụng kinh không thôi, đến lúc canh năm thì dây xích lại đứt từng đoạn và rớt xuống dưới đất, nhưng miếng giấy niêm phong vẫn không bị rách, chổ dây xích rớt chỉ cách tội nhân nhau vài bước, không có gì thay đổi. Lý Kính Huyền và Vương Hân trước kia là người không tin Phật Pháp nhưng giờ phút này, thấy sự việc của Đổng Hùng như vậy, bèn tự hối lỗi bất tín Tam bảo, Vương Hân phát nguyện trì niệm danh hiệu Tám vị Bồ Tát(*). Khi niệm đúng ba vạn biến thì vào lúc ban ngày, xiềng xích trên người Ông cũng rớt xuống dưới đất không khác gì với trường hợp của Đổng Hùng. Không bao lâu sau, cả ba người đều thoát khỏi nạn hình. (Trích Pháp Uyển Châu Lâm).

(*) Danh hiệu Tám vị Bồ Tát bao gồm:

(1) Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát
(2) Quán Tự tại Bồ Tát Ma ha tát
(3) Hư Không Tạng Bồ Tát Ma ha tát
(4) Kim Cang Quyền Bồ tát Ma ha tát
(5) Văn thù Sư lợi Bồ tát Ma ha tát
(6) Tài Phát Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ tát Ma ha tát
(7) Hư Không Khổ Bồ tát Ma ha tát
(8) Tồi Nhất thiết Bồ tát Ma ha tát

49. Triều nhà Minh có người tên Hùm Khai Nguyên, hiệu là Ngư Sơn. Vì mang tội chỉ trích Chu Viên Nho là vị đại quan đương triều nên Ông bị hạ ngục và tra khảo bằng trượng rất dã man. Trong lúc bị tra khảo, Khai Nguyên một lòng trì niệm Thánh hiệu Quán Âm Đại sĩ nên dù thân thể máu tuôn lênh láng, da thịt rã rời, Ông không cảm thấy đau nhức khổ sở như các tù nhân khác. Thời gian ở trong ngục hơn một năm, ngoài việc chuyên tâm xưng niệm danh hiệu Đại Sĩ và tụng Bát nhã Tâm Kinh, Ông còn đem Phật pháp giáo hóa cho tất cả tội nhân trong ngục. Hơn một năm sau, Ông bị đày đến Hàng Châu. Một thời gian sau, gặp lúc quốc gia loạn lạc, nên Ông thoát được ngục tù. Sau đó, Ông quyết định xuất gia làm Tăng, tự đặt cho mình Pháp hiệu Chánh Trí, suốt đời ẩn mình nơi non Linh Nham, tỉnh Giang Tô, chuyên tu Tịnh nghiệp để cầu sớm vãng sanh Cực lạc Tây phương thế giới. (Trích Cư sĩ truyện).

50. Triều nhà Minh, Khương Thể với Hùng Ngư Sơn bị hạ ngục do bị ghép tội tạo phản. Nhờ người bảo lãnh nên Khương Thể được phép cho ra ngoài để gặp mẫu thân đang trên đường đến Kinh đô gặp con. Một ngày trước khi mẹ Ông đến Kinh đô thì Khương Thể bỗng nhiên bị đưa trở lại nhà ngục. Quá đau buồn vì không gặp được mẫu thân, Khương Thể hỏi Ngư Sơn có cách nào để được thấy mẫu thân không thì Ngư Sơn khuyên: “Quán Thế Âm Bồ tát Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ, nếu chúng sanh nào chí thành cầu nguyện chắc chắn linh ứng. Ông nên xưng niệm danh hiệu Đại sĩ và tụng Kinh Phổ Môn phẩm để nhờ Ngài cứu giúp.” Khương Thể nghe nói thế, liền phát tín tâm, nguyện mỗi ngày ngoài việc xưng niệm Thánh hiệu Đại sĩ thì tụng kinh Phổ Môn ba mươi biến. Hơn một tháng sau, Khương Thể được phóng thích ra khỏi ngục, và gặp lại mẫu thân. Về sau, Ông đến Hoàng Sơn ở ẩn, cạo tóc làm Tăng tu hành. (Trích Cư Sĩ truyện).

51. Triều nhà Minh, niên hiệu Vạn Lịch, Quan Lục Ngũ Đài Thượng thư ở huyện Nam Hồ, tỉnh Chiết Giang có một người đầy tớ trai vì tranh giành tài lợi, đánh lộn với một người khác và lở tay làm trọng thương hai người và chết một người. Người tớ ấy quá lo sợ nên cầu cứu với Thượng Thư xin cứu mạng. Ngài Thượng Thư đáp: “Ngươi đánh người và giết người thì phải bị tội, đây là luật pháp của quốc gia, Ta đâu có thể vì tình riêng mà xin cho ngươi miễn tội được. Tuy nhiên, ngươi hãy nghe lời Ta, khi ở trong ngục nếu hàng ngày ngươi chí thành cung kính trì niệm danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ tát thì ba năm sau Ta sẽ đến cứu ngươi.” Người đầy tớ phụng mạng, nên khi bị bắt vào trong ngục, thì tất cả thời gian đều thành tâm xưng niệm Thánh hiệu Đại sĩ không hề giải đãi. Hơn một năm sau, Hoàng thượng có chỉ dụ cho ân xá tội nhân để cầu quốc thái dân an, người đầy tớ này nhờ vậy được ân xá. (Trích Quán Âm Cảm ứng Ký).

52. Triều nhà Thanh có Hiếu Liêm Ngu Thứ Nhang ở huyện Kim Đào, tỉnh Giang Tô, là một Phật tử rất thuần thành với ngôi Tam bảo, lại tu hành rất tinh tấn. Ông thường đóng cửa nhập thất nhiều ngày đêm, lễ Đại bi sám, tụng kinh Kim cang, lại phát nguyện khắc bản ấn tống Kinh Quán Thế Âm, khuyến hóa mọi người trì niệm để được qua khỏi tất cả nạn tai. Mùa Đông năm Đinh Dậu, do bị người vu khống nên Ông bị bắt trói và đưa đến Giang Ninh. Lúc bấy giờ, ai nghe tin cũng đều buồn đau, và nhiều người đã kêu oan cho ông. Riêng Thứ Nhang thì từ khi bị bắt đưa đi, Ông vẫn mặc niệm Kinh Sám không dứt. Khi bị tống vào ngục, dù phải chịu đủ cực hình tra khảo vô cùng thảm thương nhưng Thứ Nhang trong tâm vẫn bình thản như người nhập thiền định. Bọn ngục tốt thấy thế nổi giận, cật lực dùng cực hình tra khảo Ông, chúng dùng kẹp để kẹp vào ống chân Ông nhưng Ông không hề bị thương, chỉ để lại vài cái sẹo đen. Không bao lâu sau, triều đình minh xét lại và cho Ông được trắng án. Con của Thứ Nhang là Sơn Tu, thật là một đứa con chí hiếu. Từ lúc cha bị nạn thì đêm đêm, Tu Sơn đứng ngoài trời, thân không mặc áo, chắp tay thành kính xưng niệm, lễ bái Quán Âm Đại sĩ, nguyện cầu cho Cha mau thoát nạn. Dù gặp lúc đêm Đông, Sơn Tu cũng thực hành như vậy không sai khác cho đến lúc Cha khỏi nạn về nhà mới thôi. (Trích Quán Âm Trì Niệm ký).

53. Nghê Bộc Lão tự Giai Khánh là người coi công bộ, do sơ xuất phạm lỗi nên bị triều đình trách phạt, nhốt trong ngục. Thời gian bị nhốt trong ngục, Giai Khánh thành tâm đảnh lể xưng niệm Thánh hiệu Đại Sĩ và Sám hối tụng kinh. Đột nhiên vào một hôm, Ông nhìn thấy hoa sen năm màu mọc đầy trên vách tường trong ngục, không bao lâu sau thì Ông được phóng thích. Sau khi thoát nạn, Ông xuất gia làm Tăng dưới pháp tòa của Lãng Trượng Pháp sư. Sau này, Giai Khánh làm trụ trì tại chùa Thanh Nguyên, lấy Pháp hiệu là Kiếu Phong Hòa Thượng. (Trích Hiện Quả lục).

54. Vương Lương Phong là người ở Hàn Châu đã tự thuật một sử tích Quán Âm cứu khổ như sau: Ở tại Thương Ngu, tỉnh Chiết Giang có một Phật tử làm nghề buôn gạo, tánh tình hiền lương. Trong nhà người này có thờ Quán Âm Đại Sĩ rất trang nghiêm, hàng ngày lại chiêm bái, xưng niệm Thánh hiệu Đại sĩ. Gia đình Phật tử này chỉ có hai vợ chồng. Một ngày nọ Phật tử này sắp đi xa thì đêm ấy nằm mộng thấy Quán Âm Bồ tát đến bảo: “Ngươi sắp có đại nạn nên Ta đến để cứu độ.” Nói dứt lời, Bồ tát đọc bài kệ bốn câu như sau và căn dặn Phật tử ấy phải ghi nhớ cho kỹ. Bài kệ ấy như sau:

ÂM:

Phùng kiều mạc đình chu
Ngộ du tức mạt đầu
Dấu cốc tam thăng mễ
Thanh đan bổng bút đầu.

NGHĨA:

Gặp cầu chớ đậu ghe
Gặp dầu liền xoa đầu
Đấu thóc ba thang gạo
Ruồi xanh đậu ngòi bút.

Phật tử ấy khi thức dậy vẫn nhớ rõ ràng và rất lấy làm lạ về bài kệ nói trên nhưng vẫn dặn lòng cố nhớ đừng quên. Phật tử này sau đó thuê chiếc ghe chở gạo đi bán. Đi đến ngày thứ hai thì gặp phải mưa to gió lớn giữa đường, người lái ghe có ý muốn đậu lại dưới chiếc cầu lớn để tránh gió mưa thì Phật tử này lúc ấy bỗng nhớ lại lời dặn trong mộng của Bồ Tát: gặp cầu chớ đậu ghe, nên hối thúc người lái thuyền đi nhanh qua chớ không đậu lại. Quả nhiên, khi chiếc ghe vừa qua khỏi cầu thì nghe một âm thanh chát tai, ngó lại thì chiếc cầu vừa bị sập xuống. Phật tử ấy cảm thấy sự linh nghiệm của Quán Âm Đại Sĩ thật là không thể nghĩ bàn nên từ đó về sau, tụng niệm càng tinh tấn, lễ bái càng kiền thành. Một ngày nọ, khi Ông vừa trở về nhà, lúc đang cúi xuống lễ Phật trong nhà thì chiếc đèn lưu ly treo trước Phật đài bỗng rớt xuống đất, đổ dầu lênh láng. Lúc ấy, Ông bỗng nhớ đến câu kệ thứ hai của Bồ tát đã dạy (Gặp dầu liền xoa đầu), nên liền dùng tay xoa dầu đổ dưới đất lên đầu mình. Vào lúc nửa đêm, khi đang ngủ thì Ông bỗng nghe có mùi máu huyết tanh hôi, Ông đốt đèn lên xem thì thấy vợ Ông đã bị giết chết. Lúc hừng sáng Ông chạy vội sang nhà cha mẹ vợ báo tin xấu thì nhạc phụ của Ông liền căn vặn về nguyên do cái chết của vợ Ông, nhưng Ông không thể đáp lại được lời nào. Lúc ngày thường, Ông là người rất tín phụng Phật pháp nhưng vợ ông thì ngược lại nên nhạc phụ Ông lúc ấy nghi ngờ là do có chuyện bất hòa thất thường giữa hai vợ chồng Ông nên mới xảy ra vụ việc này. Nhạc phụ Ông vì thế đầu đơn đến Quan huyện tố cáo Ông tội giết người. Quan huyện cho người đến bắt Ông, khi giải Ông về đến Nha môn, quan huyện nhìn sắc diện thì thấy hoàn toàn không có vẻ gì là người sát nhân. Khi lấy khẩu cung của Ông thì quan huyện nhận thấy trong nhà Ông, dù tiền bạc và đồ vật không phải là ít nhưng hoàn toàn không bị cướp đi món nào, khám xét hiện trường thì cửa sổ nhà thì không bị phá, vách tường cũng không bị đào lổ,… nên đoán chắc hung thủ chắc không phải là trộm. Quan huyện lại tiếp tục tra hỏi giữa gia đình Ông và hàng xóm có hiềm khích gì không thì Ông liền đáp: “Từ nào đến giờ đối với hàng xóm gia đình Ông không hề mất lòng”. Quan huyện suy nghĩ: “Nhà này không có kẻ oan gia đối đầu, đây không phải là vụ trộm cướp, mà thời điểm án mạng lại xảy ra trong lúc nửa đêm, vậy thử hỏi ai vào đây giết người, hung thủ chỉ có thể là Phật tử buôn gạo này mà thôi, không còn nghi ngờ gì nữa.” Quan huyện sau khi lấy khẩu cung hoàn tất và suy nghĩ như vậy định hạ bút xuống phê vào lời khai thì bỗng nhiên có một con ruồi xanh bay đến, đậu vào ngòi bút. Quan huyện đang lấy làm lạ tại sao có con ruồi đậu trên ngòi bút thì Phật tử này bỗng nhiên la lớn: “Ruồi xanh đậu ngòi bút, thật là ứng nghiệm không sai”. Quan huyện nghe Ông la lớn như vậy nên hỏi nguyên do thì Phật tử buôn gạo bèn đem sự việc trong mộng mà Bồ tát đã dạy và những việc ứng nghiệm đã trải qua thuật lại hết cho quan huyện nghe. Lúc bấy giờ Quan huyện cùng với nha đầu mới cùng nhau suy nghĩ về bài kệ thì thấy câu 1, 2 và 4 đều ứng nghiệm, giờ chỉ cần hiểu được câu kệ thứ 3 là gì thì chắc sẽ tìm ra hung thủ. Suy đi nghĩ lại thì quan huyện bắt đầu hiểu được câu kệ thứ 3 – đấu thóc có ba thang gạo vậy thì bảy thang còn lại phải là thang trấu, như vậy thì tên nghi phạm hoặc là tên Thất Khang (trấu) hay là Khang Thất. Nghĩ ra như vậy thì quan huyện lập tức cho người đi dọ hỏi thì quả nhiên gần nhà của Phật tử buôn gạo có người tên Khang Thất. Quan huyện liền bắt đưa về nha môn để tra hỏi, chỉ sau một lần dùng hình phạt hỏi cung thì tên này đã vội vàng khai. Trước nay, Khang Thất có tư tình với vợ của Phật tử này nên đêm ấy, lúc Phật tử buôn gạo trở về thì Khang Thất không kịp chạy trốn bèn vội núp trong phòng, lúc ấy hắn nảy sinh ý định giết Ông để cho tiện thỏa ý tư tình với vợ Ông. Do trong phòng tối không có đèn nên chờ cả nhà ngủ say, hắn bò ra để giết Ông. Khi sờ vào đầu của Ông bị dính dầu hắn tưởng là của vợ Ông nên quay sang nhằm đầu người không dầu mà giết, ngờ đâu giết lầm tình nhân của mình. Quan huyện lấy lời khai xong thì ra lệnh hạ ngục Khang Thất và cho người đưa Phật tử buôn gạo về nhà. Quan huyện được chứng kiến sự việc nói trên và cảm thấy sự linh nghiệm của Quán Âm Bồ Tát phi thường, không bỏ rơi người có thiện tâm khi bị nạn nên liền phát tâm thâm tín với Phật pháp và chính mình cũng nguyện thờ Quán Âm Đại Sĩ hàng ngày, chiêm bái xưng niệm cúng dường. Riêng Phật tử buôn gạo sau sự việc đã xảy ra thì cảm thấy sự dâm nhiễm là nguyên nhân gây ra thống khổ cho thế gian nên sanh lòng chán ngán, Ông bèn xuất gia tu hành và sau này đắc đạo quả. (Trích Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm giảng lục).

LỜI BÌNH: Phật tử buôn gạo này được sự cảm ứng với Bồ tát là do Ông lúc ngày thường nhất tâm thành kính xưng niệm danh hiệu Đại sĩ nên đến lúc cấp nạn thì Đức Quán Thế Âm ở trong tự tánh của chúng sanh thùy từ cứu độ mà được giải thoát. Nếu bình nhật, Ông không chí thành khẩn thiết niệm cho thường, đến lúc đại nạn đối đầu với hiểm nguy, trong tâm sợ sệt hãi hùng, tinh thần không sáng suốt thì làm sao còn nhớ mà niệm. Chúng ta lúc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát cần phải xem như đang trong tình cảnh sắp bị xử tử, như người bị lửa cháy bao tứ bề mà cầu cứu, phải nhiếp cả sáu căn, một lòng vắng lặng, tâm nhớ miệng niệm cho rõ ràng rành rẻ, tai nghe cho rõ ràng rành rẻ, để Ý nhớ cho rõ ràng rành rẻ. Tâm, khẩu nghiệp tương ứng thì đây là bí quyết tối yếu của người trì danh, bất luận là niệm Phật hay niệm Quán Âm, nếu không được như vậy thì tâm viên, ý mã rất khó được đại lợi ích.

55. Có một người tên Cao Tuân ở huyện Tấn Dương tỉnh Hà Nam, lúc 50 tuổi thì phạm tội sát nhân nên bị bắt trói trong ngục, gông cùm xiềng xích rất nghiêm nhặt. Trong ngục, có một tội nhân bị giam chung mở lời khuyên răn những tội nhân khác rằng: “Chúng ta nên nổ lực cùng nhau trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì chắc được thoát nạn.” Trong tâm, Tuân tự nghĩ mình phạm tội sát nhân quá nặng làm sao niệm Thánh hiệu Quán Âm mà khỏi được? Nhưng những người đồng ngục vẫn hết sức khuyên răn: nếu Ông ngày đêm chí thành chuyên niệm Thánh hiệu Đại sĩ, thề từ đây bỏ dữ làm lành, lại phát nguyện nếu thoát khỏi nạn tử hình thì tôi sẽ xây phù đồ năm tầng cúng Phật và xả thân làm tôi tớ cúng dường cho tất cả chúng sanh thì Ông sẽ thoát nạn.” Tuân nghe nói như vậy thì ngày cũng như đêm, dụng tâm rất chí thành tha thiết, gông cùm xiềng xích sau đó tự rớt khỏi thân. Quan Giám Tỵ thấy lạ nên hỏi Tuân duyên cớ gì lại được như vậy thì Tuân đáp: “Tôi chỉ niệm Thánh hiệu Đại Sĩ mà được như vậy”. Quan Giám Ty liền bảo Tuân rằng: “Nếu quả thật Bồ tát thương xót cứu độ ngươi thì đến ngày xử tử hình, ngươi sẽ không chết, như thế mới đúng là sự linh ứng của Phật độ.” Đến ngày hành hình, khi đao phủ giơ đao chém đầu Ông thì dao bỗng bị gãy đôi. Quan Giám Tỵ lúc ấy mới đem toàn bộ sự việc tâu lên triều đình, nhà vua nghe xong thì liền hạ lệnh tha tội cho Ông. (Trích Tuyên Nghiệm Ký).

56. Triều nhà Tấn có Đạo Uông Pháp sư họ Phan, là người ở Trương Lạc. Lúc nhỏ, Ông theo người chú vào kinh sư, đến năm được 13 tuổi thì Ông lại đến Viên Sơn và theo y chỉ của Viễn Tổ xuất gia, nghiên cứu Kinh Luật, rất thông thuộc Kinh Niết bàn. Một hôm, Ông có duyên sự phải đến Lương Châu. Trên đường đi thì bị bọn giặc cướp bao vây và định cướp lấy hết y bát. Uông Pháp sư cùng với đệ tử nhìn thấy tình huống nguy cấp như vậy nên cả hai thầy trò cùng nhau nhất tâm thành kính xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Trong chốc lát thì bổng nhiên sương mù dầy đặc, che phủ khắp trên thân thầy trò Uông pháp sư. Bọn giặc cướp tìm kiếm khắp nơi đều không thấy nên bỏ đi, nhờ đó mà hai thầy trò được thoát nạn. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 1).

57. Triều nhà Tấn có Phật tử Trương Sương là người ở Đổ Lăng, huyện Kinh Triệu. Sương có lòng tín kính Phật pháp từ lúc thiếu niên. Vào niên hiệu Thái Nguyên nhà Tân, chúa Phù Kiên bị đánh bại nên nhân dân Trường An vô cùng lo sợ, đêm ngày chạy trốn đến khắp các nơi. Lúc bấy giờ, Sương đang trên đường trở về quê nhà cùng với năm người, thì bị binh sĩ trấn đóng bắt lại vì chúng cho rằng Ông cùng với năm người đồng bạn là người đi thám thính từ phía giặc. Tất cả đều bị bắt, cùm tay chân lại và bị chôn đến nửa thân người dưới hố, mỗi người cách nhau 20 bước chờ đến sáng ngày sau sẽ đem đi giết chết. Lúc ấy, Sương tự nghĩ khó có thể nào qua khỏi nên Ông một lòng thành kính chuyên niệm Thánh hiệu Quán Âm. Đến nửa đêm thì gông cùm bỗng nhiên tự rớt ra, nhờ đó mà Ông và mọi người bỏ trốn. Lúc chạy trốn ngang qua một ngôi chùa, Sương dừng bước hướng về chùa thành tâm niệm danh hiệu Quán Âm Bồ Tát và chí thành lễ bái, đoạn dùng một tảng đá để trước mặt, phát thệ nguyện rằng: “Nguyện mười phương Tam bảo từ bi chứng giám, xin Quán Thế Âm Bồ Tát thương xót gia hộ, hiện giờ con muốn đến Giang Nam để tỏ bày những oan ức đau khổ với Tấn vương, nhờ Ngài cứu giúp để mọi người cùng vợ con của con được thoát khỏi nạn tai. Nếu nguyện này được toại, xin tảng đá này bể làm hai để con được vững lòng an tâm mà ra đi.” Sau khi Sương phát nguyện lễ bái xong, khi vừa ngước đầu lên nhìn thì thấy tảng đá bể làm đôi. Sương bèn lên đường đến kinh đô, đem những sự oan ức khổ đau tỏ bày với Tấn vương thì liền được nhà vua ra lệnh ân xá cho những người bị bắt giam. Ông liền mang lệnh của Tấn vương về để giải cứu cho mọi người và vợ con. Sự tích trên là do Trí Sanh Đạo nhân chứng kiến nên thuật lại cho mọi người nghe để phát sanh lòng thâm tín đối với Quán Âm Đại Sĩ để được nhiều lợi ích. (Trích Minh Tường Ký).

58. Triều nhà Tấn có Sa môn Thích Khai Đạt. Vào niên hiệu Lâm An năm thứ hai, Ông đang trên đường đi thì bị cướp bắt. Lúc bấy giờ gặp nhằm lúc mất mùa nên nhà nhà đói khát, bọn cướp này hàng ngày đón đường bắt người để giết lấy thịt ăn. Khi chúng vừa bắt được Thầy Khai Đạt, liền đem nhốt trong cũi để chuẩn bị giết Thầy lấy thịt. Trong chiếc cũi chúng giam giữ Thầy, đã có trên dưới mười người đều đã bị cướp giết ăn thịt hết. Thầy Khai Đạt kể từ lúc bị bắt vẫn một lòng thành kính thầm tụng Kinh Phổ Môn không hề biếng nhác một phút. Lúc trời vừa sáng, thì bỗng nhiên có một con mãnh hổ từ trong rừng sâu nhảy ra gầm thét dữ dội, bọn cướp nhìn thấy thì kinh hoàng, khiếp vía nên bỏ chạy tán loạn, mãnh hổ bèn bước đến cắn phá thành cũi vừa đủ cho một người chui lọt xong thì thong thả bỏ vào rừng. Thầy Thích Khai Đạt lúc vừa thấy mãnh hổ đến cũi nhốt người thì cứ nghĩ phen này chắc sẽ bị cọp ăn thịt chết nhưng khi thấy cọp bỏ đi thì Thầy mới biết đó là nhờ sự thành kính xưng niệm Thánh hiệu Đại Sĩ, nên Bồ Tát đại từ đại bi hiển hiện thần lực để cứu mạng mình. Thầy nhân lúc ấy, vội vàng chui ra khỏi củi mà chạy trốn, đêm đi ngày ẩn, sau cùng được thoát khỏi tai nạn. (Trích Minh Tường Ký).

59. Triều nhà Tấn có Khoan Đạo Tú là người ở Ngô Quận. Lúc hơn hai mươi tuổi thì được triều đình phái cầm quân đi Bắc chinh, Đạo Tú bại trận nên bị địch bắt, đem bán cho người làm tôi tớ vô cùng khổ sở, trong lòng rất muốn về nước nhưng không biết làm cách nào. Đạo Tú là người tín phụng Phật pháp từ lúc nhỏ nên từ lúc bị nạn đã một lòng thành kính xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát. Đêm đêm Ông đều nằm mộng thấy Bồ tát đứng trước mặt mình. Một hôm nọ, Ông thừa dịp không có người canh gác nên bỏ trốn và nhắm theo hướng Nam mà chạy thì bị lạc vào chốn thâm sơn cùng cốc, không biết lối ra. Đang vô cùng lo lắng không biết phải đi đâu thì bấy giờ trên không trung bổng thấy kim thân Bồ tát hiện ra và chỉ bảo cho Ông đường đi về nhà. Đạo Tú thành kính lễ tạ thì trong chốc lát, tìm thấy đường về nhà. Sau khi thoát nạn về đến nhà, Ông lễ niệm Bồ tát càng tinh tấn và siêng năng tụng kinh niệm Phật, Ông sống đến sáu mươi tuổi thì tạ thế. (Trích Minh Tường Ký).

60. Triều nhà Tấn có một vị quan huyện tên là Loan Tuân, người ở Phú Bình, rất thâm tín Phật pháp. Một độ nọ Ông được lệnh đi tùng chinh ở Lô Tùng. Trong lúc giao chiến, không may chiến thuyền bị bốc hỏa lại bị giặc truy đuổi gắt gao, lúc này thuyền đang đến giữa dòng sông thì sóng gió từ đâu nổi lên dữ dội. Quan huyện thầm nghĩ chắc khó mà qua khỏi nên thành tâm hướng về Quán Thế Âm Bồ tát tha thiết niệm Thánh hiệu của Bồ tát, mong cầu mình được tiêu trừ nghiệp chướng, dù chết không bị đọa lạc vào chốn Tam đồ. Trong chốc lát, Ông bỗng nhìn thấy trong dòng sông có một người đang đứng sửng, nước đến ngang lưng. Trong lòng Ông lúc ấy tự biết do mình chí thành cầu xin và xưng niệm Thánh hiệu Đại sĩ, cảm đến Từ tâm của Bồ tát nên được Ngài đến cứu hộ thì liền nhảy xuống nước. Khi vừa rớt xuống nước thì lạ thay Ông không hề bị chìm mà đi lại như ở trên mặt đất, giây lát sau thì cứu binh đem thuyền đến tiếp ứng, nhờ đó mà quan huyện Loan Tuân được thoát nạn. (Trích Minh Tường Ký).

61. Triều nhà Tống có một Ni sư tên là Lịnh Tông, họ Mãn là người ở xã Cao Bình Kim, tỉnh Sơn Tây. Vào lúc trước khi Ni sư xuất gia thì nước nhà bị loạn lạc, giặc bắt người khắp nơi. Một hôm, trên đường về nhà thì Ni sư bị giặc đuổi bắt, Ni sư nhất tâm quy hướng Tam Bảo, trong tâm liên tục tụng kinh Phổ Môn cầu xin qua khỏi tai nạn. Ni sư theo hướng Nam mà đi thì khi đến Kỳ Châu lại bị giặc đuổi theo. Hốt hoảng Ni sư trèo lên một cây khô để trốn rồi chí thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ tát. Bọn giặc đuổi đến nơi nhưng lại không hề ngó lên cây, truy tìm một lát không thấy nên chúng rút quân trở lại. Ni sư sau đó leo xuống và nhắm hướng Nam đi tiếp thì khi đến bờ sông Mạnh Tân do trời bắt đầu tối nên không còn một chiếc ghe nào ở đó nữa. Ni sư trong lòng vô cùng lo lắng bởi thân gái một mình giữa đường trong đêm tối thì e có nhiều hiểm nguy, nên tiếp tục trì niệm Thánh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm. Trong chốc lát, bỗng Ni sư nhìn thấy có một con bạch lộc không biết từ đâu xuất hiện, chậm rãi bơi đến bờ sông. Nhìn thấy nai hiền bơi đến chổ mình, Ni sư mừng rỡ leo lên lưng nó, và cúi đầu mọp sát lưng nai thì nai liền chở qua sông. Đến bờ bên kia, Ni sư leo xuống thì toàn thân không hề bị ướt và trở về nhà an ổn vô sự. Sau khi thoát nạn, Ni sư liền phát nguyện xuất gia nhập đạo, học hạnh kiêm toàn, hưởng thọ được 75 tuổi thì Ni sư viên tịch. (Trích Tỳ Kheo Ni truyện).

62. Triều nhà Tấn có Phật tử tên là Tất Lãm là người Đông Hình, tỉnh Sơn Đông, vốn là người sùng tín Quán Thế Âm Bồ tát. Trong một lần theo tướng Mộ Dung Thùy đi chinh phạt giặc Bắc phương thì quân của Ông bị đại bại. Một người một ngựa bỏ chạy trốn nhưng bị binh giặc đuổi theo sát phía sau. Thấy tình thế nguy cấp, Ông liền tha thiết niệm Quán Âm Bồ Tát xin thoát khỏi vòng vây địch. Một lát sau ngó lại thì thấy binh giặc đã bị bỏ lại xa dần sau lung, nhờ vậy mà thoát nạn. Con ngựa chạy một lúc thì đi lạc vào núi, loay hoay đến lúc nửa đêm vẫn không biết đường thoát ra. Lúc ấy, Tất Lãm lại chí thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ tát, thì thấy có một vị Tăng pháp phục trang nghiêm, tay cầm tích trượng đến chỉ đường cho Tất Lãm, Ông vâng lời đi theo đường chỉ dẩn thì quả nhiên về đến nhà an ổn. (Trích Minh Tường Ký).

63. Vào triều nhà Tấn có quan hữu Thừa Tướng Từ Nghĩa bị quân Mộ Dung Vĩnh bắt được nên bị đem đi xử trảm. Từ Nghĩa bị cùm tay chân và chôn sống nửa người để ngày hôm sau đem đi hành hình. Thừa tướng thấy mình muôn phần không thoát khỏi nạn tai này thì một lòng thành kính thầm tụng Kinh Quán Âm. Đến lúc nửa đêm thì đất tự vỡ ra, gông cùm cũng rời khỏi thân, Ông bèn nhanh chóng thoát ra nhưng xung quanh lính canh rất đông khó thoát được. Một lúc sau, Ông cảm giác như có ai đó đang dắt mình đi, lúc đi ngang qua mặt bao nhiêu lính canh thì không tên lính nào phát hiện. Sau đó, Ông chạy về Toàn Kỳ, xứ Đường. Vua nhà Đường nghe tin thì hạ chiếu mời Ông làm Huyện Lịnh nơi Lạc Dương. (Trích Tấn Thư).

64. Triều nhà Tấn có Phật tử tên Lưu Độ là người sống trong khu vực biên thành ở Bình Nguyên, dân chúng trong vùng này có hơn nghìn gia đình đều kính thờ Quán Âm Đại Sĩ, hàng ngày đều tụng Kinh Phổ Môn niệm Phật, lễ sám. Một hôm có vị quan là Mộc Đường đến khu vực này để truy lùng bắt tù binh là Mộc Mặc và Từ Bình, hai kẻ này đang trốn tại vùng này sau khi cùng những người khác vượt thành tẩu thoát thành công. Không tìm được những kẻ vượt ngục nên Mặc Đường giận dữ ra lệnh giết sạch dân chúng trong thành. Tin đến như sét đánh ngang tai, nhà nhà đều kinh sợ. Lưu Độ khi nghe tin thì liền phát nguyện trai giới thanh tịnh và đốc xúc nhà nhà đến bảo toạ Quán Âm chí thành lễ bái, cầu xin thoát nạn. Trong lúc ấy nơi Dinh thự Mộc Đường làm việc bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống một vật lạ, chiếu sáng nơi cây cột trong tư dinh. Ông lấy làm lạ đến xem là vật gì thì nhìn thấy quyển kinh Quán Âm. Trong lòng Ông vui mừng và nghĩ có lẽ đây là điềm báo dân chúng vô tội nên lập tức xóa bỏ hình phạt tru lục dân trong vùng này, lại bảo toàn dân cùng nhau viết chép trì tụng, nhờ đó mà trong vùng này, dân chúng hoàn toàn được an ổn và thoát khỏi hẳn tai nạn gia hình. (Trích Minh Tường Ký).

65. Triều nhà Tấn, nam cung Tử Ngao là người ở Thủy Bình. Vì phạm tội nên bị đày đến thành Tân Bình, tỉnh Vân Nam. Tù binh ở thành này rất hung dữ, thừa dịp phá thành để trốn đi nên Trường Lạc Công cho bắt lại và đem đi tru lục. Tử Ngao biết mình trăm phần không qua khỏi cái chết nên chí thành niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Đến lúc hành hình Tử Ngao, thì đao phủ cảm thấy tứ chi bải oải, mỏi mệt vô cùng, không cầm nổi lấy thanh đao, đao chém xuống chỉ làm trầy sơ sơ chứ không chém được Ông. Bấy giờ chính Trường Lạc Công đích thân tự đến pháp trường, thấy sự lạ như thế nên gạn hỏi Tử Ngao. Tử Ngao ngơ ngác không biết hỏi điều gì nên Trường Lạc Công hỏi lại: “Nhà ngươi có tài năng gì mà làm cho đao phủ không cầm đao nổi?” Lúc ấy Tử Ngao đáp: “Tôi chỉ có chí thành niệm Thánh hiệu Quan Thế Âm Bồ tát”. Trường Lạc Công nghe xong tức thì ra lệnh phóng thích. Sau khi thoát nạn trở về cố hương, Tử Ngao phát nguyện tạo một tượng Quán Âm nhỏ, dùng hộp đàn hương cất giữ, đi đâu thì đội trên đầu và thường xưng niệm Thánh hiệu Quan Âm. (Trích Minh Tường Ký).

66. Triều nhà Tấn có một Ni sư tên Châu Thị, lấy hiệu Minh Cầm, là người ở Cao Bình. Khi chưa xuất gia, Châu Thị đã là người có tâm tín kính Phật pháp. Một hôm, Châu Thị bị bọn giặc cướp bắt được. Tướng cướp thấy hình dung xinh đẹp thì có ý định bắt đem về làm vợ nhưng Châu thị một mực không đồng ý, nên bị mọi hình phạt khổ sở đủ cách. Châu Thị thệ nguyện thà chết chứ không chịu nhục nên Tướng cướp nổi giận phạt Châu Thị phải đi chăn dê. Trải qua suốt 10 năm, trong lòng Châu Thị luôn nhớ nghĩ đến Tam bảo và nuôi ý hướng xuất gia đầu Phật. Một hôm trong lúc chăn dê, Châu Thị nhìn thấy một thầy Tỳ kheo đi ngang qua, bèn kể hết sự tình và cầu xin Thầy truyền trao ngũ giới. Thầy Tỳ kheo đồng ý, sau khi truyền giới pháp, Thầy trao cho Cô một quyển kinh Quán Âm và bảo phải siêng năng trì tụng. Nhận được quyển Kinh, Châu Thị vui mừng khôn xiết, ngày đêm trì tụng, mong mau sớm được về nhà. Một hôm, thừa dịp vắng người canh gác nên Châu Thị bỏ trốn, nhằm theo hướng Đông mà đi. Do không biết đường nên Châu Thị đi lạc vào chốn thâm sơn cùng cốc, đang không biết làm sao thì bỗng nhiên Cô nhìn thấy một con hổ mình vằn vện trông rất ghê sợ chỉ đứng cách mình vài bước. Thoạt vừa nhìn thấy thì hoảng sợ vô cùng, nhưng sau đó khi định tâm lại thì Cô thấy dường như mãnh hổ này không có ý làm hại mình, mà còn ra hiệu có vẻ như muốn Cô đi theo, nên Châu Thị đi theo nó. Trải qua hơn tuần lễ thì đến Tân Châu, lúc sắp bước vào làng thì chẳng thấy mãnh hổ đâu nữa. (Trích Tỳ Kheo Ni truyện).

67. Triều đại Bắc châu, ở chùa Đại Trí Viễn tại Kinh Sư có một vị Cao tăng hiệu là Tăng Nhất Thiền sư, họ Trịnh, người Võ Lăng, huyện Hàm Dương. Ông là một Cao tăng đạo cao đức trọng lúc đương thời. Một hôm, vào đúng giờ ngọ, bỗng nhiên Thiền sư lên lầu gióng đại hồng chung, chúng Tăng đều ngạc nhiên nên vội tụ họp tại Chánh điện để nghe Thiền sư giảng dạy. Thiền Sư hối thúc chúng Tăng cấp bách mau mau lên hương đèn. Sau khi lên hương đèn, chúng Tăng gạn hỏi nguyên cớ gì phải làm như vậy thì Thiền sư bảo: “Vào giờ này, có một giảng đường ở một ngôi chùa tại tỉnh Giang nam sắp sập và sẽ đè chết đến cả nghìn người nên tất cả chúng Tăng nên vân tập lên Phật điện, nhất tâm thành kính tụng kinh niệm Phật và chuyên niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ tát để nhờ Ngài cứu độ số người kia.” Tất cả chúng Tăng nghe lời Thầy nói đều vân tập vào chánh điện để tụng Kinh niệm Phật. Cách vài tháng sau, tại Giang Nam có người đến chùa kể lại, đúng giờ ngọ ngày ấy tháng ấy, trong giảng đường tại Dương Châu, tỉnh Giang Nam đang có buổi thuyết pháp, thính giả số đúng một ngàn người. Bỗng nhiên mọi người nghe tiếng niệm Phật tụng Kinh và mùi hương lạ đến từ cửa hướng Bắc của giảng đường, khi vào rồi lại bay ra ở cửa Nam. Thính chúng đều lấy làm lạ, bèn theo hướng có tiếng tụng Kinh và mùi hương niệm mà tìm. Khi một ngàn người vừa ra khỏi giảng đường thì tự nhiên cả giảng đường đổ sầm xuống nên không có một ai bị thương. Lúc ấy mọi người vô cùng kinh ngạc. Bấy giờ mọi người mới biết là tiếng tụng kinh niệm Phật và xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm của chúng Tăng ở Hàm Dương đã vang động đến tận chốn Thiền lâm ở Giang Nam. Chúa nhà Lương biết được câu chuyện này, ba phen mời thỉnh Tăng Thật Thiền Sư vào nội cung nhưng Thiền sư đều từ khước không đến. Đến niên hiệu Bảo Định năm thứ ba, triều Bắc Châu, vào ngày 18 tháng 7, Thiền sư viên tịch. Trong triều, từ vua quan cho đến bá tánh, người người đều thương tiếc, rơi lệ khi nghe tin Ngài thị tịch. (Trích Cao tăng Truyện – Tập 2).

68. Cuối triều đại Nguyên Ngụy, Sa môn Thích Pháp Thiền vào một ngày nọ khi đang vân du cùng với các pháp lữ thì gặp một toán cướp rất đông. Thầy Pháp Thiền thấy bọn chúng rất hung dữ nên biết rằng khó có thể đem Phật lý khuyên nhủ chúng. Thầy liền khuyên tất cả các pháp lữ chí thành niệm Thánh hiệu Quán Âm Đại Sĩ đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn. Kỳ lạ thay bọn cướp đuổi cách mấy cũng không theo kịp, chúng bèn giương cung lên bắn thì mũi tên đều không bật khỏi dây cung, hoảng sợ chúng vứt cung xuống đất nhưng cung tên cũng không rớt xuống được. Chúng nghĩ đây là các vị thần nhơn nên sợ hãi bỏ chạy trốn. Nhờ vậy mà thầy Pháp Thiền cùng với các pháp lữ được thoát qua tai nạn nguy hiểm này. Sự tích này do dân chúng vùng ấy kể lại. (Trích Cao Tăng Truyện – Tập 2).

69. Triều Nguyên Ngụy, Sa môn Thích Đạo Tập trên đường đi đến Thọ Dương ở tỉnh Tây Sơn thì bị giặc cướp bắt, chúng đem trói Thầy vào gốc cây để chờ đem đi giết. Khi bị bắt thì Thầy biết trăm phần sẽ chết nên một lòng chí thành niệm danh hiệu Quán Âm Bồ Tát không một phút ngơi nghỉ, đến lúc bọn giặc đem Thầy đi giết, khi cầm dao lên chém thì dao gãy từng khúc, không làm Thầy bị thương một mảy may. Bọn chúng thay dao, chém nhiều lần như vậy đều không làm thương tổn đến Thầy nên kinh hãi nghĩ Thầy là Thần nhơn nên lập tức rủ nhau bỏ chạy. Thầy Thích Đạo Tập nhờ đó mà thoát được tai nạn. (Trích Quán Âm Cảm ứng truyện & Cao tăng truyện – Tập 2).

70. Vào đời Lưu Tống có Phật tử tên Đặng Hoài Ninh, người Hà Giang, tỉnh Trực Lệ là Đại Tướng quân của Phủ Tham Quân. Một ngày nọ, Ông cùng với Quan Thái Thú Châu Thuần Chi ở Nam quận đi chinh phạt giặc Bắc phương. Chẳng may cả hai đều lọt vào vòng vây của địch. Đặng Tham quân thấy tình hình nguy khốn nên mở đường bỏ trốn cùng với Thái thú và một nhóm quân. Tất cả chạy theo hướng Nam, đêm đi ngày ẩn, liên tục suốt ba ngày đêm. Vì sợ quân địch vẫn còn đuổi theo nên Ông cho người đi do thám, nhưng đợi đến mấy ngày sau vẫn không thấy người này trở lại. Một đêm nọ trời mưa to gió lớn, vào lúc rạng sáng thì người dọ thám này quay trở lại. Người ấy cho biết trên đường trở về thì từ xa nhìn thấy nơi này có đèn lửa rất sáng nên mừng rỡ chạy về hướng này, tuy vậy khi gần đến nơi thì lại thấy tối om nên phải đợi đến sáng mới tìm được đường về. Thái thú Tuần Chi nghe nói rất ngạc nhiên vì đêm qua trời mưa to gió lớn nên không có ai đốt đèn cả. Lúc ấy Thái thú dò hỏi thì mới biết Đặng Tham quân là người tín phụng Phật pháp từ lúc nhỏ. Đến khi làm Đại tướng trong quân đội, mỗi khi xuất chinh, Ông đều đội Kinh Phổ môn trên đầu, luôn mặc tụng trong đầu không hề bỏ bê. Mỗi khi đêm xuống hay lúc thức giấc, Ông đều đọc tụng thuộc lòng. Mọi người đều tin rằng chính nhờ thần lực của Pháp bảo mà Đặng Tham quân đội trên đầu nên mọi người đã qua khỏi tai nạn. (Trích Minh Tường Ký).

71. Viên Đội trưởng Lý Nho Tuấn là một Phật tử thuần thành. Lúc làm Quan Võ, đống trấn tại Hổ Lao, có một lần Ông bị quân nhà Ngụy bao vây thành rất nghiêm ngặt. Nho Tuấn trong tình thế nguy cấp, chờ đến đêm tối thì trèo ra ngoài thành, thấy binh địch bao vây tứ phía nhưng đều ngủ mê nên Ông liền nhất tâm niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát trong lúc đi chậm rãi ngang qua dinh trại của địch. Không bao lâu thì quân địch phát hiện nên đuổi theo bắt Ông lại, Nho Tuấn muôn phần sợ hãi nên nhất tâm mặc tụng Kinh Phổ Môn. Giờ phút ấy bỗng đâu có một con tuấn mã chạy đến bên cạnh, Nho Tuấn vốn là võ tướng kỵ mã nên Ông hết sức vui mừng, bèn nhảy lên tuấn mã và phi như bay khỏi trại địch, nên thoát được đại nạn. (Trích Biện Chánh Luận).

72. Phật tử Mao Đức Tổ người Tấn Dương, tỉnh Hà Nam là người sùng tín Phật pháp. Trong nhà, Ông thờ kính Quán Âm Bồ tát rất trang nghiêm, hằng ngày cả nhà đều lễ bái xưng niệm. Một hôm trên đường đến Giang nam thì Ông gặp một toán cướp cưỡi ngựa đuổi theo bắt. Ông hoảng sợ trốn vào một bụi cỏ bên vệ đường, vì bụi cỏ không rậm nên chỉ che được nửa thân người Ông. Biết rằng khó chạy thoát nên Đức Tổ một lòng thành kính xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm. Trong chốc lát, bỗng trên trời mây kéo dày đặc, mưa đổ xuống như trút nước, sấm chớp nổi lên đùng đùng dữ dội nên toán cướp hoảng sợ giục ngựa phi bỏ chạy. Đức Tổ nhờ vậy mà thoát được tai nạn. (Trích Biện Chánh luận).

73. Phật tử Bùi An có lần đi đường bị giặc cướp bắt và mang đi theo, sau đó thừa cơ hội không có người canh giữ nên liền trốn thoát. Ông lần theo hướng Nam mà đi thì lúc đến bến sông bị tắt đường, không qua được, lúc ấy bọn cướp cũng vừa phát hiện nên đuổi đến gần. Bùi An biết rằng trong giờ phút này sanh mạng trăm phần nguy hiểm, nên chí thành cao tiếng xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ tát. Bỗng nhiên ngay lúc ấy Ông nhìn thấy một con chó sói trắng lội qua sông đến nơi Bùi An đứng, Ông mừng rỡ nhảy thót lên mình chó sói, cúi người ôm sát đầu chó sói để nó chở qua sông. Qua đến bờ bên kia, Ông vẫn còn chưa hoàng hồn thì chó sói đã biến mất. Bọn cướp đuổi theo đến bờ sông thì không còn thấy Ông ở đâu nên ngơ ngác ngó nhau rồi rút lui. (Trích Quán Âm Huyền nghĩa sơ ký).

74. Triều đại Lưu Tống có Sa môn Thích Huệ Hòa là vị Tăng ở chùa của dân chúng tạo tại Kinh sư. Vào niên hiệu Nguyên Gia, trong nước bị loạn. Lúc ấy Ông vẫn là người chưa xuất gia, là bộ hạ của Đại tướng Lưu hồ. Lưu Hồ lúc ấy cử khoảng hai muơi người đi làm quân gián điệp thám thính binh tình của địch tại Đông Phương, trong đó có Huệ Hòa. Khi vừa đến Thước Từ thì mọi người đều ly tán. Huệ Hòa cải trang thành một nông dân, mặc đồ rách rưới, vai gánh, tay xách giống như nông dân. Chẳng may, Ông gặp phải quân lính đang lùng bắt gián điệp gắt gao, trông thấy hình tướng của Ông, chúng sanh nghi nên chặn lại hỏi, khi hỏi đến Ông thì nhiều câu Ông trả lời không đúng nên chúng bắt Ông đem về xử trảm. Từ lúc cải trang đến khi bị bắt, Ông đều một lòng thành kính mặc tụng Kinh Phổ Môn. Đến lúc sắp bị chém thì việc tụng niệm càng chí thành. Khi đao phủ giơ đao hành hình thì đao Ông bị gãy, bọn giặc cho rằng Ông là thần nhân nên phóng thích. Sau khi thoát nạn, Ông xuống tóc xuất gia đầu Phật, giới luật nghiêm trì thành một vị Cao tăng thời bấy giờ. (Trích Minh Tường Ký).

75. Triều đại Lưu Tống có Phật tử tên Vương Huyền Mô là người ở quận Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, làm Tướng quân tại Ninh Sóc. Lúc ấy Chúa nhà Ngụy là Thác Bạc Thọ, kéo đại quân đến bao vây xứ Ngoạt Đài. Doanh trại Huyền Mô bị vây hãm, binh sĩ thất thủ bỏ chạy nên Huyền Mô bị bắt đem đi xử tử. Lúc sắp bị hành hình, có người đến bảo Ông nên tụng kinh Phổ Môn ngàn biến thì có thể thoát được tử nạn, nói xong thì trao cho quyển kinh. Huyền Mô trước khi làm Tướng quân là một Phật tử thuần thành, đọc tụng thuộc làu kinh Phổ Môn vì thế nên khi được tặng cho quyển kinh thì Ông đã đọc tụng cho đến lúc đem ra pháp trường, trên đường đi Ông vẫn trì tụng không dứt, khi đủ số 1,000 biến thì bổng nhiên lúc ấy nhận được lệnh của triều đình hủy bỏ việc hành hình. (Trích Tống Thơ và Nam sử).

76. Đời Lưu Tống có vị Sa môn là Thích Đàm Vô Kiệt, Ông cùng với các đồ đệ của mình đến Tây Vực để thỉnh kinh. Khi đến nước Kế Tân, Ông thỉnh được một bộ kinh Quán Thế Âm Thọ ký viết bằng Phạn văn. Thầy trò lại tiếp tục lên đường đến miền Trung Thiên Trúc. Trên đường đi gặp rất nhiều tai nạn nhưng Thầy trò Ông đều chí thành, đồng nhất tâm thệ niệm nơi bộ kinh Quán Thế Âm Thọ ký đang mang theo, không một phút xa rời. Lúc đến nước Xá vệ, thầy trò Ông gặp phải một bầy voi rừng dữ tợn chắn đường nên nhất tâm quy mạng Đại Sĩ, chuyên tâm niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Lúc Thầy trò Ông đang niệm thì bỗng nhiên có một con sư tử từ trong rừng sâu nhảy ra, đuổi bầy voi chạy mất. Sau đó đi tiếp thì lại gặp đàn trâu rừng đang gầm thét và lao về phía thầy trò Ông. Đàm Vô Kiệt cũng nhất tâm niệm Thánh hiệu Bồ Tát Đại sĩ thì trong chốc lát, trên trời bỗng xuất hiện chim Đại thứu lao vút xuống đàn trâu, làm cho chúng hoảng sợ bỏ chạy mất. Thầy trò Ông nhờ vậy qua khỏi mọi tai nạn trên đường đi. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 1).

77. Triều đại Lưu Tống có người đàn bà tên là Sa Thị. Con của Bà là Vương Thanh Nê bị bắt làm tù binh, ngày ngày phải làm việc khổ sai trong trại lính. Sa Thị là một Phật tử tín kính Phật pháp rất thuần thành. Từ ngày con bị nạn, Bà mỗi đêm đều đến trước Phật đài, đốt bảy ngọn đèn cúng dường Tam bảo và chí thành khẩn thiết xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Đại Sĩ, cầu nguyện cho con mau thoát nạn và được trở về nhà bình an. Thực hành như thế trải qua một năm. Một ngày nọ, người con lừa lúc sơ suất của lính canh nên bỏ trốn, theo hướng Nam mà chạy. Lúc chạy trốn thì đêm đi ngày ẩn nên sau đó không còn biết phương nào mà chạy. Điều lạ lùng là khi mỗi đêm đi thì nhìn xa xa đều trông thấy có bảy đốm lửa giống như trong xóm đang đốt đèn lửa, nên người con cứ theo hướng ấy mà chạy. Trải qua bảy ngày đêm thì bổng nhiên Anh chạy được về đến nhà. Đứng trước cửa nhà mình thì thấy Mẹ đang quỳ mọp trước Phật đài, trên bàn Phật cúng bảy ngọn đèn sáng rỡ. Lúc ấy cả hai Mẹ con mới hiểu được nguyên nhân của bảy đốm lửa dẫn đường từ những ngày trước chính là do Thần lực của Đại sĩ đại từ đại bi cứu nạn. (Trích Tuyên Nghiệm Ký).

78. Triều nhà Lương có thầy Thích Tăng Lãng bị binh sĩ nhà Ngụy bắt cùng với người bạn đồng học. Trên đường đi, thừa lúc lính canh sơ hở thì bỏ trốn nhưng vì quân phòng thủ nghiêm nhặt nên không thoát được vòng vây. Khi chạy đến bên ven núi như bức vách cao thì nhìn thấy một cây đại thọ. Lúc ấy trời đã tối, Thầy liền dùng dây cột lên đại thụ để theo dây trèo xuống vực núi, do trời tối không thấy mà ven chân núi phía dưới vực lại toàn gai góc không thể đặt chân xuống, nên phải ở trong cảnh ấy nắm dây treo mình tòn ten giữa vực thẳm, khó có thể nào chịu đựng lâu được. Thầy cùng đồng bạn trong tình thế nguy cấp này bèn chí thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát. Trong chốc lát bỗng thấy có tia sáng mặt trời chiếu trên đầu, soi sáng khắp khu vực núi, nương nhờ ánh sáng ấy mà thấy được dưới chân núi giữa đám gai có chổ có thể đặt chân, nên trèo được xuống. Khi chân vừa chạm mặt đất, thì trời liền trở lại tối om như trước. Cả hai người đợi đến lúc trời sáng, thì lại nghe thấy binh sĩ nhà Ngụy thổi sừng làm hiệu lệnh phát binh truy tìm. Trong thâm sơn cùng cốc, Thầy và người đồng bạn hoàn toàn lạc lối, cố gắng tìm đường nhưng vô vọng. Lúc ấy bỗng đâu xuất hiện một con mãnh hổ ở phía trước mặt. Thầy Tăng Lãng liền nói với người đồng bạn: “Chúng ta chí thành xưng niệm Thánh hiệu Bồ Tát Quán Âm, chắc có cảm ứng đến Từ tâm của Bồ tát cho nên đêm qua Ngài đã cho quang minh chỉ dẩn đường, giờ đây chúng ta lại không tìm được lối ra mà gặp mãnh hổ, chắc là do Bồ tát từ bi lại chỉ đường thoát nạn cho chúng ta.” Nói rồi bèn cùng đi về phía mãnh hổ. Nhìn thấy hai người đi về phía mình thì mãnh hổ thong thả đi trước. Lúc nào cả hai người mệt đi chậm thì mãnh hổ cũng ngừng nghỉ, rồi lại tiếp tục đi. Đi suốt mấy ngày đêm như vậy thì Thầy ra khỏi chốn rừng núi hiểm nguy đó. Khi ra khỏi rừng thì mãnh hổ cũng biến mất không còn tìm thấy một dấu vết nào. (Trích Cao Tăng truyện – Tập 1).

79. Có một Phật tử tên là Vương Ất, sanh trưởng trong một gia đình cha mẹ đều là người thâm tín Tam Bảo nên Vương Ất từ lúc năm tuổi đã biết trì chú Như Ý Bảo Luân và rất tin cần. Vào niên hiệu Khai Nguyên năm đầu, Vương Ất cùng với hai người bạn đi đến Bắc hà. Lúc lên thuyền thì người chủ thuyền ấy tỏ ra rất thân mật, khi đến giữa sông thì người chủ thuyền bèn lấy rượu thịt và thức ăn ngon chiêu đãi mọi người. Lúc người chủ thuyền trao rượu cho Ất uống thì bỗng nhiên Ất nghe trên không trung có tiếng bảo đừng uống, trong tâm Anh thấy vô cùng kinh ngạc nên thừa lúc mọi người không để ý, lén nhả rượu ra ngoài. Mọi người uống rượu vào thì tất cả đều say và lăn ra ngủ, riêng Ất thì vẫn tỉnh. Khi thuyền đi đến tối thì ghé vào bờ để qua đêm, trong lòng Ất lúc ấy vẫn suy nghĩ mãi về sự hào phóng của người chủ thuyền, và nghi ngờ ắt phải có việc gì đây nên không dám ngủ mà chí thành trì niệm Thần chú. Ngay lúc ấy, Ất bỗng nhìn thấy tên chủ thuyền tay cầm chiếc búa sáng loáng, nhảy vào đám người đang nằm ngủ say kia, thoắt một cái đã ra tay chém chết người nằm ngoài bìa, sau khi hắn chém chết hai người bạn của Ất thì đi về phía Ất. Lúc bấy giờ, Ất mọp đầu xuống sát ghe, miệng vẫn trì tụng thần chú để chờ chết. Giờ phút ấy, tự nhiên đèn trong thuyền vụt tắt, tên chủ thuyền chém loạn xạ, trúng vào lưng Ất nên máu chảy lênh láng. Đột nhiên, ở cái cửa đã bị đóng đinh và khóa chặt từ lâu, có hai người đạp cửa xông vào, dìu Ất xuống sông. Do nước sông quá sâu không lội qua sông được nên hai người này khiêng Ất lên bờ. Ất bị chém ba nhát búa nên máu chảy lênh láng khắp người nhưng kỳ lạ là không hề thấy đau đớn. Khi ra khỏi chiếc ghe, gió thổi đến thân thì máu tự động ngừng chảy, chổ bị thương cũng tự lành. Đặt Ất xuống bờ sông, hai người lạ cũng biến mất. Ất lần mò trong đêm tối mịt mù, đi được một đoạn đường thì đến được một ngôi nhà lá. Anh bèn xin vào nghỉ trọ để dưỡng thương. Ở đây được năm sáu ngày thì Ất nghe người đi đường bàn tán về việc có một tên chủ thuyền vừa bị bắt tại Biện Châu Cơ về tội giết người. Lúc bị bắt, tên chủ thuyền tàn độc này khai rằng khi hắn ra tay hạ sát được bốn người xong thì lúc đến chổ của người thứ năm thì đèn trên thuyền bổng phụt tắt nên hắn chém loạn xạ. Sau đó thì thấy người này mất tích nên trong lòng hắn vô cùng hoảng sợ, người như mê sảng vì thế nên bị phát hiện và bị bắt. Vương Ất bị chém ba vết búa, hai vết thương đã lành, còn một vết thương bị nặng nhưng đều không tổn hại đến gân xương nên Anh ở lại đó điều trị thêm vài ngày, không bao lâu thì tất cả vết thương đều lành lặn như cũ. (Trích Quảng Dị Ký).

80. Triều nhà Đường, vào niên hiệu Thiên Bảo năm đầu có một người tên là Thành Khuê, làm Thái úy ở huyện Thường Sa, chịu trách nhiệm về việc vận tải cây gỗ đến Hà Nam để làm cầu. Trong chuyến đi đến Hà Nam, khi thuyền của Ông vừa đến Dương Châu thì gặp mưa to gió lớn, sóng nổi dậy rất cao nên thuyền bị chìm, cây gỗ bị thất lạc rất nhiều. Quan Châu Ty cho rằng Thành Khuê đã mượn cớ để trộm gỗ đem bán nên cho tra khảo rất tàn khốc. Chịu không nổi việc tra khảo nên dù không có tội, Thành Khuê vẫn phải nhận tội. Quan Châu Ty bèn đệ đơn lên Đầm Phủ về tội trạng của Thành Khuê. Ban Cảnh Sai là quan tại Đầm Phủ bèn phái Vương Cẩn đến Dương Châu giải Thành Khuê về trị tội. Vương Cảnh là người tham lam muốn ăn đút lót nên khi giải phạm nhân đi, thì không gông cùm xiềng xích, dẫn đi đường bộ đến Giang Ninh, đưa xuống thuyền rồi mới dùng xiềng xích trói Thành Khuê và bỏ vào phòng kín chỉ chừa một lổ để đưa thức ăn vào. Thành Khuê trong lòng biết rằng khi đến Đầm Phủ chắc không qua khỏi nạn hình, nên trong lòng thành kính xưng niệm Quán Âm Bồ tát tầm thinh cứu khổ nạn. Thành Khuê hàng ngày chỉ được cho ăn một bữa, có khi cũng không cho ăn, chỉ có uống nước cầm hơi qua ngày. Trải qua hơn mười ngày như vậy thì đến Từ Châu. Lúc này trời cũng đã tối, Thành Khuê vẫn chí thành khẩn thiết tụng niệm. Trong phòng tối lúc ấy, tự dưng gông cùng đều rớt khỏi thân người, Khuê biết chắc là do thần lực của Bồ tát giúp đỡ nên đợi đến đêm khuya mọi người đã ngủ thì bỏ trốn. Ông đi ra phía sau thuyền, đến nơi phòng của Vương Cẩn gọi Cẩn dậy và hỏi: “Vương Cẩn, ngươi đối với ta như thế nào?” Vương Cẩn kinh hãi ngồi dậy hỏi: “Tại sao ngươi đến được chổ này?” Thành Khuê bèn đáp: “Ta thà đem thân mạng chôn trong bụng cá, đâu cam chịu chết dưới bàn tay của các ngươi.” Nói xong thì Thành Khuê lao người xuống dòng nước. Khi thân chạm nước thì trong giây lát, Ông gặp một miếng ván lớn, ở giữa có cây trụ lớn. Thành Khuê leo lên ngồi trên miếng ván, tay ôm cây trụ thì nổi lình bình trên mặt nước. Lúc ấy trời tối đen như mực, nhìn ra bốn phía mênh mông, Ông càng chí thành tha thiết niệm Quán Âm Bồ tát. Miếng ván ấy theo sóng đánh, trôi vào một bãi lao sậy. Khi trời sáng thì Ông ra khỏi bãi lao sậy ấy, đi vào trong xóm, dân chúng bèn giúp đỡ đưa Ông đến Từ châu. Sau khi thuật lại những tai nạn đã qua với các quan đồng liêu thì ai cũng đều thương cảm, mọi người đều giúp đỡ lương thực và ngựa cưỡi để Ông trở về kinh đô kêu oan. Khi đến Kinh đô, Ông đến gặp quan Ngự sử để tỏ bày nổi oan ức khổ đau trong thời gian qua. Nghe hết câu chuyện của Ông, quan Ngự sử vô cùng cảm động và tâu lên triều đình nên Ông được tha tội. Quan Ngự sử cũng nhân chuyện này mà phát tâm thâm tín với đức Từ bi cứu độ của Quán Âm Bồ tát. (Trích Tập Dị Ký).

81. Triều nhà Đường có Phật tử tên là Từ Thiện Tài, người ở huyện Lễ Tuyền tỉnh Thiểm Tây. Thiện Tài quy y Tam bảo, trường trai giữ giới từ lúc nhỏ, và thường đọc tụng Kinh Phổ Môn đến hơn vài ngàn biến. Một hôm, Ông đến chùa Viên Hưng ở Kinh thành để dự trai tăng cùng chúng tăng nơi chùa ấy. Xong việc thì trên đường trở về nhà, chẳng may gặp phải bọn rợ Hồ man rợ chuyên bắt người Hán đem đến Hồng Nhai để giết. Rơi vào tay rợ Hồ, Ông biết mình khó thoát khỏi bàn tay hung ác của bọn chúng nên nhất tâm mặc tụng Kinh Phổ Môn, không còn quan tâm gì đến cảnh vật xung quanh. Khi bọn chúng đem Ông đi giết, Ông vẫn không hay biết gì. Đến nửa đêm thì mới thấy mình đang ở trên cành cây của một đại thụ đứng giữa suối sâu cách bờ trên ba trăm mét. Thiện Tài dùng tay sờ nơi cổ thì có cảm giác hơi đau nhức nhưng không thấy có vết thương. Ông bèn lần mò trèo xuống suối, men theo dọc bờ suối đi về hướng Nam khoảng năm sáu mươi dặm thì trời dần sáng. Lúc ấy, Ông đã cách bọn giặc rất xa nên về đến nhà bình an vô sự. Đến nơi, Thiện Tài kể lại cho mọi người nghe nên ai cũng tán thán lòng đại từ đại bi của Quán Âm Đại Sĩ. Sự tích này do Uyển Pháp sư thuật lại. (Trích Pháp Uyển Châu Lâm).

82. Tại Ngô quận có Phật tử Lục Huy. Vì phạm tội nên bị bắt trói tống vào ngục và đợi ngày xử tử. Trước khi vào ngục, Ông căn dặn người nhà phát tâm thành kính tạo tượng Quán Âm Bồ tát để hàng ngày lễ bái xưng niệm cúng dường, cầu xin cho Ông thoát nạn tử hình. Đến khi Ông bị đem ra chém thì đao liền bị gãy. Cả ba lần chém thì ba lần đao đều bị gãy, nên không gây thương tích gì cho Ông hết. Quan giám sát kinh ngạc dò hỏi nguyên cớ thì Lục Huy cho biết: “Trước khi bị bắt vào ngục, tôi có thành kính phát nguyện và bảo người nhà tạo tượng Quán Thế Âm để lễ bái cúng dường, cầu xin thoát khỏi tử tội. Chắc do nhờ từ lực của Bồ tát nên đao bị gãy ở pháp trường không chém được.” Quan giám sát nghe việc ấy rồi thì tâu lên triều đình, nhà vua nghe xong thì hoan hỉ phát lệnh tha cho Lục Huy. Sau khi thoát nạn về đến nhà thì Lục Huy đến trước Phật đài để lễ bái Đại sĩ, Ông xem lại thì thấy trên cổ có vết tích của ba lần dao chém. (Trích Tuyên nghiệm ký).

83. Triều nhà Đường vào niên hiệu Quán Khải có giặc Hoàng Sào nổi loạn. Bọn chúng đi đến chổ nào thì chổ ấy xác người chất đầy khắp nơi, máu chảy như sông. Vì thế nên từ thành thị cho đến nông thôn, nhà nhà đều bỏ chạy trốn nên đâu đâu cũng như là chốn hoang vu. Một hôm nọ, chúng kéo đến Hàn Châu, dân ở đây vô cùng kinh sợ, già trẻ gái trai cả mấy vạn người kéo nhau đến trước bảo tọa thờ đức Quán Âm Bồ Tát, tiếng xưng niệm lẫn tiếng khóc than vô cùng thảm thiết. Muôn người như một, thành tâm cung kính cầu nguyện xin Bồ tát gia hộ cho qua khỏi tai nạn này. Trong xứ Hàn Châu thời ấy chỉ có tướng Tiền Lưu là người có thể cứu nguy cho mọi người nên nghe tin giặc đến, Tiền Lưu tập họp binh mã và mang quân ra để chống cự lại. Lúc hai bên đang giao chiến, Tiền Lưu và binh sĩ bỗng nghe trên không trung có tiếng niệm Phật tụng kinh, khi ngước nhìn lên thì thấy Bồ tát Quan Thế Âm thân tướng đoan nghiêm, đứng nơi cụm bạch vân, có hoa sen đở chân, tràng phan bảo cái, cờ xí rợp trời cùng hỏa đầu kim cương, chúng Thiên long bát bộ vô lượng vô biên theo hầu Bồ tát. Nhìn thấy cảnh tượng trang nghiêm ấy, binh sĩ của Tuyền Lưu như có thêm sức lực gấp trăm lần, ngược lại, tướng giặc Hoàng Sào kinh sợ tự thán: “Không được, đây là Phật quốc rồi”, nên lập tức hạ lệnh rút hết binh chỉ trong một ngày, nhờ vậy mà Hàn Châu đang trong cảnh bị bao vây được trở lại cảnh thái bình an lạc. Tướng Tiền Lưu từ ấy trở đi càng thâm tín đức Từ bi cứu khổ cứu nạn của Quán Âm Đại Sĩ. (Trích Thiên Trúc Chí).

84. Triều nhà Đường, thời vua Chiêu Tôn, niên hiệu Càng Ninh năm đầu, vào lúc tháng Giêng tại xứ Việt Châu có tên Đổng Xương dấy quân nổi loạn. Chúng đốt phá kho lương thực của phủ địa phương, bắt quan lại chém giết, dân chúng Chiết Giang thời ấy vô cùng sợ hãi, vô số người đã bị chúng giết chết và bị thương. Quan Tiết Đô Sứ lúc ấy là Tiền Lưu, trấn đóng tại Hải Ninh, nghe tin nên đích thân đến trước Đại sĩ Quán Thế Âm Bồ tát chí thành lễ bái, xưng niệm cầu nguyện Đại Sĩ từ bi gia hộ cho muôn vạn sanh linh mau thoát qua khỏi họa hại hoạn ly này. Sau khi cầu nguyện xong, Ông dẫn quân đi trừ diệt quân nổi loạn. Khi hai bên đang chuẩn bị giao chiến thì mọi người bỗng nghe trên không trung có tiếng muôn ngàn kỵ binh rầm rộ, Đổng Xương kinh ngạc không dám tiếp chiến và hạ lệnh rút binh, toàn xứ Việt Châu nhờ vậy mà được bình an vô sự. (Trích Thiên Trúc Ký).

85. Ở Thái Bình Châu có tên Lục Đức một ngày nọ mưu phản nên kéo binh đốt nhà, cướp của dân chúng, và giết hại quan lại địa phương. Vị quan Từ Thái Quý ở Vu Hồ khi bọn chúng kéo đến, trốn không kịp nên bị chúng bắt đem đi hành hình. Lục Đức đích thân đem Từ Thái Quý ra xử trảm, khi chuẩn bị chém Ông thì thấy nơi cổ của Thái Quý có ba đường hào quang xuất hiện nên dừng tay không dám giết hại, lại còn bảo người đem tài sản giao trả lại hết. Lục Đức hỏi thăm duyên cớ thì Thái Quý cho biết Ông là một Phật tử thâm tín, thuần thành với Phật giáo, mỗi ngày Ông đều xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm một ngàn biến và tụng một Bộ kinh Viên Giác, thế nên trong lúc muôn phần khó thoát đã được Bồ tát từ bi che chở, qua khỏi một cách tự nhiên. (Trích Vi Kiện Chí).

86. Triều đại nhà Tống ở tại Hà Dương có một vị quan tên là Thế Hanh, Ông cũng là một Phật tử thuần thành, ngày ngày đều chí thành lễ bái Quán Thế Âm Bồ tát và cung kính niệm Thánh hiệu Đại Sĩ. Niên hiệu Khánh Nguyên vào năm đầu, Ông phát nguyện tự tay mình sẽ sao chép kinh Phổ Môn hai trăm quyển để bố thí cho mọi người trì tụng. Sau khi phát nguyện xong, Ông trai giới thanh tịnh, thành kính viết chép vừa được hai mươi quyển thì bỗng đâu có một đám quạ vài mươi con đậu trên nóc nhà kêu la thảm thiết. Thế Hanh nghe tiếng quạ kêu thì đứng lên đuổi chúng đi nhưng chúng không chịu bay. Ông bèn đến trước Đại Sĩ lễ bái cầu nguyện và khi bước ra sân để đuổi chúng đi lần nữa thì lần này Ông nhìn thấy có một con quạ bị trúng tên chảy máu, những con xung quanh đang vì con quạ bị thương, cố gắng nhổ tên ra mà không được, do vậy mà chúng kêu la buồn thảm. Thế Hanh bấy giờ vội xưng niệm Nam mô Bảo Thắng Như Lai, Nam Mô Cứu khổ Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát, rồi dùng cây bút mình đang chép kinh chỉ thẳng về phía con quạ, bỗng dưng mũi tên kia liền rớt khỏi thân quạ, con quạ kia liền được bình phục. Bầy quạ vui mừng, tất cả đều bay lên trời. Thế Hạnh đến trước bảo tọa để đảnh lễ Đại Sĩ thì mũi tên từ mình quạ rơi xuống sân lúc nãy đã ở bên cạnh nơi thờ Phật. Sự linh nghiệm này thật không thể nghĩ bàn. (Trích Chuyển Nhơn lục).

87. Triều nhà Tống của vua Thái Tông, vào niên hiệu Ung Hy năm thứ 3, vào lúc tháng năm, Đại tướng Tào Mân bị đánh bại ở Kỳ Câu nên tình thế nước nhà ở vào thế nguy kịch. Thái Tông Hoàng đế trong lòng vô cùng lo buồn, liền sai Viên Nội sứ đi đến Thượng Thiên Trúc, chí thành lễ bái cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi giải cứu ách nước nạn dân. Viên Nội sứ vâng lệnh Thái Tông hoàng đế đến Thượng Thiên Trúc cầu nguyện thì trong đêm ấy, binh sĩ trong trại bỗng nhìn thấy ở phía sau ánh sáng ngọn lửa, có một vị tướng mặc kim giáp, cao chừng vài trượng, đứng ở trên mây trắng, đang cầm cờ đỏ chỉ huy để binh sĩ tiến đánh vào trại giặc. Binh sĩ cảm thấy vô cùng hăng hái nên lập tức tiến quân tấn công, còn quân địch thì kinh hồn bỏ chạy tán loạn, toàn bộ quân giặc lập tức lui binh, trả lại cho Kỳ Câu sự an bình như trước. (Trích Thiên Trúc Ký).

88. Tại Phủ Quảng Tín, tỉnh Giang Tây có một cái động thờ phụng Quán Thế Âm Bồ Tát. Theo người đời truyền lại thì vào triều đại nhà Tống, một số dân chúng tại Núi này chuyên khai thác lấy mỏ đồng để sinh sống, nên họ đào núi thành một cái hang sâu không tưởng tượng được. Một ngày nọ, bỗng đâu xuất hiện một cô gái vô cùng xinh đẹp, tay xách một cái lồng cá lia thia đứng ngoài cửa hang rao bán. Những người thợ đang làm việc, nghe tiếng rao bán cá, thấy lạ đua nhau chạy ra xem. Mọi người vừa chạy ra hết thì ngọn núi sập xuống, mọi người còn đang kinh hoàng thì lúc ấy cô gái bán cá cũng bổng nhiên biến mất. (Trích Quảng Tín Phù Chí).

89. Tại huyện Tu Văn, Quý Châu có một động bạch thủy chuyên sản xuất thủy ngân. Quan huyện vùng này xây cất nhà cửa cho dân chúng sinh sống để khai thác lấy thủy ngân. Số nhân công ước trên nghìn người, sống ở dưới chân núi trong khoảng vài trăm nóc nhà. Cách khu vực họ ở khoảng vài dặm là một con suối nước trong veo nhưng lại gần cạn. Một hôm nọ có một người phụ nữ tuyệt đẹp đến suối ấy tắm, nên dân chúng hiếu kỳ bỏ nhà kéo ra xem. Khi ra gần đến suối thì ngọn núi bỗng nhiên sập xuống, đè bẹp hết nhà cửa nhưng may mắn không có người bị thương, người phụ nữ đang tắm trong suối lúc ấy bỗng nhiên cũng biến mất. Dân làng chuyển đến xây dựng làng mạc ở một khu vực khác. Hơn ba năm sau, một số người trong làng đến khu núi sập trước đây để tìm thuốc thì nghe trong đống đá có tiếng gọi cứu, mọi người sợ hãi bỏ chạy thì nghe tiếng kêu lớn: “Tôi đây là Triệu Nhị ở trại Tây, năm xưa bị núi sập đá đè nhưng may mắn có một lổ hở trống giữa đống đá nên thoát chết. Xin mọi người cứu giúp”. Mọi người nghe nói đến nơi, moi đống đá ra thì cứu được nạn nhân. Ra khỏi đống đá thì Nhị Triệu kể lại: “Khi núi mới sập thì tôi hôn mê bất tỉnh, đến khi tỉnh lại thì thấy bốn phía đều là đá, chỉ có một chổ trống đủ dung thân không cách gì ra khỏi được. Tôi bị đói khát, khổ sở không cách gì tả xiết, lúc ấy Tôi nhìn thấy bên cạnh có một con chuột trắng nằm nép bên cạnh thân tôi, chuột ấy có đôi mắt sáng lóa như điện chớp, chiếu soi trên vách đá nên Tôi nhìn được trên đó có những hàng chữ. Đó là những chữ trong kinh Phổ Môn mà tôi thường tụng ở nhà. Chuột ấy le lưỡi liếm vào chữ trên vách đá và nuốt vào bụng. Tôi lấy làm lạ, bắt chước nó làm thì cảm thấy mỗi lần nuốt một chữ thì trong người bớt đói khát. Từ đó về sau, mỗi lần liếm một chữ là trong bụng no đến mấy ngày. Trải qua thời gian ba năm đến nay, chữ liếm đã gần hết, chỉ còn vài hàng mà thôi, may gặp được người đi tìm thuốc nên được cứu. Triệu Nhị lúc chưa bị nạn là người thâm tín Phật pháp, thành thật và chất phác. Ngày ngày dù công việc có bận cách mấy thì mỗi buổi sáng sau khi thức dậy cũng dành thời gian để lễ lạy Quán Âm Bồ Tát, thành kính đọc tụng kinh Phổ Môn và thần chú trong kinh, trải qua hơn mười năm không thiếu một ngày nào. Sau khi thoát nạn, Triệu Nhị trở về nhà, khi mở quyển kinh thường đọc tụng thì thấy quyển kinh đều mất hết chữ, trong đó chỉ còn lại vài hàng sau cùng như những hàng chữ còn lại trên vách đá. (Trích Dị Đàm Khả Tín lục).

90. Ở Lục Đô, tỉnh Hà Tây có Phật tử tên là Ngô Sĩ Khải, là người thâm tín Tam bảo và phát nguyện trọn đời trì tụng kinh Phổ Môn. Ông sống đến trên tám mươi tuổi mới thệ thế. Sau khi Ông mất thì người nhà cất quyển Kinh Ông tụng hàng ngày trong một phòng trống ở trên lầu. Một ngày nọ, đám trẻ con là con cháu ông lên phòng này đùa giỡn bị trượt chân té từ trên lầu xuống đất nhưng không đứa nào bị thương tích. Ngạc nhiên nên người nhà hỏi thì chúng đều bảo: “Khi chúng con vừa bị trượt chân té thì có một bà già mặc bạch y từ trong phòng trống trên lầu chạy đến bồng lấy chúng con nên không một ai trong chúng con bị thương tổn”. Con cái Ông lúc ấy mới biết là Quán Thế Âm Bồ tát đại từ đại bi đã cứu độ nên cả nhà đều noi theo gương Ông hàng ngày chí thành lễ bái Đại Sĩ và tụng kinh Phổ Môn rất thành kính. (Trích Quán Thế Âm Kinh Cận Thinh).

91. Vào triều nhà Minh có Phật tử tên Lôi Pháp Chấn là người ở tỉnh Phước Kiến. Vào niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, ông dọn vào chốn thâm sơn cùng cốc mà ở, chuyên làm nghề đốn củi đốt than để kiếm sống. Bên cạnh nhà Ông có cây áp lan, sớ gỗ cây này rất mịn nên Ông nẩy ra ý định thuê người điêu khắc để tạo tôn tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Vì nhà nghèo khó chưa đủ tiền thuê thợ và bề bộn với công việc nên nguyện của Ông vẫn chưa thành. Một ngày nọ, khi một mình vào núi đốn củi đốt than thì Ông gặp một con cọp đói nhảy ra vồ Ông để ăn thịt. Ngay lúc ấy, bỗng nhiên xuất hiện một người phụ nữ hình thể nhàn nhã đoan nghiêm đứng trước mặt cọp, hét lên một tiếng, làm con cọp khiếp sợ quay đầu thối lui. Pháp Chấn vô cùng cảm động, quỳ xuống lễ tạ và xin hỏi danh tánh thì người phụ nữ ấy đáp: “Ta là cây áp lan của nhà ngươi đây”, nói xong thì biến mất. Bấy giờ Pháp Chấn mới ngộ ra người phụ nữ ấy chính là Quán Thế Âm Bồ tát đã hiện thân để cứu nạn. Ông trở về nhà bèn chọn ngày tốt, mướn thợ đốn cây, điêu khắc tạo nên tôn tượng Đại Sĩ rất trang nghiêm. Sau khi tượng làm xong thì Ông làm lễ an vị và phát nguyện suốt đời trường trai không ăn đến các thứ huyết nhục nữa. (Trích Nam Hải Từ Thuyền).

92. Vào triều nhà Thanh có Phật tử tên Trầm Quân An tự Tế Khả, là người ở huyện Cao Bưu, tỉnh Giang Tây. Ông là vị quan nổi tiếng liêm khiết và nhân từ, thương dân như con ở Giang Tây. Lúc Tổ phụ của Tế Khả là Văn Tung làm quan tại tỉnh Sơn Đông thì Ngài cũng là một vị quan nhân hậu, dân chúng đều thấm nhuần ân giáo hóa. Ngài có giao hữu với một vị quan đồng liêu rất tâm đầu ý hợp với Ngài, vị này là người con duy nhất trong gia đình nhưng lại không có con nối dõi và giúp đỡ cho song thân vẫn còn tại thế. Một hôm, người này được lệnh phải đi Sứ sang Tây Tạng. Văn Tung nghe tin, bèn xin đi thay. Mọi người từ dân cho đến quan đều tán thán nghĩa cử cao đẹp của Văn Tung. Bặt tin gần ba năm thì Ông mới trở về. Ông kể lại rằng trên đường đi trải qua không biết bao nhiêu gian nan, khổ cực nhất là phải sống trong cảnh băng tuyết thấu xương. Xứ Tây Tạng vì điều kiện khắc nghiệt nên cả tháng nhiều khi không thấy một bóng người. Ông đi Sứ cùng với hai người hầu. Có một người tên là Hạ Tương, người này với chủ rất mực trung thành, hàng ngày lúc gần đến bữa ăn đều không nhìn thấy trong dinh trại nhưng chốc lát sau thì người này về đến, tự tay mang gạo ra thổi cơm cho chủ ăn nhưng chẳng ai biết gạo từ đâu ra trong cái xứ tuyết phủ mịt mù này. Một ngày nọ, thầy trò đang cùng nhau đi trên sườn núi tuyết thì hai người hầu bị trợt chân, té xuống khe núi sâu muôn trượng, con ngựa của Văn Tung cũng bị lọt xuống khe núi. Ngay lúc ấy, Văn Tung ngước mặt lên thì nhìn thấy Quán Âm Đại Sĩ đang đứng trên núi tuyết, tay cầm hoa sen xanh hướng về chổ Văn Tung, trong chốc lát thì người ngựa đều lên khỏi khe, tự mình được thoát nạn nhưng nhớ đến hai người hầu bị nạn thì lòng Ông đau như cắt. Vì trời sắp tối nên Ông giục ngựa đi tới trước, thì bỗng nhiên con ngựa hí vang, nhất định không bước đi. Hồi lâu sau khi ánh chiều tà buông xuống thì Ông nghe có tiếng người gọi lớn, Văn Tung đáp lời thì thấy Hạ Tương đang một mình chạy đến, còn người hầu kia thì đã mất tích. Hạ Tương bèn kể lại câu chuyện với mình. Khi Hạ Tương vừa rơi xuống khe sâu thì thấy có một người mặc áo xanh cao hơn một trượng từ trong khe ấy đến cõng Anh ra. Nghe kể xong thì chủ tớ ôm nhau khóc, đoạn cả hai lên lưng ngựa tiếp tục theo con đường hướng đến Tây tạng. Sau khi xong việc trở về bổn quốc thì Văn Tung đã thuật lại cho một đại quan trong nội triều nghe về câu chuyện đi Sứ của mình. Đại quan Cao Văn Lương nghe xong câu chuyện thì rất cảm động, thành tâm tán thán đức đại từ đại bi của Quán Âm Bồ tát lại phát nguyện mời họa sĩ về vẽ tượng Bồ tát đứng trong tuyết sương cầm thanh liên hoa chỉ đường cứu độ cho Văn Tung bình an ra khỏi chốn hiểm nguy, dưới bức họa có ghi rõ ngày tháng câu chuyện này. (Trích Khả Tín lục).

93. Vào triều nhà Thanh, niên hiệu Đạo Quán có một vị y sĩ cũng là Phật tử tên là Lưu Duật Đình, là người ở huyện Giang Minh tỉnh Giang Tây. Duật Đình là một Phật tử tu hành rất tin cần. Mỗi ngày, sớm mai thức dậy, mọi việc đều gác qua, đến trước bàn thờ Quán Âm Đại Sĩ chí thành lễ bái, đoạn quỳ tụng bảy biến Chú Đại bi, trải qua hai mươi năm như thế không một ngày nào sai khác. Ông từng thuật lại với ký giả câu chuyện sau: Một ngày nọ, lúc trời sắp tối, Ông nghe có tiếng gõ cửa nên mở cửa ra xem thì thấy một bà cụ già đứng trước cửa. Trong tâm Ông nghĩ rằng người này chắc đến mua thuốc nên mời khách vào nhà ngồi. Bà cụ ấy sau khi vào nhà thì cho biết mục đích đến nhà Ông là để đem trà ngon đến biếu mặc dù tất cả người trong nhà đều không ai quen biết với bà cụ này. Sau đó Bà cụ lại quay sang Duật Đình và bảo: “Nội trong năm nay đến ngày 14 tháng Chạp, Ông sẽ gặp tai nạn nên Ông cần thận trọng”, nói dứt lời liền xin cáo từ. Đến đúng ngày ấy, Ông đóng cửa không tiếp khách nhưng lúc buổi trưa ngủ dậy thì té xuống đất, chân phải kẹt vào trong trường kỷ rất đau nhức. Duật Đình nhớ lại bà cụ nói khi trước, giờ đây đã ứng nghiệm nên liền chí thành mật tụng Chú Đại Bi không gián đoạn thì chỉ trong vài ngày, bệnh ông khỏi hẳn. (Trích Quán Thế Âm trì nghiệm ký).

94. Triều nhà Thanh có Thầy Thích Trí Tung tự Linh Nhạc là người ở Quý Dương. Lúc trước khi về Quý Sơn, Thầy ở Lương Sơn, huyện Cao Yến, tại Đoan Châu. Vào năm Đinh Hợi, có nhóm loạn quân nổi lên tại Lương Sơn, chúng bắt Thầy Trí Tung đi làm khổ sai, lại thấy trên tay Thầy có đeo xâu chuổi nên ngang ngược cướp lấy từ trên tay Thầy. Tuy vậy Thầy vẫn an nhiên không hề chống cự nên bọn chúng nổi giận rút dao chém Thầy. Trong giờ phút lâm nạn nầy, Thầy chí thành niệm lớn: “Nam Mô Đại từ Đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” thì tên lính cầm dao định chém Thầy bị vướng tay áo nên dao không trúng đầu Thầy, nhờ vậy mà Thầy tránh được nhát dao và nhanh chóng chui vào bụi gai trốn mất. Đệ tử của Thầy là Thật Tế lúc đó đang ẩn núp trong một bụi gai thấy Thầy đang lâm nguy nên nhất tâm thành kính trì tụng Chú Đại bi để cầu nguyện cho sư phụ thoát nạn. Bọn lính đi lùng sục khắp nơi, bắt tất cả dân trong làng, lại dùng bá súng thọc trong những bụi gai để kiếm người ẩn núp. Có một tên lính khi thọc vào bụi gai nơi thầy Thật tế ẩn nắp thì bỗng té nhào xuống chân núi. (Trích Quán Âm Từ lâm Tập).

95. Ở cửa phía Nam của huyện Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông có một ngôi bảo điện. Bảo điện này trước kia do dân chúng tại địa phương xây cất lên để thờ phụng Quán Thế Âm Bồ tát và Quan Thánh Đế Quân. Do lâu năm nên ngôi bảo điện bị hư sập. Lúc bấy giờ có một Phật tử tên là Trần ích Tu tự Ngọc Ty thấy vậy bèn phát tâm trùng tu, đi quyên góp các nơi để trùng tu ngôi bảo điện ấy. Vì ngôi bảo điện nằm gần với đền Hồi giáo nên những người Hồi giáo cật lực ngăn cản không cho Ông trùng tu bảo điện để trong vùng chỉ có đền Hồi giáo mà thôi. Ích Tu không lùi bước, bèn đến quan thưa kiện bèn được quan địa phương hứa khả và ngăn cấm những người Hồi giáo không được gây trở ngại. Vào mùa Xuân năm Quý mùi, có bọn người Lưu Khấu nổi loạn vây hãm thành. Bọn người Hồi giáo Vương Sanh Hoa nhân dịp này muốn trả thù cá nhân bèn canh lúc Phật tử Trần Ích Tu đi trên đường thì dùng gậy gộc đánh chết Ông. Chúng lại nhẩn tâm móc mắt Ông rồi đem tử thi quăng vào nhà. Thần thức Ông vừa rời khỏi thân thì thấy đức Quan Thánh Đế Quân an ủi rằng: “Ngươi an tâm. Ta sẽ bái thỉnh Quán Âm Bồ Tát đến đây cứu sống nhà ngươi và cho ngươi lại đôi mắt.” Quan Đế vừa dứt lời thì Ích Tu nhìn thấy một vị Thiên nữ mặc bạch y, tướng mạo vô cùng đoan nghiêm, tự tay trao cho Ông hai tròng mắt dê bảo nuốt, lại rót từ trong bình ra chén nước cam lồ bảo uống. Ích Tu vâng lời, sau khi uống xong thì sống lại. Người nhà nghe thấy Ich Tu sống lại thì vội vàng mang đèn đến xem, thấy hai mắt ông cũng đã sáng trở lại. Trời vừa rạng sáng thì dân chúng trong vùng đều kéo đến nhà thăm hỏi. Nghe Ich Tu thuật lại việc bị nạn và Quán Âm Đại Sĩ cứu khổ thì trăm người như một đều cảm động rơi nước mắt và đồng thinh xưng niệm “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát”, đoạn đem sự việc trên tuyên truyền ra khắp nơi. Bọn người Hồi giáo nghe tin thì vô cùng sợ hãi và sanh lòng hối hận. Năm sau nhằm năm Kỷ Dậu, hai anh em Ich Tu cùng với các bạn đồng học là Vương Hoàng, Vương Đạo Đồng đi thi. Qua năm Bính Tuất thì Ich Tu đậu Tiến sĩ được bổ nhiệm làm Quan huyện ở Quý Trì, sau đó thăng chức Hộ Bộ Lang Trung nội triều. Cũng trong năm này thì Vương Sanh Hoa bị Lưu Khẩu giết chết, bị móc mắt, mổ tim trăm phần thê thảm hơn lúc giết chết trần Ích Tu. (Trích Đài Châu Chí và Tây Hà hợp tập).

96. Vào triều nhà Thanh có Phật tử tên Triệu Dĩ Tín là chư sinh(*) ở phủ Quảng Châu. Dĩ Tín là người thâm tín Phật pháp từ thuở bé. Năm Mậu Tý, ở tại Huệ Thành có nhóm tân binh mới đổi đến. Bọn này ỷ thế cưỡng bức ức hiếp những người buôn bán tại chợ địa phương nên họ uất ức chống lại. Bọn chúng liền đến Khai phủ sàm tấu với quan địa phương là Lý Công rằng dân chúng muốn làm phản. Lý Công bèn truyền lệnh bắt nhốt dân trong thành để xử trảm. Bọn chúng lại thưa với Lý Công là những người mặc áo ngắn là những người làm phản vì họ mặc áo ngắn để làm mật hiệu. Thời ấy theo phong tục của Lĩnh nam thì tất cả áo bên trong đều là áo ngắn nên Lý Công không thể phân biệt được ai là người làm phản, vì vậy khi đem ra xử trảm thì ai mặc áo ngắn đều phải chịu chết chém. Dĩ Tín lúc ấy đứng trong hàng người chờ chém, nhất tâm thành khẩn xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, lúc đến phiên Dĩ Tín bị chém thì được lệnh Lý Công cho ngừng lại. Nguyên nhân là vì khi chém hết vài mươi người thì Lý Công được biết về phong tục ở Lĩnh Nam nên cho dừng để xem xét lại, do đó Dĩ Tín cùng với những người bị oan uổng còn lại đều được thoát nạn. (Trích Quán Âm Từ Lâm tập).

97. Triều nhà Thanh có thầy Thích Hạnh Nhơn tự Chỉ Nhứt con của Hộ Trương ở Quảng Sơn, tỉnh Hà Nam. Lúc nhỏ chưa xuất gia Ông đến đọc sách tại Động Bạch Lập. Một hôm, Ông gặp một vị Tăng chưa từng quen biết, báo cho Ông biết rằng: “Nhà ngươi sẽ gặp đại hạn, nếu nhất tâm trì niệm Thánh hiệu Đại bi Quán thế Âm Bồ Tát thì chắc được thoát khỏi.” Ông nghe xong thì vâng lời phát tâm thọ trì. Đến niên hiệu Sùng Trinh, năm Tân Tỵ, Hiến Khấu nổi dậy đánh phá huyện địa phương, tàn sát dân chúng, bọn chúng bắt nhiều người trong đó có Ông đem đi xử trảm. Khi đem Ông ra chém, dao tự nhiên gãy từng đoạn, bọn giặc kinh sợ không dám chém nữa. Sau khi thoát nạn, Ông xuất gia tu hành. Năm Giáp Thân, Ông đến Kim lăng y chỉ với Thiên Hoa Hòa Thượng, thọ giới cụ túc, tu hành tinh tiến, giữ giới luật tinh nghiêm. (Trích Pháp Hoa cảm thông).

98. Triều nhà Thanh có Phật tử Hoàng Khả Minh là con của một triệu phú ở tại Đông Hoàng. Một ngày nọ có duyên sự đi thuyền trên biển thì bị cướp biển bắt. Chúng đem Khả Minh về sào huyệt, dùng dây xiềng cột dính vào cánh cửa lớn giam tại đó và để cho vợ của cướp biển ở tại sào huyệt canh giữ rồi bọn chúng tiếp tục đi cướp. Từ ngày Khả Minh bị nạn thì cha mẹ Anh ở nhà rước chư Tăng về tụng Kinh Phổ Môn. Khi chư Tăng tụng kinh thì hai ông bà quỳ phía sau chí thành lễ Phật cầu nguyện. Một đêm nọ, vợ của tên cướp biển nhìn thấy Khả Minh có tướng quang sắc, thấy lạ nên đến sáng cô ta đến dò hỏi. Khả Minh biết chắc ở nhà cha mẹ mình cầu nguyện nên mình đã được Phật gia hộ thì đợi lúc người đàn bà này đến nhà hàng xóm, bèn đội luôn cánh cửa trốn khỏi sào huyệt cướp biển. Trên đường đi trốn thì gặp một tiều phu, Khả Minh liền cầu xin người này mở xiềng phá cánh cửa giúp mình. Khả Minh đi vài mươi dặm nữa thì tìm đường về nhà bình an vô sự, thoát khỏi tay giặc cướp. (Trích Quán Âm Từ Lâm tập).

99. Triều nhà Thanh có Phật tử là Mạch Truyền Thành, người ở xã Thuận Ấp. Thành phát tâm quy y thọ giới từ lúc nhỏ, ăn lục trai mỗi tháng. Vào niên hiệu Khang Hy, ngày mùng 2 tháng 8 năm Giáp Thìn, Thành bị cướp bắt đem về sào huyệt. Chúng dùng bốn dây xiềng cột vào cổ và ống chân Anh và giam giữ trong một nhà trống. Truyền Thành từ lúc bị nạn thì ngày đêm chí thành mặc niệm hồng danh của Quán Âm Đại Sĩ không một phút tán loạn. Trải qua bốn ngày đêm, bọn cướp mới đem cơm đến, bẻ cành cây để làm đũa cho ăn, sau đó khóa cửa bỏ đi. Mỗi ngày chúng đến mở cửa thăm chừng. Một ngày nọ chúng mất chìa khóa nên chỉ đứng ngoài cửa nhìn xuyên qua lổ cửa để xem chừng mà thôi. Hôm ấy Truyền Thành lấy chiếc đũa tre chọc thử vào dây xích ở nơi chân thì bỗng nhiên cả ba dây xích đều rớt khỏi thân, chỉ còn một dây xiềng nơi cổ thì không lay động. Thành biết rằng đây là do Đại sĩ từ bi cứu nạn nên càng khẩn thiết cầu đảo, đến ngày mồng 8 lại dùng chiếc đũa tre chọc thử thì dây xích trên cổ bỗng rớt xuống, muốn chạy trốn nhưng trong tâm lại phân vân, bấy giờ Thành lại nhất tâm cầu nguyện: “Nam mô Thập phương thường trụ Tam bảo. Nam Mô Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát. Con đã được Bồ tát từ bi gia hộ cho xiềng cích đều rớt. Giờ phút này con muốn trốn đi nhưng sợ bị bắt lại thì khó mong sống sót. Xin Bồ tát chứng minh gia hộ cho con, nếu quả thật con được thoát khỏi nạn này thì Bồ tát cho con xin keo liên tiếp năm lần đều được để tâm con an ổn khỏi lo sợ nghi ngờ.” Sau khi cầu nguyện xong, xin keo liên tiếp năm lần đều trúng, bấy giờ Thành mới leo lên nóc nhà để tìm đường thì phát hiện ra ngôi nhà bên bờ suối chính là nhà của nhạc phụ mình. Thành liền leo xuống, bỏ chạy về hướng đó. Chẳng may những tên cướp canh gác phát hiện nên đuổi theo bắt lại, Thành dùng hai cánh tay xô bọn cướp qua hai bên như con heo chống với bầy trâu rồi chạy vào nhà nhạc phụ trốn. Bọn giặc cướp đuổi theo đến nhà Nhạc phụ của Thành đòi bắt thì Ông nài nỉ với bọn cướp: “Nhà nó nghèo quá, xin các Ông cho nó một tuần lễ để đi vay mượn mà trả tiền chuộc hai lạng bạc cho các Ông”. Bọn cướp đồng ý bỏ đi. Qua hai ngày sau thì lính của quan địa phương đến vây ráp sào huyệt của bọn cướp, chúng nó sợ hãi đều bỏ trốn. Nhờ vậy mà Thành được thoát nạn. Chú của Thành tên là Liên Phong, vốn là một Phật tử trai giới thanh tịnh. Cũng vào tháng Giêng năm ấy bị giặc cướp đuổi bắt, ông vội chạy vào một nhà trống bên làng, dùng tấm phên tre che thân. Bọn cướp đuổi theo vào làng tìm kiếm và tuyên bố với dân làng nếu thấy người lạ nào có chùm râu trên cằm thì phải đem nộp cho chúng, bằng không chúng sẽ đốt phá san bằng làng này. Khi đang núp trong tấm phên và nghe lời hăm dọa của giặc cướp, Liên Phong hoảng sợ chí thành xưng niệm Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát rồi cố sức để nhổ vài cọng râu nhưng lạ thay cả chùm râu bổng dưng rụng xuống hết mà không hề đau đớn. Sau đó, bỗng có một người từ địa phương khác đến làng này nói rằng đã nhìn thấy người có chùm râu đang trốn lên núi do đó bọn giặc bèn kéo nhau lên núi. Phong ra khỏi nơi ẩn nắp đi đến gặp chủ của ngôi nhà trống cho họ biết là Ông đã vào nhà họ ẩn nắp và tạ ơn họ thì mới biết chủ nhà này là bà con với mình, họ vui vẻ mang y phục cho Phong thay rồi thuê ghe chở Ông về nhà. (Trích Quán Âm Từ Lâm tập).

100. Vào triều nhà Thanh có Phật tử tên là Lưu Lũy Thức là con của Tuy Lý Trung Lôi công, ở Thuận Ấp, tỉnh Quảng Châu. Lũy Thức nhờ gia đình giáo huấn từ lúc nhỏ nên phát tâm tín kính Tam bảo. Ông thường kể chuyện của mình như sau: Lúc còn thiếu niên, Ông từng bị giặc cướp bắt vào năm Thìn, đến năm Ngọ thì thoát nạn. Niên hiệu Thuận Trị nhà Thanh, mùa Thu năm Đinh Hợi, ông đến Lương Sơn thì lại bị giặc cướp bắt một lần nữa, chúng đòi tiền chuộc nhưng ông không có nên nổi giận ném Ông xuống biển. Trên đường đi, Ông tự nghĩ chỉ có Quán Âm Bồ Tát là bậc nương tựa nên lúc ấy chí thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Âm. Lúc bị ném xuống biển, vì hai tay bị trói nên Ông chìm xuống biển, muôn phần khốn khổ trước cái chết nhưng trong tâm vẫn thiết tha nhớ niệm Thánh hiệu Đại Sĩ, bỗng nhiên Ông thấy hai chân ông đạp cát dưới đáy biển rồi trồi lên mặt nước, thân Ông trôi đến chổ cạn thì bọn giặc cướp trông thấy, chúng bèn vớt ông lên ghe tạm giữ để tìm người nhà đòi tiền chuộc. Bấy giờ bọn cướp đi dọc theo bờ biển, ra tay tàn sát dân chúng dã man, trải qua năm sáu ngày sau thì bỗng cuồng phong nổi lên, ghe thuyền chúng không có nơi ẩn nấp vỡ tan tác, duy thuyền chứa Ông là không bị hư hại. Chúng thấy sự việc này lạ lùng vô cùng nên bèn dò hỏi nguyên cớ vì sao. Lũy Thức thành tâm kể lại việc mình chí thành niệm Thánh hiệu Bồ tát được cứu khi bị ném xuống biển và Bồ Tát gia hộ luôn cho được an ổn. Nghe xong chúng hồi tâm phóng thích Lũy Thức, lại nói với Ông rằng: “Chắc là cả gia đình ngươi đều ăn chay niệm Phật tụng kinh nên được linh cảm như vậy phải không?” Vào thời ấy nhằm lúc loạn lạc khắp nơi, người bị tai nạn chết chóc nhiều không kể xiết, riêng gia đình của Thức được Bồ Tát gia trì nên hoàn toàn yên ổn. (Trích Quán Âm Từ Lâm tập).

101. Na Liên Đề Tam Tạng Pháp sư là người ở nước Ô Trương, xứ Bắc Thiên Trúc. Năm mười bảy tuổi Ông phát tâm xuất gia rồi đi đến phía Bắc Tuyết sơn để giáo hóa. Vừa đến đỉnh núi thì thấy có hai con đường mà dân địa phương thường bảo là con đường người đi và con đường quỷ đi. Con đường người đi thì hoang vu hiểm trở, còn đường quỉ đi thì thông suốt dễ đi. Trước đây có một đấng Thánh Vương khi đến đầu con đường quỉ, đã tạo nên tượng đá Tỳ Sa Môn Thiên Vương với cánh tay chỉ con đường an toàn cho khách bộ hành đi. Tuy vậy, khách đi đường đa số do tâm mê muội nên đều chọn theo con đường quỷ mà đi, nhưng mỗi khi vào trong cảnh giới của quỉ liền bị chúng sát hại. Người đồng bạn của Tam tạng Pháp sư tên là Lê Gia Xá một ngày nọ đi lầm vào đường của quỉ, khi biết mình đi lầm thì Ông chuyên tâm trì Chú Đại Bi của đức Quán Thế Âm. Đi khoảng một trăm bước thì đi qua nơi những vị Tăng đồng bạn đã bị quỉ sát hại trước đây, Pháp sư nhờ nương vào Chú lực nên qua khỏi tất cả tai nạn. Ông tiếp tục đi tới trước thì lại gặp bọn cướp núi, Pháp sư tiếp tục chuyên chú trì niệm Chú Đại bi như trước. Nhờ Chú lực hộ vệ nên khi gặp mặt đối diện với bọn giặc cướp, bọn chúng gần như không nhìn thấy Ông. Pháp sư sau đó tìm được con đường theo hướng tay của bức tượng Sa Môn Thiên Vương chỉ, đi về hướng Đông thì đến nước Tề an toàn. Lúc này nhằm vào niên hiệu Thiên Bảo, năm thứ bảy, Ông an toàn đến được kinh đô. (Trích Cao Tăng Truyện – tập 2).

102. Đạt ma Cấp Đa Pháp sư là người ở nước La Ra xứ Thiên Trúc. Nghe nói ở đại quốc Chi Na, Tam bảo hưng thịnh nên muốn đến nơi ấy để xem phong hóa và truyền pháp lợi sanh nhưng đường đi phải vượt qua núi tuyết và những bãi sa mạc, nóng đến mức nước hay cỏ đều không tồn tại. Pháp sư bèn một lòng thành kính trì niệm Thánh hiệu Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Đêm ấy trước khi lên đường bỗng có một trận mưa thật lớn. Pháp sư cảm thấy thân thể mát mẻ, tâm mình an vui nên theo đường đi tới trước. Trải qua một năm trời ngày đi đêm nghỉ thì Pháp sư đến được Đông Độ. Bấy giờ vào đúng niên hiệu Khải Hoàn, năm thứ 10, Pháp Sư đến nơi vào lúc mùa Đông. (Trích Cao tăng truyện tập 2).

103. Triều nhà Đường có Phật tử Lý Hưng chuyên trì niệm Thần chú Đại Bi. Ông là người ở Đông quận, tỉnh Hà Nam. Ông có một người em gái bị đột tử nhưng sau đó liền sống lại và kể lại chuyện của Cô được hồi sinh như sau: Lúc mới chết Cô bị hai người đến bắt và dẫn Cô vào trong chốn nghĩa địa, nơi đây có vài chục người muốn làm nhục Cô, trong số ấy bỗng có một người bảo rằng: “Cô gái này là em ruột của Lý Thập Tứ Lang, là bậc hiền thiện ăn chay niệm Phật lại chuyên trì Thần chú. Ông ấy hiện sắp về đến nhà, nếu chúng ta làm hại đến em gái của người này thì chắc khó tránh khỏi bị Thần chú làm cho chúng ta phải bị khốn khổ, tốt hơn hết là mau trả cô ấy về.” Nghe vậy, tất cả những người còn lại đều vâng lời, cùng nhau đưa Cô về nhà nên Cô sống lại. Cùng lúc Cô vừa mở mắt thì Anh của Cô là Lý Hưng vừa về đến nhà, đúng như lời của những người trong nghĩa địa đã nói. (Trích Quảng Dị Ký).

104. Triều nhà Đường, Huyền Trang Pháp sư là người ở xứ Khâu Thị, tỉnh Hà Nam. Pháp sư từ lúc thơ ấu đã là bậc thông minh trí huệ, giới hạnh tinh nghiêm. Một ngày nọ, Pháp sư phát tâm đi Tây Vực để cầu thỉnh Pháp đại thừa. Vào lúc bấy giờ, các quốc gia mới kiến lập nên nội địa ngoại bang không được giao thông qua lại. Vì thế, tất cả các trạm biên giới đều phòng thủ, kiểm soát rất nghiêm mật, những người đi qua lại đều bị bắt giữ, riêng Pháp sư nhờ Phật lực gia hộ nên đều được các nước dễ dãi cho đi lại, cả tuyến đường đi đều không gặp trở ngại. Một lần trên đường đi qua đất Thục, Pháp sư nhìn thấy một người bệnh ghẻ lở, dơ bẩn hôi thúi vô cùng, y phục rách nát nên động lòng từ thương xót, liền đem y phục và thức ăn nước uống bố thí. Người bệnh này xúc động nhận lấy, đoạn trao cho Pháp sư quyển Tâm Kinh. Pháp sư tiếp tục hành trình đến bãi sa mạc ở xứ Mạc Hạ Diêu. Bãi cát ấy rộng tám trăm dặm, thời xưa gọi là Sa Hà, trên trời không một con chim bay, dưới đất không một con thú chạy, không một ngọn cỏ mọc, Pháp sư khi đến Sa Hà thì gặp các ác quỉ hiện hình kỳ quái vây hãm, liền cất tiếng tụng Tâm kinh thì quỷ đều chạy tứ tán. Đi trong Sa Hà đã năm ngày mà không có một giọt nước nên Pháp sư đuối sức, không đi được nữa, người lẫn ngựa đều ngã quỵ trong Sa mạc, nhưng trong lúc sắp chết này thì trong nội tâm, Pháp sư vẫn chí thành mặc niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ tát. Đến lúc nửa đêm, bỗng dưng có một trận thanh phong thổi đến, Pháp sư tự cảm thấy thân mình mình mát mẻ nhẹ nhàng như vừa vào sông tắm, tinh thần trở nên minh mẩn, con ngựa cũng bật đứng dậy. Pháp sư liền lên mình ngựa, thẳng tiến về trước, con ngựa tự phi theo một con đường mà không ngăn lại được, chẳng mấy chốc thì gặp nơi có nước, bấy giờ người ngựa đều lao xuống nước, trở nên tươi tỉnh và hồi phục sức khỏe, Pháp sư tiếp tục chặng đường còn lại và cuối cùng hoàn thành được bổn nguyện. (Trích Trang Sư bổn truyện).

105. Triều nhà Đường có Phật tử tên Âu Dương Sáng là người ở Từ Châu, chuyên trì tụng Chú Đại bi. Nhà ông ở cách Từ Châu chừng năm mươi dặm về hướng Nam. Một ngày nọ, Ông vào thành và lúc gần tối mới trở lại nhà. Trên đường đi về nhà, đi khoảng hai mươi dặm thì bỗng trời đổ mưa, sấm sét rền trời, mưa to gió lớn mà đường đi phải xuyên qua khu rừng âm u tăm tối, hai bên là vực sâu, trong rừng có nhiều thú dữ nên tâm của Ông vô cùng lo sợ. Khi đến đường núi thì mưa càng lớn, gió càng dữ hơn trước, bỗng đâu trước mặt hiện ra một quái thú cao hơn một trượng, hình sắc đều trắng, đầu đuôi không thể phân biệt và cách Ông chừng mười bước chân. Ông quá sợ hãi, lúc ấy trong tâm muốn niệm lớn Thần chú Đại bi mà miệng không thể nào mở được bèn chí thành mặc niệm trong tâm. Thầm niệm được vài biến thì miệng bắt đầu cất tiếng tụng lớn, quái vật bỗng nhiên biến mất và mưa cũng tan. Ông tiếp tục vừa đi vừa niệm và an nhiên về được đến nhà. (Trích Chuyển Nhơn Lục & Ngọc Đường Nhàn Thoại).

106. Triều nhà Tống có Phật tử tên là Hồng Dương. Một ngày nọ, Ông từ Lạc Bình tỉnh Giang Tây về nhà thì mặt trời đã lặn. Ông có ba người tớ đi theo, hai người khiêng kiệu, còn một người thì gánh đồ. Theo dự tính thì đến nửa đêm mới về được đến nhà. Khi đi đến canh hai thì trên trời có trăng sáng lờ mờ, trong núi phát ra âm thinh lớn như vài chục cây cổ thụ đồng lúc bị ngã đổ. Trong tâm của Ông biết có việc chắng lành nên lập tức xuống kiệu cùng với ba người tớ tìm chổ trốn. Nhìn quanh thấy bên trái đường có một khe nhỏ không có nước, nên bốn người định sẽ nhảy xuống đó trốn. Chưa kịp làm thì ngay lúc ấy con quái thú cao chừng một trượng đã đứng trước mặt, từ đầu đến chân sáng rực như ngọn đuốc. Hồng Dương và ba người tớ, thấy quái vật thì kinh hồn khiếp vía té nhào xuống đất. Ông vốn là người thường trì niệm Chú Đại Bi nên trong giờ khắc nguy cấp này, liền chí thành trì niệm không dứt. Quái vật đứng yên một lúc rồi từ từ lui ra xa, sau đó biến mất không nhìn thấy nữa. Hồng Dương về đến nhà thì phát bệnh thời gian lâu sau mới khỏi, người tớ gánh đồ cũng thế còn hai người khiêng kiệu thì phát bệnh rồi chết. (Trích Di Kiên Chí).

107. Triều nhà Tống có một người tên Lại Tỉnh Cáng ở tỉnh Kiến Ninh, chuyên dùng yêu thuật để lừa gạt người kiếm sống và dùng người để cúng tế quỉ thần. Tỉnh Cáng một lần nọ đến tỉnh Chiết Giang dụ dỗ đồng nam đồng nữ từ mười tuổi trở xuống đi theo mình để đem về nuôi và cúng tế cho quỉ ăn. Trong số trẻ con bị dụ dỗ, có một bé gái là con của một Phật tử, bé gái này thường theo Mẹ tụng kinh niệm Phật, vì còn nhỏ nên chỉ thuộc Bát Nhã Tâm Kinh và niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát. Một hôm Tỉnh Cáng đem bé gái này ra cúng tế cho quỷ, hắn tắm gội sạch sẽ cho bé gái và thay phục sức đẹp rồi trói lại để trong một nhà trống. Đứa bé gái vô cùng kinh sợ bèn một lòng trì tụng Bát Nhã Tâm Kinh, đến lúc nửa đêm thì cửa sổ trên nóc nhà tự mở, bé gái ấy thấy một quái vật từ trên ấy đi xuống, mắt sáng như như điện chớp. Bé gái kinh hoảng miệng niệm lớn: “Nam Mô Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát – Yết đế yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đế tát bà ha”. Bỗng nhiên trong miệng bé gái, quang minh phóng ra, quái vật đang tiến về bé gái phải lùi lại. Quang minh trong miệng bé gái càng lúc càng lớn và phóng về hướng quái vật, rồi một tiếng động lớn phát ra, quái vật ngã nhào dưới đất. Bé gái hoảng sợ la to: “Cứu tôi với, cứu tôi với!” Lúc ấy, phía bên ngoài có một toán quân đang đi tuần, nghe tiếng kêu, họ liền phá cửa để vào thì nhìn thấy một con đại bạch mãng xà chết cứng bên cạnh một bé gái bị trói. Nghe bé gái kể chuyện xong thì các binh sĩ này đưa bé gái về nhà, sau đó bắt giữ Tỉnh Cáng và những người liên quan đưa về phủ tra hỏi. Sau khi Tỉnh Cáng nhận tội thì triều đình có lệnh tịch thu toàn bộ gia sản, bắt Tỉnh Cáng và gia đình đi đày nơi biên địa. (Trích Đàm Tấu).

108. Triều nhà Tống có một người tên Trương Thành ở huyện Kiết Thủy, tỉnh Giang Tây. Vào niên hiệu Càng Đạo, năm thứ nhất, Ông đi đến Đàm Châu để thăm người bạn cũ, sau đó đến Kinh đô để viếng thăm và lễ bái lăng tẩm của các Tiên đế. Đêm đến, Ông chọn một quán trọ để nghĩ chân thì người chủ quán trọ này rất niềm nở tiếp đón, dọn rượu thịt ra mời Ông dùng. Trương Thành thấy vậy thì lấy làm lạ vì giữa mình và người chủ quán trọ này không hề quen biết nên Ông có ý đề phòng, nên lúc ăn thì Ông không dùng đến rượu. Vì đường xa mỏi mệt nên vừa ăn xong thì Ông đi nằm nghỉ. Đến lúc nửa đêm thì Ông thức giấc, nhìn thấy nhà trên đèn nến thắp sáng rực, Ông ngồi dậy lén dòm qua khe cửa thì thấy người chủ nhà trọ áo mão chỉnh tề đang đứng trước một bức tượng vẽ, rót trà ngon rượu quý, lễ bái cầu đảo. Trương Thành lắng tai nghe thì trong lời cầu nguyện có nhắc đến tên Ông, nên trong tâm Ông đoán là chủ nhà trọ chuẩn bị đem mình ra tế quỉ, vì thế không dám nằm ngủ lại. Chủ nhà trọ làm lễ xong thì lui ra, lúc ấy Trương Thành nhìn thấy bức tượng vẽ đôi mắt lớn như cái chén thì biết chắc là hình tượng của ác thần. Do thường ngày Trương Thành cũng trì tụng Thần Chú Đại bi, giờ khắc này ông nhớ đến trong Kinh nói Thần chú Đại bi có thể trừ tà ma yêu quái nên chí thành khởi tâm trì tụng, cung kính cầu xin cho thoát khỏi tai nạn. Tụng vài biến thì thấy Hung thần từ bức tượng vẽ bước ra, hình trạng hung dữ ghê gớm đi về phía phòng mình thì Trương Thành bước ra đóng cửa phòng lại, rồi lên giường ngồi nghiêm chỉnh, chuyên tâm trì chú, giây lát nghe có tiếng gõ cửa và đẩy cửa vào nhưng không được, hồi lâu sau đó có tiếng bỏ đi. Trương Thành vẫn thành tâm trì niệm cho đến khi trời sáng rồi vội vã rời khỏi quán trọ. Khi vừa ra khỏi quán trọ thì Ông nghe tiếng khóc la rất thê thảm, Ông đi chừng hai dặm thì dừng lại hỏi thăm người xung quanh thì được kể là đêm hôm qua chủ nhà trọ bị giết chết. Hỏi nguyên nhân thì những người này cho biết chủ quán trọ này đã ba đời thờ yêu quái. Mỗi năm đều phải cúng tế một người, nếu không có người ngoài thì họa sẽ lây đến gia trưởng và ở xứ sông Tương này thường có ác tục như thế. Trương Thành sau khi thoát nạn về đến nhà thì đóng cửa chuyên tâm niệm Phật, trì chú không ra ngoài nữa. (Trích Linh Nghiệm Ký).

109. Triều nhà Lương có thầy Thích Đạo Dung. Một hôm có duyên sự phải đi ra ngoài, khi trở về chùa thì trời đã tối bèn tìm đến một quán trọ để nghỉ chân. Một mình nghỉ trong phòng vắng, nhằm lúc trời mưa to gió lớn nên Thầy trằn trọc không ngủ được. Đến lúc nửa đêm, lúc vừa thiu thiu ngủ thì trông thấy binh tướng của Quỉ đến rất đông, trong đó chúa Quỉ thân mặc áo giáp, dưới nách cặp đao, hình dung trông rất ghê sợ. Lúc ấy Quỉ ngồi xổm chân ở trước giường, đối diện thầy Đạo Dung, sắc mặt hung dữ xẳng tiếng hỏi: “Tại sao ngươi dám cả gan cho là quỉ thần không linh thiêng? Chúng bây đâu, mau lôi nó xuống đất”. Quỉ tốt vâng lời định đến bắt thì thầy Đạo Dung chí thành niệm lớn Nam Mô Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, vừa dứt lời thì phía sau giường Thầy, bỗng có một vị Thiên tướng người cao hơn một trượng, y phục sắc vàng, tay cầm Kim cương bảo tử, hướng về phía Quỉ, bọn quỉ kinh hồn thất phách bỏ chạy tứ tán, áo giáp mũ trụ bị nát tan như vi trần. (Trích Phật Tổ Thống Ký).

110. Triều nhà Lương có Thầy Thích Huệ Giảng là người nghiêm trì giới luật, tu hành tinh tiến, tính tình dũng nghị mà lại khiêm hạ nên ai cũng tán thán là người hiếm thấy trong thiên hạ. Ở phía Đông, có Dinh thự của quan địa phương tại Kinh châu. Dinh thự này có ba gian riêng biệt, tuy nhiên chổ ấy từ trước đến giờ không ai dám đến ở vì nghe nói có yêu ma quỉ quái. Thầy Thích Huệ Giảng bèn đến xin nơi dinh thự này và dùng cả ba gian, một gian thờ Phật, một gian thờ Kinh và một gian để ở. Một tối nọ, thầy bỗng nhìn thấy một người mặc y phục màu đen nhưng không có mắt, hiện ra từ trong vách tường, đứng nơi cửa gian phòng nghỉ của Thầy. Trong tâm Thầy vẫn bình tĩnh nhưng miệng không thốt được thành tiếng nên lúc ấy, Thầy chí thành mặc niệm Thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát. Giây lâu sau, thì Quỉ tự nói: “Tôi nghe nói Ngài tu hành tinh tấn nên đến đây để thử. Giờ phút này, thần sắc của Ngài vẫn an nhiên bất động nên Tôi đâu dám làm hại.” Nói rồi, Quỉ liền trở vào lại trong vách. Thầy Huệ Giảng xuống giường rửa tay xúc miệng, lạy Phật tụng kinh xong thì trở về chổ ngũ lại như thường. Trong đêm ấy, Thầy nằm mộng thấy một người đến trước mặt nói: “Thưa Ngài, Tôi đây là người đã ở đây từ cuối nhà Hán đến nay đã trải qua vài trăm năm, tính tình cương trực ít người chịu nổi. Ngài là người giới hạnh thanh tịnh, tu hành tinh tấn xứng là bậc hảo nhân nên Tôi đặc biệt ủng hộ cho Ngài vậy.” Thầy Huệ Giảng an trụ nơi đó nhiều năm vẫn bình yên, khi Thầy đi nơi khác thì dinh thự nói trên để trống trở lại vì vẫn không có một ai dám đến ở. (Trích Phật Tổ Thống Ký).

111. Triều nhà Thanh có người tên Du Tôn ở Thượng Hải. Một ngày nọ, vợ của Ông bỗng nhiên bị sốt, run cầm cập nói mê sảng rằng: “Mẹ chồng nàng dâu của chúng tôi đi đường ngang qua đây, hiện giờ quá đói, chủ nhân xin mau đem vật thực cho chúng tôi ăn”. Trong miệng Bà lâm râm nói như thế mãi, người nhà lắng tai nghe kỹ thì đó là giọng nói của người xứ Vô Tích. Người nhà bèn rước thầy Lang gần nhà đến chẩn mạch, để chữa trị thì thầy Lang cho biết không thấy bệnh gì hết nên không thể bốc thuốc chữa bệnh được. Thầy Lang nhìn một lát thì bảo: “Theo ý Tôi nghĩ thì chắc có ma quỉ dựa, vậy người nhà nên đến Quán Âm Đường để rước quý Thầy về tụng kinh giải trừ thì chắc sẽ hết”. Người nhà vâng lời bèn đến Quán Âm Đường rước quý thầy về tụng kinh. Khi quý Thầy đến, mở lễ khai kinh tụng Chú Đại Bi, Kinh Kim Cang và Bát Nhã, vừa xong một thời Kinh thì bỗng nghe bệnh nhân tự quở trách: “Lúc đầu tao không chịu đi, mầy thúc giục tao đến đây, hiện giờ tâm thân của tao vô cùng đau nhức như bị phi đao đâm vào, đau đớn không thể chịu nổi thì phải làm sao đây, đi khỏi đây mau mau.” Sau đó nghe tiếng của nàng dâu dạ dạ rồi bệnh nhân sau đó yên lặng không nói sảng thêm một lời nào. Chứng lạnh run cũng hết nhưng tinh thần của bệnh nhân còn hơi ngơ ngác. Trải qua một đêm, đến sáng hôm sau thì bình phục. (Trích Trần Như Chinh Chất trực đàm).

112. Tiến sĩ Hiếu Cảm Trịnh là người ở tỉnh Hồ Bắc. Khi còn làm việc, một hôm Ông đi đến Đại học viện ở nước Tần giảng dạy. Trên đường về, đi ngang qua núi, thì trời đã tối nên ghé vào một nhà trọ xin nghỉ chân. Ở khu vực ấy thời tiết rất mát mẻ nhưng cảnh trí thì u tịch và hoang vu. Khi vào nhà trọ thì vì đường xa quá mệt mỏi nên Ông không đàm đạo gì với chủ nhà trọ mà liền vào phòng nghỉ. Ông đi cùng với một người tớ, người này ngủ gian ngoài còn Ông thì nằm ở gian trong. Vừa chợp mắt liền thấy có vật gì đè hai chân mình. Tâm Ông tự nghĩ chắc là do ma quỉ nhưng miệng lúc ấy không thốt lên lời được. Ông cố sức ngồi dậy cũng không được vì toàn thân cứng như cây gỗ không lăn trở gì được. Không bao lâu thì quái vật ấy đè đến bụng. Trong tình thế quẩn bách này, Ông bỗng nhớ lại người ta thường nói Kinh Chú của Phật có thể trừ tà ma nhưng do từ trước đến giờ chưa hề tụng Kinh nên giờ Ông cũng không biết làm sao, bỗng dưng trong giờ khắc ấy Ông lại nhớ lúc nhỏ mình có tập chép một đoạn trong Tâm Kinh từ quyển Bút Thiếp của Cử nhân Diệu Tùng Tuyết. Do Ông vẫn còn nhớ, nên lúc này liền mặc tụng. Khi đọc đến hai câu: “Sắc tức thị không, Không tức thị Sắc” thì hơi thở được thông, bấy giờ Ông bèn lớn tiếng niệm nữa thì quái vật lặng lẽ bỏ đi. Người tớ phía ngoài nghe tiếng niệm, tưởng Thầy mình nằm mơ nên vội chạy vào xem Ông có việc gì không, thấy Ông bình thường nên bỏ ra ngoài. Tâm thần Hiếu Cảm lúc này đã bình tĩnh, nên Ông liên tục tụng mấy biến nữa thì ngủ yên đến sáng. Lúc thức dậy, Ông đem việc này nói với chủ nhà trọ thì chủ nhà trọ cũng cho biết có nhiều chuyện ly kỳ đã từng diễn ra và mọi người ở trong xóm cũng cho biết quán ấy rất nhiều ma quỷ. Riêng HIếu Cảm Trịnh sau việc bị ma đè thoát nạn thì phát tâm tín Phật, hàng ngày tụng kinh, tu niệm rất tinh tấn. (Trích Thủ Nhất Trai Bút Ký).

113. Ở tỉnh Giang Tây có một người tên là Lý Tính Viên, ở núi Đào Thọ, huyện Phù Dương làm nghề dạy học cho nhà họ Ngô. Một ngày nọ từ nơi dạy học về nhà, đi được một đoạn thì trời lờ mờ tối, khi dở chân bước đi, Ông có cảm giác bị nhiều chướng ngại. Trong tâm Ông lấy làm lạ nên sanh nghi, liền đó Ông tụng liền bảy biến Kinh Phổ Môn thì mới nhìn rõ mình đang đi trong bụi gai và đang đi lạc vào trong khu núi của người trồng tiêu. Đi chừng một dặm thì tìm lại được đường về nhà. Trước kia, Ông cũng có nghe nói địa phương này có nhiều thứ ma làm người lạc đường, chúng hay dẩn dắt người đem giấu vào chổ kín. Nếu không thường trì tụng Kinh Phổ Môn thì đêm nay chắc Lý Tính Viên khó thoát khỏi tai nạn này. Từ đó về sau Ông càng thành tâm, sáng dạy học, chiều về thành kính trì niệm Kinh Phổ Môn và niệm Phật rất tinh tấn. (Trích Trần Hoài Thích bút thuật).

114. Vương Biệt Quang là người ở xứ Cửu Giang. Vào một hôm nọ, Ông đến thăm nhà bà con, thấy trong nhà đang in Kinh Phổ Môn rất nhiều nên Quang xin vài quyển mang về nhà để trong khánh và thường đốt hương đèn cúng dường Kinh. Bấy giờ, trong vùng ấy có chứng ôn dịch lưu hành, dân trong làng bị bệnh chết hơn phân nửa, những nhà hàng xóm đều bị nhiễm bịnh, nhưng gia đình của Vương Quang không một người bị bệnh. Đêm nọ, Vương Quang nằm mộng thấy Quán Âm Đại Sĩ đến bảo: “Ta rất thương xót dân chúng địa phương này bị tai nạn ôn dịch nên ngươi mau đem Kinh này phát mỗi nhà một quyển và khuyên họ trì tụng thì bệnh ắt khỏi.” Giật mình thức giấc, Vương Quang vội đến nhà bà con xin thêm nhiều quyển Kinh, sau đó đem về phát cho mỗi nhà một quyển như lời Bồ tát đã dạy. Nhà có người bị bệnh dịch, khi nhận được quyển kinh và trì tụng thì đều khỏi bệnh. Vì thế dân chúng phát tâm tín kính, đều thỉnh Kinh về tụng, từ đó cả làng vui sống an ổn, không bị nạn ôn dịch nữa. (Trích Quán Âm Kinh Linh nghiệm lục).