Phật Thuyết
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM
THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH GIẢI DIỄN NGHĨA
Hòa thượng Tịnh Không chủ giảng
Ngài Hạ Liên Cư hội tập
Cụ Hoàng Niệm Tổ chú giải
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa chuyển ngữ
Diệu Âm Phổ Hạnh kính ghi và đúc kết
Phật lịch 2563 -2019

 

V. VIÊN MÃN THÀNH TỰU ĐỆ CỬU
(TT)

Cư sĩ Bành Tế Thanh nói: “Ngài Pháp Tạng dùng vô lượng tâm, phát vô lượng nguyện, khởi vô lượng hạnh, không hạnh nào chẳng tương xứng Chân Như pháp giới”. “Chân Như pháp giới” chính là năm kiếp siêng tu.

– Ngày nay Phật Giáo suy yếu, nguyên nhân vì đâu?

– Vì bỏ quên năm năm chuyên tu giới luật, không hề nhắc đến điều này! Cho nên họ nói, người khác không tin, không khởi được tác dụng! Nhất định chính mình cần phải làm cho được. Muốn vãng sinh thế giới Cực Lạc, không phải thượng thiện thì làm sao được! Chỗ này cần nên lưu ý:

– Sau lúc lâm chung, đỉnh đầu người mất còn nóng, việc này có thể chứng minh họ thật sự vãng sinh chăng?

– Không thể!

– Vì sao?

– Vì sinh thiên, đỉnh đầu của họ cũng nóng; hoặc đời sau họ đến thế gian hưởng đại phú quí, đỉnh đầu của họ cũng nóng. Tóm lại, đỉnh đầu nóng, nhất định sinh vào cõi lành, nhưng không nhất định là được vãng sinh.

– Người thế nào mới thật sự vãng sinh?

– Lúc lâm chung họ nói với mọi người: Phật đến tiếp dẫn tôi, tôi đi với ngài, đây là thật sự vãng sinh. Nếu họ không nói, nhưng vẫn có những tướng an tường này thì nhất định họ không đọa vào ba đường ác, việc này có thể khẳng định. Người thật sự vãng sinh sẽ có cảm ứng. Mỗi ngày chúng ta nhớ nghĩ đến họ, họ sẽ báo mộng cho chúng ta, đem tình huống hiện tại của họ nói với chúng ta. Nếu thật sự vãng sinh, họ sẽ nói cho chúng ta biết họ đã ở thế giới Cực Lạc. Đây là thật không phải giả!

Chúng sinh vô lượng, cõi nước vô lượng, Bồ Tát tùy thuận chúng sinh trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết na-do-tha kiếp nhập bất khả thuyết bất khả thuyết hằng sa cõi Phật, đều dùng vô lượng hạnh hải để nghiêm tịnh những cõi ấy”. Chữ “nghiêm tịnh” là trang nghiêm cõi Phật và tịnh hóa nhân tâm. Tâm tịnh thì quốc độ tịnh. Đối với xã hội, đối với chúng sinh không lấy cũng không bỏ, đây là hạnh của Bồ Tát, hạnh của bậc thánh, chỉ có thánh nhân mới làm được. Phàm phu khởi tâm động niệm đều là lợi và hại: có lợi mới làm, không có lợi thì không làm; những việc có hại lại càng không làm!

Gần đây, có mấy đồng tu mang đến cho tôi đĩa CD nói về Đạo Thạnh Hòa Phu người Nhật, ông được người Nhật Bản xưng là bậc thánh về kinh doanh. Ông ở trên thương trường đã năm mươi năm đến nay chưa từng bị thất bại. Có người hỏi ông: Lý niệm này, phương pháp này ông học được từ đâu? Ông nói với mọi người: Tôi học từ Trung Quốc, từ lão Tổ tông hai, ba ngàn năm về trước.

Ông xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở thôn quê, việc học hành chưa hoàn thành, nhưng ông rất thông minh. Đúng là tay trắng làm nên sự nghiệp, ông sáng lập hai công ty đều được dự vào năm trăm công ty mạnh của thế giới, nhân viên làm việc có đến vạn người, chưa năm nào bị lỗ vốn, bất luận là giông tố hay nguy cơ tài chính gì đó, đều không ảnh hưởng đến công ty ông, mọi việc đều bình yên trôi qua. Cho nên, người Nhật gọi ông là bậc Thánh trong kinh doanh.

Hiện tại, trên thế giới có rất nhiều người học tập từ ông. Thật sự mà nói, ông vô cùng đơn giản, đó là người thiệt thà lại chấp nhận chịu thiệt. Trong công ty, ông đề xướng bốn chữ: “Kính thiên ái nhân” (kính trời yêu người), “Thiên” ở đây là “thiên lý lương tâm”; người nên theo lương tâm mà làm việc. Lợi nhuận đầu tiên của công ty ông là đưa cho công nhân, bởi công nhân cực khổ mới làm ra được. Cho nên công nhân của ông dù gian nan cực khổ thế mấy cũng không rời bỏ công ty, đều dốc hết công sức mà làm việc. Lợi nhuận thứ hai là đưa cho khách hàng. Lợi nhuận thứ ba mới thuộc về công ty, lợi nhuận này đặt ở sau cùng.

Tiền gửi vào ngân hàng nhiều nhưng lợi ích rất thấp. Chỗ ngân hàng khuyên ông nên rút tiền ra mua bán bất động sản, kiếm tiền sẽ rất nhanh. Ông nói: Việc này tôi không thể làm! Tiền đó không phải do công sức của tôi làm ra, đó là tiền bất nghĩa, sau này ắt có họa hại, tôi không dám làm! Quả nhiên, sáu bảy năm sau khi kinh tế đầu tư này bị phát hiện, nhiều nơi vay tiền ngân hàng đều bị vỡ nợ, riêng ông thì không có vấn đề gì. Người khác hỏi ông: – Có phải ông biết trước sự việc này chăng? -Không có! Không hề biết trước mà chỉ làm đúng lương tâm. Cái mà tôi không nên có, tôi tuyệt đối không cần nó! Đưa đến tặng cũng không cần!

Hai năm nay, hãng hàng không Nhật sắp vỡ nợ, bù lỗ cả ngàn ức Mỹ Kim! Tiền nhiệm thủ tướng Nhật Bản đến nhà ông ba lần mời ông cứu giúp ngành hàng không Nhật Bản và ông đồng ý. Hơn một năm sau đó, hàng không Nhật đã chuyển lỗ thành lời. Ông đã cứu vãn tình hình gần như bế tắc, không ai còn dám tin có thể hồi phục được!

Lúc đó, công nhân trong ngành hàng không Nhật đang ở vào thế cuộc tan rã, mất hết tinh thần. Ông tiếp nhận chức Tổng giám đốc này, ngày đầu tiên họp mặt công nhân, ông liền tuyên bố: Lợi nhuận đầu tiên của công ty thuộc về công nhân. Chí khí của công nhân liền tăng cao lập tức trở lại. Có thể nói hãng hàng không Nhật, ngoài Đạo Thạnh Hòa Phu ra, không ai có thể cứu vãn được! Vì sao? Đạo Thạnh Hòa Phu nương vào điều gì? Đó là nhân cách năm mươi năm của ông! Mọi người đều yêu mến ông. Ông vừa làm Tổng Giám Đốc thì mọi người trước đây không đi máy bay, liền chọn đi hãng hàng không Nhật. Vì sao? Vì tôn trọng ông, vì muốn ủng hộ ông!

Bạn xem! Công nhân chịu nỗ lực, bên ngoài được khách hàng hỗ trợ, nhờ vậy mà ông đã thành công. Chúng ta xem báo cáo của ông: Vốn khi đi Đông kinh đều đi tàu cao tốc nhưng bây giờ họ chọn hàng không Nhật để hỗ trợ ông. Điều này người khác không làm được! Người khác làm sao có được năng lực lớn như thế, đây là do đức hạnh cảm hóa vậy! Từ xưa đến nay, vua quan, tướng soái, nhân vật cao cấp nào trong mọi ngành nghề, không ai mà không dựa vào đức hạnh để cảm hóa được con người. Cho nên đức hạnh thành tựu sự nghiệp.

Xưa kia, Chu Văn Vương trị vì một nước lớn chỉ có một trăm dặm (theo thước của Trung Hoa) còn nhỏ hơn một huyện bây giờ. Nhưng ông cai quản rất tốt, trở thành nước gương mẫu của các nước chư hầu xung quanh. Thành công của ông là nhờ đức hạnh. Xã hội an ổn phồn vinh, nhân dân no ấm hạnh phúc, khu vực này mưa thuận gió hòa, mọi thứ đều tốt đẹp, đều do đạo đức cảm hóa nên. Vì thế, khu vực Trung Nguyên từ lưu vực Hoàng Hà đến lưu vực Trường Giang, chưa đến Châu Giang (thời nhà Chu chưa bằng chừng đó, chắc khoảng đến Giang Tây, Phúc Kiến là kể như vùng biên giới xa xôi rồi). Khu vực này, tất cả các nước lớn nhỏ có hơn tám trăm nước đều tôn Chu Văn Vương làm Thiên Tử. Đây là do mọi người kính ngưỡng, noi gương học tập mà tôn xưng ông.

Thực tế thì ông không có nắm quyền cai trị họ. Như đức Phật A Di Đà ở thế giới Tây Phương Cực Lạc được mười phương chư Phật tôn xưng ngài là “Quang trung cực tôn, Phật trung chi vương”, vì tôn trọng nên tôn ngài với danh hiệu này. Mỗi quốc độ chư Phật đều hướng về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Đây là do bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà tu hành trong năm kiếp.

Đạo Thạnh Hòa Phu, sự thành tựu của ông chính là nhờ tâm địa Bồ Tát của ông, không nghĩ đến mình, chỉ nghĩ đến người. Lúc công ty thịnh vượng nhất lại là lúc ông xuất gia, hình như lúc đó ông đã sáu mươi lăm tuổi, tôi không nhớ rõ. Trong báo cáo của ông có nói đến nguyên nhân vì sao ông xuất gia? Vì người đoán mạng xem tướng nói thọ mạng của ông là năm đó nên ông xuất gia!

Sau khi xuất gia, vì tiếng tăm ông rất lớn, nên có rất nhiều người đến tìm ông, gây phiền phức trở ngại cho chùa, nên ông phải hoàn tục, tiếp tục làm kinh doanh. Ông rất thích quyển Liễu Phàm Tứ Huấn, mỗi ngày đều đọc cuốn sách này (sách Liễu Phàm Tứ Huấn rất thịnh hành ở Nhật Bản, Thiên Hoàng cũng đọc cuốn sách này). Cuộc sống của Đạo Thạnh Hòa Phu rất đơn giản. Quan niệm kinh doanh của ông so với các nhà kinh tế học Tây phương hoàn toàn tương phản. Trong khi các nhà kinh tế học Tây phương nỗ lực kiếm tiền, riêng ông thì để cho nhân viên kiếm tiền, để khách hàng được lợi ích. “Hàng thật, giá đúng”, vật dụng của công ty ông bán ra là đáng tin nhất, tuyệt đối không có hàng giả. Đây là sự nghiệp Bồ Tát, ông đã thành công.

Năm nay (2011) ông đã tám mươi tuổi bèn nghỉ việc, chu du khắp nơi diễn giải tuyên truyền, khuyên người làm lành. Ông có diễn giảng ở Trung Quốc mấy lần. Hiện tại, dĩa CD này lưu thông rất nhiều. Đây là một người kinh doanh, thật sự đã tiếp thu được văn hóa truyền thống, là một tấm gương tốt cho giới kinh doanh.

Trang nghiêm Phật độ, thật vô Phật độ khả nghiêm; độ thoát chúng sinh diệc vô chúng sinh khả độ” (Trang nghiêm cõi Phật, thật chẳng có cõi Phật để trang nghiêm; độ thoát chúng sinh cũng chẳng có chúng sinh độ): Đây là đứng về Lý mà nói. Về Sự, Bồ Tát thật sự làm nhưng trong tâm không hề có nhiễm ô. Biết quốc độ, chúng sinh chỉ là giả tướng không thật. Những chúng sinh này thật sự là đang trong mộng: Trong mộng tạo nghiệp, trong mộng chịu khổ và trong mộng chịu nạn! Họ chưa từng tỉnh ngộ, cứ cho rằng cảnh mộng là thật. Họ thật là kẻ đáng thương!

– Vì sao nói không có chúng sinh được độ? Không có quốc độ được trang nghiêm?

– Vì pháp giới tức không phải là pháp giới; chúng sinh tức không phải chúng sinh! Trên Kinh Kim Cang nói rất thấu triệt: “chúng sinh tức không phải chúng sinh mới gọi là chúng sinh; quốc độ tức không phải quốc độ mới gọi là quốc độ”. Phàm phu thấy đó là thật; chư Phật, Bồ Tát thấy đó là chân tướng sự thật. Có người hỏi:

– Tất cả pháp như mộng, huyễn, bào, ảnh thì cứ tùy nó, cứ mặc kệ nó là được, sao Phật còn ứng đến, lại phải quan tâm nó?!

– Thật ra Phật cũng không hề quan tâm, để ý đến nó!

– Cớ sao Phật lại thị hiện?!

– Đây là cảm ứng thật không thể nghĩ bàn!

Như thí nghiệm của Tiến sĩ Giang Bổn Thắng (Masaru Emoto) về nước. Ông gửi cho nước một thông tin rằng:

-Tôi không thích bạn! Nước liền phản ứng cho ông thấy một đồ án. Sau đó, ông gửi tiếp một thông tin: -Tôi thích bạn! Nước cũng liền có phản ứng.

–  Như vậy nước có khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước chăng?

– Hoàn toàn không có! Đây là tự tánh khởi tác dụng! Chúng ta có thể từ thí nghiệm này lãnh hội được một ít.

– Chúng ta cầu Phật, Bồ Tát; các ngài có thật sự đến chăng?

– Nói thật là sai! Nói giả cũng sai! Chỉ cần khởi tâm động niệm là đã sai rồi!

– Làm thế nào mới thấu triệt được chân tướng sự thật?

– Buông bỏ tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì sẽ thấu triệt!

Biến pháp giới, hư không giới là một thể. Thân thể chúng ta cũng là một thể. Tay trái bị côn trùng cắn rất đau, rất ngứa; tay phải tự nhiên an ủi, vỗ về nó. Tay phải không hề nói: Nó là tay trái không liên quan đến tôi, tôi quan tâm đến nó làm gì! Không hề có! Tự nhiên là như vậy! Chúng ta không thể nào lý giải! Biến pháp giới, hư không giới là do tự tánh thanh tịnh viên minh thể biến hiện ra. Không những tất cả hữu tình chúng sinh có liên quan cảm ứng với chúng ta mà cả chúng sinh vô tình như cây cỏ, hoa lá, sơn hà, đại địa hay hiện tượng tự nhiên cũng đều có cảm ứng.

– Hiện tượng này từ đâu mà có?

– Toàn bộ đều do dao động!

Có dao động là có tác xạ, có tiếp thu. Dao động là hiện tượng tự nhiên, từ hiện tượng tự nhiên phát ra hiện tượng tinh thần. Từ hiện tượng tinh thần phát ra hiện tượng vật chất. Hiện tượng là động, tự tánh là bất động. Động không chướng ngại bất động, bất động cũng không chướng ngại động. Biến pháp giới, hư không pháp giới với ta là một thể, là chính mình. giống như trong cảnh mộng có chính mình, cũng có người khác, cũng có cây cỏ hoa lá, sơn hà đại địa, cũng có hư không pháp giới. Thử hỏi:

– Nó là thật hay giả?

– Nếu nói là giả, sao rõ ràng như vậy? Tỉnh dậy vẫn còn nhớ như in? Nếu nói là thật, thật đây là “Bất khả đắc!”

– Nó từ đâu đến? Sau khi tỉnh dậy, nó đi về đâu?

– Bất khả đắc!

Trên thực tế, hư không pháp giới và cảnh giới trong mộng không khác nhau. Trên kinh Phật dùng một câu để giải đáp tất cả hiện tượng gọi là “Pháp nhĩ như thị”, tất cả pháp vốn là như vậy, nó vĩnh viễn không có cảnh dừng, không có nguồn gốc, nhưng nó “đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận”. Điều này như trên hội Lăng Nghiêm, đức Phật nói: “Duy chỉ có chứng mới biết được!”

Phi thị ngữ ngôn phân biệt chi sở năng tri” (Chẳng thể dùng ngôn ngữ, phân biệt để biết được nổi). Đây là thật! “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, không có cách nào tưởng tượng, cũng không có cách nào nói rõ. Phạm vi của ngôn ngữ và phân biệt của ý thức là có giới hạn mà phạm vi của những hiện tượng này là vô hạn!

Hoàng Niệm lão cho rằng: “Câu trên quả thật là kim cang vương bảo kiếm, chặt phăng hết sạch những suy lường, kiến giải của chúng sinh, cũng tương ưng với câu “thị pháp phi tư lượng phân biệt chi sở năng giải” (pháp này chẳng thể do suy lường, phân biệt mà hiểu được nổi) trong Kinh Pháp Hoa. Đây chẳng phải là điều trùng hợp ngẫu nhiên mà chính là do thể tánh của hai câu tương đồng”. Nói cách khác, theo Hòa Thượng Tịnh Không: Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Pháp Hoa là đồng thể, đều phát xuất từ tự tánh viên minh thể.

Để soi sáng thêm ý nghĩa câu kinh văn này, Hoàng Niệm lão đã nêu ra dẫn chứng trong Kinh Pháp Hoa như sau: “Chư Phật tùy nghi thuyết pháp, ý thú nan giải. Sở dĩ giả hà? Ngã dĩ vô số phương tiện, chủng chủng nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, diễn thuyết chư pháp. Thị pháp phi tư lượng phân biệt chi sở năng giải. Duy hữu chư Phật, nãi năng tri chi. Sở dĩ giả hà? Chư Phật Thế Tôn , duy dĩ nhất đại sự nhân duyên cố xuất hiện ư thế.

Xá Lợi Phất! Vân hà danh chư Phật Thế Tôn , duy dĩ nhất đại sự nhân duyên cố, xuất hiện ư thế? Chư Phật Thế Tôn dục linh chúng sinh khai Phật tri kiến, sử đắc thanh tịnh cố, xuất hiện ư thế, dục thị chúng sinh Phật chi tri kiến cố, xuất hiện ư thế, dục linh chúng sinh ngộ Phật tri kiến cố, xuất hiện ư thế, dục linh chúng sinh nhập Phật tri kiến đạo cố, xuất hiện ư thế.

Xá Lợi Phất! Thị vi chư Phật dĩ nhất đại sự nhân duyên cố, xuất hiện ư thế”.

(Chư Phật thuận theo cơ nghi thuyết pháp, ý nghĩa khó thể hiểu nổi. Vì cớ sao vậy? Ta dùng vô số phương tiện, các thứ nhân duyên, thí dụ, lời lẽ để diễn thuyết các pháp. Pháp ấy chẳng thể dùng suy lường, phân biệt để hiểu được nổi, chỉ có chư Phật mới biết được thôi. Vì cớ sao thế? Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cõi đời.

Này Xá Lợi Phất! Thế nào là chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cõi đời? Chư Phật Thế Tôn muốn khiến cho chúng sinh khai Phật tri kiến, khiến cho họ được thanh tịnh nên xuất hiện trong đời, muốn chỉ bày tri kiến của Phật cho chúng sinh nên xuất hiện trong đời, muốn cho chúng sinh ngộ được tri kiến của Phật nên xuất hiện trong đời; muốn cho chúng sinh chứng nhập được đạo tri kiến của Phật nên xuất hiện trong đời.

Này Xá Lợi Phất! Đấy là chư Phật Thế Tôn vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong đời).

Đoạn kinh trên đã nói rõ: Chư Phật chỉ vì một đại sự nhân duyên là “khai, thị, ngộ, nhập tri kiến của Phật” mà xuất hiện trong đời. Điều Phật khai thị chính là tri kiến của Phật, nên chỉ có Phật với Phật mới có thể thật sự hiểu rõ (“Duy Phật dử Phật phương năng cứu cánh”). Chúng sinh vướng trong tình chấp, kiến giải, khởi tâm động niệm đều là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên Phật tuy dùng đủ các thí dụ, lời lẽ để giải thích, nhưng chúng sinh đối với tri kiến của Phật vẫn như điếc, như đui, chẳng thể thật sự thấu hiểu.

Đức Phật giảng kinh thuyết pháp hoàn toàn dựa trên hai nguyên tắc: Chân đế và Tục đế. Tục đế thì dễ hiểu, là y theo tri kiến của người thế gian mà giảng dạy. Người thế gian cho rằng tất cả pháp đều là thật, đức Phật cũng tùy thuận họ mà nói pháp dễ hiểu như: luân lý, đạo đức, nhân quả để mọi người đều có thể lãnh hội. Nếu thuận theo Chân đế, tức là nói đến cảnh giới của chư Phật thân chứng thì rất khó hiểu! Chúng sinh chưa buông bỏ vọng tưởng, chấp trước nên khi nghe Phật nói pháp về Chân đế cũng giống như nghe chuyện thần thoại, hoàn toàn không hiểu được, đặc biệt là Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm hay Kinh Pháp Hoa.

Cho nên, chỉ có đối với bậc thượng trí mới một phen nghe rồi liền ngộ, họ thật sự buông bỏ và thấu triệt. Còn loại hạ ngu, điều gì cũng không biết nhưng họ rất thật vâng lời, có thể buông bỏ nên cũng rất dễ độ, dễ dàng chứng quả. Họ Niệm Phật chỉ vài năm là biết trước giờ chết, thân không tật bệnh, nói đi là đi, đoan tướng hi hữu. Đây là thật không phải giả, chúng ta đã từng tận mắt chứng kiến. Phiền phức nhất là hạng người ở giữa, không thượng không hạ, nhân số này rất đông. Khi Phật còn tại thế, suốt bốn mươi chín năm nói pháp, cũng vì hạng người không thượng không hạ này. Hàng thượng căn gặp ngài liền đại triệt đại ngộ, hàng hạ ngu gặp ngài liền được vãng sinh. Đây là những chúng sinh căn tánh thuần thục.

– Căn tánh như thế nào gọi là thuần thục?

– Thượng trí thuần thục! Hạ ngu thuần thục!

Ngày xưa tôi còn học ở Đài Trung, thầy Lý thường nói với tôi: Ông rất muốn học người hạ ngu; học thượng trí dĩ nhiên là không học được; muốn học người hạ ngu, nhưng học mấy mươi năm vẫn học không giống!

– Vì sao học không giống?

– Không sửa đổi được tập khí!

Thầy Lý đa tài, đa nghệ, thầy biết rất nhiều cầm, kỳ, thi, họa nên rất khó bỏ, đó chính là học hạ ngu không giống!

–  Chúng ta niệm Phật đã nhiều năm, đến thông tin cũng không có! Sai sót là do đâu?!

– Kinh không sai! Phật, Bồ Tát không sai! Chư vị Tổ sư không sai! Mà sai ở chính mình không buông bỏ được!

– Vì sao không buông bỏ được?

– Tập khí chấp trước quá nặng! Thời gian huân tập quá dài!

Biết rất rõ “buông bỏ” là đúng, nhưng tự thân chưa làm chủ được cảnh giới trước mắt! Rõ ràng biết là không nên làm, nhưng vẫn cố ý phạm! Trong đây nhân tố rất nhiều. Tôi cảm thấy nhân tố quan trọng nhất là chúng ta chưa nhận thức thấu triệt đối với kinh giáo mà đức Thế Tôn đã chỉ dạy, có chăng chỉ là nhận thức được một chút bên ngoài! Nên nói: “Phật tuy dùng đủ các thí dụ, lời lẽ để giải thích nhưng chúng sinh đối với tri kiến của Phật vẫn như điếc, như đui, chẳng thể thấu hiểu”.

Khai tri kiến Phật”: “Khai” là mở bày, khai thị. Đức Phật mở cánh cửa này để chúng sinh nhìn thấy được cảnh giới mà Như Lai đã chứng.

– Cảnh giới đó là gì?

– Là Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Vô Lượng Thọ. Mỗi câu mỗi chữ trong đó đều là tri kiến của Phật.

Chúng ta thường nghe nói: “Phật chỉ độ người có duyên”. Người có duyên là người căn tánh thuần thục, họ thật sự phát Bồ Đề tâm, vừa nghe Phật khai thị, họ liền ngộ nhập. Đối với người căn tánh chưa thuần thục, đức Phật không nói pháp này, chỉ nói với họ những điều trong lục đạo như: thiện pháp, ác pháp, luân lý đạo đức, nhân quả, giúp chúng sinh không đọa lạc vào ba đường ác. Đây là những cảnh giới trong Kinh A Hàm.

Kinh Viên Giác nói: “Vị xuất luân hồi, nhi biện Viên Giác, bỉ Viên Giác tánh, tức đồng lưu chuyển” (Chưa thoát được luân hồi mà bàn đến Viên Giác thì cái tánh Viên Giác đó cũng chỉ là lưu chuyển). Câu kinh này chỉ rõ: Chẳng thể dùng phân biệt, so lường để hiểu nổi Viên Giác.

Ngài Nam Tuyền bảo: “Thuyết tác Như Như, tảo biến liễu dã” (Hễ nói ra cái Như Như thì ý nghĩa chân thật của nó đã sớm bị biến mất rồi). Vì vậy “phi thị ngữ ngôn phân biệt chi sở năng tri” (chẳng thể dùng ngôn ngữ phân biệt để biết được nổi). Rõ ràng với một đại sự này, ngôn ngữ bặt dứt, tâm hành lặng bặt!

Hòa Thượng Tịnh Không giải thích: Kinh Viên Giác nói “vị xuất luân hồi” (chưa thoát được luân hồi) chính là chỉ chúng sinh trong Lục đạo. Lục đạo chúng sinh đối với sự chứng Viên Giác của Như Lai không thể thật sự hiểu rõ, không thể lãnh hội.

Bỉ Viên Giác tánh tức đồng lưu chuyển” (Tánh Viên Giác đó cũng chỉ là lưu chuyển): “lưu chuyển” là tâm luân hồi. “Viên Giác” là chân tánh, chân như bổn tánh. Nếu dùng tâm phân biệt, tâm chấp trước để bàn đến Viên Giác thì cái tánh Viên Giác đó cũng biến thành tâm luân hồi. Đây là hiển thị: Suy nghĩ, đo lường, phân biệt không thể hiểu rõ Viên Giác.

– Nên dùng cách gì để thể hội Viên Giác?

– Không phân biệt, không chấp trước, không khởi tâm, không động niệm thì Viên Giác ở ngay trước mắt, không hề xa rời! A-lại- da là khởi tâm động niệm, Mạt-Na là chấp trước, đệ lục ý thức là phân biệt. Vấn đề chính là ta có thể buông bỏ được “tâm ý thức” này hay không?

– Vì sao phải buông bỏ?

– Vì nó là hư vọng không thật! Nó ngăn ngại chúng ta không thấy được chân tánh.

Ngài Nam Tuyền nói “Thuyết tác Như Như, tảo biến liễu dã” (Hễ nói ra cái Như Như thì ý nghĩa chân thật của nó đã sớm bị biến mất rồi).

– Thế nào là “Như Như”?

– Là Thật Tướng các pháp!

– Sao gọi là “Như Như”?

– Tất cả Tướng như Tánh, Tánh như Tướng gọi là Như Như, nên Như Như là Thật Tướng.

Dùng tâm phân biệt, chấp trước để hiểu về Như Như là hoàn toàn sai lầm! Cho nên, đem đại sự nhân duyên qui kết thành hai câu: “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”. “Ngôn ngữ đạo đoạn” là không thể nói; “tâm hành xứ diệt” là không thể “”, không thể “tưởng”. Không thể “”, không thể “tưởng” chính là buông bỏ tư tưởng, buông bỏ vọng tâm thì chân tâm sẽ hiện tiền.

Chân tâm là căn tánh của lục căn (không phải thức, thức là tư tưởng): Ở nơi mắt gọi là tánh thấy; ở nơi tai gọi là tánh nghe; ở nơi ý gọi là tánh biết v.v… Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, ngài dùng “căn tánh” của nhĩ căn tức là “tánh nghe”. “Phản văn văn tự tánh” là quay lại với tánh nghe của chính mình, không phải nghe từ bên ngoài. Bên ngoài là “Pháp tướng”, bên trong là “Pháp tánh”. Vừa quay đầu là kiến tánh (thấy tánh), tương ưng với “Pháp tánh”. Không quay đầu là tương ưng với “Pháp tướng”, là lục đạo, là mười pháp giới. Tương ưng với tự tánh là “Nhất Chân Pháp giới”, là tương ưng với Thường Tịch Quang. Điều này chúng ta cần phải biết.

Chúng ta mỗi ngày không rời kinh Vô Lượng Thọ, mỗi ngày không rời Phật của mình, niệm niệm đều không quên, trong tâm chỉ có Phật, không nghĩ đến điều gì khác, nghĩ điều khác là tạo nghiệp luân hồi, nghĩ nhớ Phật là tạo nghiệp thanh tịnh. Từ trước đến nay chúng ta quen tạo nghiệp luân hồi, bây giờ đổi thói quen này thành tu tịnh nghiệp, như vậy là thành công! “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện”, tâm tưởng sự thành, tất cả pháp đều từ tâm tưởng sinh.

Với thế gian này, tất cả đều tùy duyên, không có chấp trước, sao cũng được, như thế nào cũng hoan hỉ. Vì sao? Vì tất cả thiện hay ác duyên; thuận hay nghịch cảnh đều giúp ta thành tựu đức hạnh và trí tuệ của mình; giúp ta nhìn thấu, buông bỏ; giúp ta đời này nhất định vãng sinh. “Cảnh duyên không tốt xấu, tất cả đều ở tâm ta” đây là câu nói của Ngẫu Ích Đại Sư.

Hãy xem tất cả mọi người đều là chư Phật, Bồ Tát, đều là thiện hữu, bậc thầy đến thử thách ta. Được vậy thì tất cả cửa ải này ta đều thông qua, thật sự đã buông bỏ, thật sự đã làm được “Vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả”, hoàn toàn tương ưng với những gì trong kinh Phật dạy, vậy mới có thể đạt được lợi ích chân thật trong Phật pháp. Nếu không nhờ giáo dục của Phật pháp chúng ta làm sao thấu hiểu được sự việc này! Thật sự được khai ngộ thì niềm vui này không gì có thể sánh bằng, tất cả vấn đề đều được giải quyết. Mọi người đều là người tốt, mọi việc đều là việc lành.

Tóm lại, theo chú giải của Hoàng Niệm lão: “Quả giác của ngài Pháp Tạng thật chẳng thể nghĩ bàn! Chẳng thể dùng lời lẽ nào để có thể diễn tả nổi; chẳng thể dùng tâm sinh diệt của chúng sinh để suy xét, phân biệt mà thấu hiểu được nổi. Còn đối với phàm phu thì dẫu nói năng cũng chẳng thể biết được, không nói năng cũng chẳng thể biết được, phân biệt cũng chẳng thể biết được, không phân biệt lại càng không thể biết được! Diệu quả Pháp Thân cứu cánh của ngài Pháp Tạng chỉ có Như Như với Như Như trí mới có thể lãnh hội được, nên phàm tình làm sao suy thấu cho được!”