MẤY ĐIỆU SEN THANH
Sưu tập: Cư sĩ Bành Tế Thanh & Hy Tốc 
Việt dịch: Hòa thượng Thích thượng Thiền hạ Tâm
PHƯƠNG LIÊN TỊNH XỨ MẬT TỊNH ĐẠO TRÀNG

 

TẬP II
PHẦN BA
TỨ CHÚNG VÃNG SANH
(Tiếp Theo)

LAN ĐÀI

Lan Đài là biệt hiệu của cư sĩ Bành Hy Tốc, tự Lạc Viên. Ông ở huyện Nguyên Hòa tại Tô Châu, vốn là cháu họ của Bành Nhị Lâm cư sĩ. Năm hai mươi sáu tuổi, ông đỗ Hương thí. Từ bé Lan Đài đã thích ăn chay, đến tuổi thành đồng liền trường trai được năm năm. Kế đó bị bịnh lạc huyết, mới trở lại dùng mặn. Nhưng do nhân duyên đau bịnh, Lan Đài phát tâm tín hướng Phật thừa, giữ lục trai, hằng tụng kinh Hoa Nghiêm. Mỗi ngày ông đều niệm Phật cầu vãng sanh, dù trong cảnh xe thuyền đi xa cũng chưa từng quên bỏ. Cư sĩ từng làm mười bài thi Hồi hướng như sau:

I
Lên xuống luân hồi mãi khổ đau
Kiếp trần giải thoát biết chừng nào?
Ân cần sám lễ đài sen ngọc
Bất giác thương tâm lệ rạt rào!

II
Gió nghiệp đưa người khó tự do
Huyễn duyên vẫn khởi mối buồn lo!
Nạn tai ma bịnh thay đòi lớp
Gần chót hương mình chẳng sớm tu!

III
Đã hay sắc tưởng vẫn hư không
Muôn kiếp tham si chửa dễ trừ
Xét kỹ chi bằng chuyên niệm Phật
Sáu căn thâu nhập chẳng cò dư.

IV
Ruổi dong khéo tính vẫn thua nhàn
Hơi thở mạng người sớm liệu toàn!
Còn ngại tu hành sai đạo chánh
Đường mê vạn nẻo tối mênh mang.

V
Tịnh quán ngồi lâu bóng nhật tà
Cảm thông Cực Lạc lộ không xa
Mười năm lãng tử lìa quê cũ
Một niệm hồi quang thấy cảnh nhà.

VI
Rừng thưa gió lọt nỗi tiêu cầm
Chim hót đầu cành điệu nhã âm.
Trăm tám Bồ đề ngày tháng niệm
Giống sen mười trượng chẳng căn thâm.

VII
Tâm niệm nối tiếp niệm Di Đà
Muôn việc phù vân mặc chảy qua.
Đâu đợi mãn phần về tịnh cảnh
Hiện tiền thân đã thoát Ta Bà.

VIII
Trần chướng khi tan hiện pháp thân
Hồ thu nguyệt lặng sáng trong ngần!
Bể âm thanh rộn ba ngàn cõi
Một niệm nghe vào dứt biệt phân.

IX
Sáu chữ trừ mê, giác cũng không
Niệm tâm niệm Phật, Phật tâm đồng.
Ngàn đời phiền não tiêu tan sạch
Tô Lạc, dương chi thắm mát lòng!

X
Trời người phước tạm sẽ không còn
Xin phát Bồ đề thệ sắt son.
Nguyện lớn Phổ Hiền đầy pháp giới
Chưa sanh Cực Lạc dễ chi tròn!

Nhị Lâm cư sĩ thấy quyển Vãng Sanh Tập của ngài Vân Thê, sự và lời đều quá giản lược, muốn gom tìm lại những di tích vãng sanh xưa nay viết đầy đủ hơn để in ra. Lan Đài vui vẻ lãnh trách nhiệm phụ giúp, cùng vợ là Cố thị ra công sưu tầm, biên thành chín quyển lấy tên là Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, cho khắc bản để lưu hành. Cư sĩ lại tự tay tả một bộ kinh Pháp Hoa gần trọn năm mới xong. Ngày mùng ba tháng mười niên hiệu Càn Long thứ 58, ông bị bịnh rét thêm kiết lỵ rất trầm trọng. Biết mình khó thoát qua, cư sĩ từ trong phòng lần đi đến giường nằm của thân mẫu, không đề cập đến việc nhà, chỉ khuyên mẹ niệm Phật và nói: “Xin cố gắng tinh tấn, ngày kia sẽ gặp nhau ở Tây phương!” Ba hôm sau, trước khi mãn phần, ông cho mời Trừng Cốc hòa thượng đến nhà, cầu thọ tam quy ngũ giới và khẩn thiết phát nguyện sám hối. Cư sĩ tự nói: “Trong vài bữa trở lại đây, tôi được tịnh niệm hiện tiền, cành sen nơi bảo trì đã chắc có phần vin nắm!” Sáng sớm ngày mười ba, Lan Đài bảo người nhà dời giường nằm hướng về phương Tây, trước mặt thiết tượng Phật tiếp dẫn. Cư sĩ lại cho thỉnh Trừng Cốc hòa thượng đến và thưa: “Xin nhờ thầy xưng Hồng danh và trợ niệm cho con!” Rồi nằm nghiêng bên hữu niệm lâm râm niệm Phật theo, đến chiều tối mới qua đời. Lúc ấy mùi hương lạ bay đầy nhà, ông mới vừa ba mươi ba tuổi. Nhị Lâm cư sĩ đến phúng điếu, đề tặng bài thi rằng:

Bát ngát sen thơm khắp một phương
Buông tay phút chốc lại hoàn hương
Xương Lê chẳng biết đường tây độ
Luống phụ năm xưa Thập nhị lang!1

Cố thị tên Uẩn Ngọc, cũng sớm thông tuệ, giỏi về thi văn. Năm hai mươi chín tuổi cô mang bịnh. Ngồi kiết già niệm Phật mà vãng sanh.


BÀNH THIỆU THĂNG

Cư sĩ Bành Thiệu Thăng, pháp danh Thế Thanh, tự Doãn Sơ, người đời Thanh, ở huyện Trường Châu, tại Tô Châu. Từ thuở bé ông đã thông tuệ, lên mười sáu tuổi được bổ làm chư sanh, năm sau đỗ Hương thi. Năm kế đó lại đỗ Tiến sĩ, trọn đời an dưỡng không ra làm quan.

Ban sơ cư sĩ không tin Phật, chỉ ưa văn tự thế gian, có chí muốn giúp đời. Một hôm ông tự cảnh giác nói: “Tâm địa ta chưa sáng tỏ, biết làm sao?” Có kẻ bảo cho phép tu luyện đạo Tiên, ông tập theo ba năm không kiến hiệu. Sau đọc đến sách Phật, chợt tỉnh ngộ bảo: “Chỗ về của đạo là đây!” Từ đó ông mới tín hướng Phật thừa. Cư sĩ mến phong cách của Cao Trung Hiếu ở Lương Khê và Lưu Di Dân ở Lô Sơn, nên lại tự hiệu là Nhị Lâm, vì chỗ tu học của hai ngài trên đều gọi là Đông Lâm. Tế Thanh tánh thuần hiếu, khi cư tang mẹ, ngủ bên nhà tẩn ba năm. Lúc cha mất, ông lập đạo tràng niệm Phật nguyện đem công đức tụng mười bộ kinh Hoa Nghiêm, một ngàn quyển kinh Di Đà, một ngàn quyển kinh Kim Cang và mười triệu câu Phật hiệu của mình đã tu, hồi hướng cầu cho thân phụ sanh về Cực Lạc.

Kế đó không bao lâu, cư sĩ bỏ hết tập quán theo đời, chuyên tâm tu học Phật pháp. Ông rất thích những tác phẩm của hai ngài Phương Sơn, Vĩnh Minh, suy tôn ngài Liên Trì và Hám Sơn làm bậc tiền đạo của tông Tịnh độ. Năm hai mươi chín tuổi, cư sĩ ăn chay trường. Qua năm năm lại thọ giới Bồ Tát nơi ngài Văn Học Định. Từ đó ông không còn gần đàn bà, tự xưng là Tri Quy Tử, từng nói: “Tế Thanh nầy chí ở Tây phương, hạnh ở kinh Phạm Võng”. Cư sĩ có lời văn quì phát thệ trước bàn Phật rằng: “Nếu Tế Thanh con, đã thọ giới rồi mà còn phá giới, tăng trưởng pháp ác, hủy hoại căn lành, xin hộ pháp chư thiên chu diệt ngay để làm gương cho thế tục. Như con nghiêm sửa thân tâm, giữ gìn giới phẩm, thì hết kiếp nầy nguyện được sanh về An Dưỡng. Xin mười phương Tam Bảo chứng minh, khiến con mau đắc Niệm Phật tam muội. Nguyện con khi lâm chung xa lìa trần cấu, thấy đức Di Đà, nhẹ thoát về Tây, không còn chướng ngại. Khi đó nguyện cho kẻ thấy người nghe đều phát tâm như con, cầu về Cực Lạc, chứng Vô sanh nhẫn, rồi cùng trở lại Ta Bà độ khắp loài hữu tình đồng thành Chánh giác!” Sau cư sĩ bế quan ở Văn Tinh Các tu môn Nhất hạnh tam muội, đề chỗ ở là Nhất Hạnh Cư. Ông có làm mười thi bế quan như sau:

I
Lần bẩn phong trần tự bấy lâu
Mà chân hạnh phúc những là đâu?
Ngày nay hồi hướng về An Dưỡng
Kiếp mộng vô minh đã dãi dầu!

II
Thần Phật bao la khắp thái hư
Điểm trần lặng lẽ chẳng còn dư!
Chớ đem tri kiến nhiều phân biệt
Một niệm hồi quang thấy Đại Từ.

III
Chuỗi lần trăm tám chẳng đuôi đầu
Mỗi niệm tinh minh mỗi hạt châu.
Sáu chữ mở toang Vô tận tạng
Như như buông thả lại hồi thâu.

IV
Cảnh vườn tịch mịch tợ thâm san
Ngày vắng kìa ai gõ bế quan?
Nhắn bạn đồng tu nên tự tỉnh
Đừng theo ngoài cửa mãi mơ màng!

V
Dưới đỉnh Nghiêu phong ngập ráng mây
Ngon mùi lê hoát dạ vui đầy!
Gió đông khéo mách niềm tâm sự
Tiếng Phật thâm trầm quá gác tây.

VI
Rừng lạnh ngàn mai nở trắng phau
Cành xuân chim hót giọng thanh thao
Hương nguyền vì niệm Quan Âm hiệu
Thinh sắc đường kia chớ lạc vào!

VII
Ngước lên rồi lại cúi đầu trông
Liên quốc đâu từng cách điểm lông?
Tiếng hát Ca lăng đà nói rõ
Đây miền chân tịnh chớ mê lòng!

VIII
Giữa đêm trừ tịch chốn môn đình
Phá cảnh u trầm xướng kệ kinh.
Mãn khóa Pháp Hoa nhàn rỗi việc
Chén trà Long Tỉnh uổng vơi bình.

IX
Lại đối Ni Sơn hỏi cựu manh?2
Cung đàn réo rắt điệu vô sanh.
Trong bầu xuân sắc đi thong thả
Dưới gót hoa luân nở một vành.

X
Hương sơn lão tử rất thanh chân
Lối rẽ nhiều phen phải hỏi thăm!3
Chớ xót nguồn hoa tin tức vắng
Cảnh xưa bên suối vẫn đầy xuân!4

Cư sĩ lại thuê họa công vẽ bức đồ Cực Lạc Thế Giới, căn cứ theo chánh báo y báo trang nghiêm của ba kinh Tịnh độ. Bức đồ nầy sửa đi đổi lại tất cả bốn lượt, trải nửa năm mới hoàn thành. Tế Thanh tự đề lời kệ rằng:

Nếu người muốn biết rõ
Chư Phật trong ba đời.
Nên quán tánh pháp giới
Tất cả do tâm tạo.
Tôi đọc kệ Hoa Nghiêm
Tin vào môn Tịnh độ
Do tịnh nguyện chư Phật
Thành cảnh diệu trang nghiêm
Tịnh nguyện như hư không
Chẳng ngăn các hình tướng
Nước công đức vô biên
Nổi hiện hoa sen báu.
Mỗi hoa một chúng sanh
Có đủ Như Lai Tạng.
Bảo trì và bảo thọ
Câu lơn báu vây quanh.
Lớp lớp lầu các màu
Đầy khắp hư không giới.
Hoặc tắm dòng hương thủy
Hoặc hưởng vị diệu trân
Hoặc ngồi thiền kinh hành
Hoặc tụng kinh nghe pháp.
Hoặc giỏ đựng hoa đẹp
Cúng dường Phật mười phương
Hoặc bạn lành hội họp
Đồng vào Bồ đề tràng.
Các chim cùng nhạc trời
Phát xướng tiếng hòa nhã
Từ Văn vào Tư, Tu
Một niệm đều siêu việt
Huống đức Vô Lượng Thọ
Ngồi yên đài bảo hoa
Mây từ che trời người
Mưa pháp nhuần nhã khắp.
Nghe rồi được giải thoát
Thẳng đến ngôi nhất sanh
Việc lợi ích như thế
Vô cùng, chẳng nghĩ bàn!
Cũng như họa sư kia
Một tâm biến các cảnh
Chẳng lìa đầu lông nhỏ
Hiện chỗ ở Bảo Vương.
Không phân biệt kia đây
Một tức khắp tất cả.
Bức họa cùng người họa
Kết cuộc chẳng có chi!
Nguyện những người nghe thấy
Như tôi cùng phát tâm
Nương niệm công đức nầy
Lên ngôi Bất thối chuyển.
Đường vạn ức đâu xa
Ngày đây đã đầy đủ!

Cư sĩ thương chúng sanh đời mạt pháp không đủ chánh nhãn, chống báng lẫn nhau, viết ra quyển Nhứt Thừa Quyết Nghi Luận, dung thông quan điểm hai đạo Nho, Thích. Lại trước tác quyển Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận, hóa giải sự tranh chấp giữa Tịnh cùng Thiền. Và soạn thuật quyển Tịnh Độ Tam Kinh Tân Luận, phát huy những ý chỉ từ trước nói chưa hết của Liên Tông. Ngoài ra còn biên soạn các quyển: Cư Sĩ Truyện, Thiện Nữ Nhơn Truyện, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, tùy cơ tiếp dẫn. Những tác phẩm nầy được nhiều người truyền tụng và lưu hành rộng trong đời. Ông lại xuất ra muôn lượng vàng, phương tiện cho gây quỹ lấy lợi tức để tu tạo chùa, ấn tống kinh, cúng trai tăng, mở Cận Thủ Đường nuôi kẻ cô quả, đặt Nhuận Tộc Điền giúp hạng đói nghèo, dựng Truất Ly Hội trợ cấp người sương cư, lập Phóng Sanh Hội để châu toàn vật mạng. Những công đức ấy đều có văn phát nguyện hồi hướng cầu cho mình và các loài hữu tình đều sanh về Cực Lạc.

Cư sĩ nương các tăng xá thuộc vùng Tô, Hàng tịnh cư hơn mười năm, mỗi ngày đều có khóa trình tu niệm. Ông dự chế các điều khoản khi mình mạng chung, và không cho lập hậu. Mùa thu năm Càn Long thứ sáu mươi, cư sĩ bị nhiễm bịnh ở Văn Tinh Các. Sang tiết đông, tinh thần lần suy kém. Ông gọi cháu là Chúc Hoa giao cho quản lý các hội từ thiện, di chúc bảo duy trì đừng để suy mất. Một vị Tăng là Chơn Thanh hỏi ông có thấy điềm lành chăng? Cư sĩ đáp: “Đâu có điềm chi lạ, việc lớn của tôi ở vào ngày Khai ấn sang năm!” Qua xuân nhằm đầu niên hiệu Gia Khánh, ngày hai mươi tháng giêng, cư sĩ viết kệ từ thế rằng:

Thân số trầm luân tợ điểm trần
Duyên sao chìm nổi chốn mê tân?
Ngày nay thăng hướng Liên hoa quốc
Chớp mắt thu về vạn kiếp xuân!

Viết xong, ngồi kiết già niệm Phật mà thoát. Lúc ấy quả nhiên nhằm ngày Khai ấn trong nhà. Ông hưởng dương năm mươi bảy tuổi.


LỮ HUẤT NHƯỢC

Cư sĩ Lữ Huất Nhược, người đời Thanh, quê ở Tiền Đường, ưa bố thí làm lành, siêng tu tịnh nghiệp. Ông trường trai hơn hai mươi năm, sớm hôm tụng niệm không lúc nào biếng trễ.

Năm Gia Khánh thứ ba, vào tháng hai, cư sĩ bỗng vương bịnh. Có người bạn là Chương Thuyên ở Thiều Khê, nhân việc cần đến Hàng Châu, ở trọ tại nhà. Đêm lại, Chương Thuyên mộng thấy một vị Tăng ngồi kiết già ở trước sân xưng Phật hiệu. Thuyên hỏi: “Sư niệm Phật để làm chi?” Vị Tăng đáp: “Lữ Huất Nhược có căn lành, chẳng còn mấy ngày nữa sẽ sanh về cõi Cực Lạc. Nay ta niệm Phật để tiễn đưa, việc ấy ngươi chưa biết hay sao?” Chương Thuyên thức giấc lấy làm lạ, sáng ra đem thuật lại với con của Lữ là Văn Yến. Yến lộ vẻ bi ai thưa: “Cha cháu từ hạ tuần tháng giêng đã trối dặn việc sau, bảo ngày mùng bảy tháng hai sẽ vãng sanh về Tịnh độ. Nay bác đã mộng thấy điềm như thế, tất việc ấy đúng rồi!”

Đến đầu ngày mùng sáu, nơi phòng nằm của Huất Nhược bỗng có hương sen lan tỏa thơm bát ngát, trải qua trọn đêm không tan. Sáng sớm hôm sau, hương càng ngào ngạt. Lữ Huất Nhược gọi người nhà bảo: “Đức A Di Đà cùng chư Bồ Tát đã đến tiếp dẫn!” Nói xong, ngồi chắp tay niệm Phật mà qua đời. Việc nầy Chương Thuyên có ghi rành rẽ thành thiên Truyện Ký.


TÀO THÁNH HỮU

Cư sĩ Tào Thánh Hữu, người ở Gia Thiện, thường bị bịnh phong, tay chân co giựt. Do bịnh khổ, ông đến dâng hương nơi chùa Thiên Trúc ở thành Hàng Châu, phát thệ trước Tam Bảo, nguyện trọn đời niệm Phật cầu vãng sanh không thối chuyển. Từ đó đi đứng nằm ngồi tiếng Phật không dứt, niệm đến lúc tha thiết, lại rơi lệ khóc thương. Cư sĩ tu hành tinh tấn như thế suốt mười năm.

Niên hiệu Gia Khánh thứ mười sáu, vào ngày mười một tháng bảy, Thánh Hữu bảo con đến am Địch Thu ở bến Bắc thỉnh sáu vị Tăng về nhà trợ niệm. Ngày mười bốn chư Tăng đến, ông thưa: “Mười sáu tới đây, tôi sẽ về Tây phương. Xin các thầy xưng Phật hiệu trợ niệm cho ba ngày. Công đức ấy nguyện vô vàn cảm tạ!” Bắt đầu từ hôm đó, mỗi ngày chư Tăng niệm Phật mười cây hương, mỗi hương chia ra phân nửa ngồi, phân nửa đi kinh hành, Thánh Hữu cũng tùy chúng niệm theo. Tới chiều ngày mười sáu, khi đang ngồi niệm Phật, hương cháy vừa được vài tấc, cư sĩ liền thoát hóa.

LỜI BÌNH:

Người xưa niệm Phật hằng cảm kích rơi lệ. Đời nay tu hành thường theo bề ngoài mà cầu danh lợi. Giả sử có tinh tấn được nhứt thời, tiếp theo đó lại sanh ra biếng trễ. Cho nên dùng sức nhiều mà thành công ít, chính là bởi nguyên nhân ấy. Vậy hành giả cần phải lưu ý dè dặt!


TRỊNH TRIỆU VINH

Cư sĩ Trịnh Triệu Vinh tự là Đình Huân, người thôn Thanh Trạch tại Ngô Giang. Ông ăn chay từ thuở bé, tánh ưa thích làm lành. Tới tuổi trung niên, buôn bán tại Hán Khẩu, gia thế lần phát và thiện tâm cũng lần tăng.

Trước đó có vợ của người bạn đồng nghiệp trong khi đau yếu, các âm binh bắt hồn dẫn đến một đền nọ. Cô nầy bị thần quở trách là bất hiếu, muốn phạt cho chết để giam cầm xử tội. Cô khẩn thiết van xin thì thần bảo: “Ngươi muốn khỏi tội, thì phải đến bậc thiện nhơn là Từ Đại Quân thương thảo mới được!” Tỉnh lại, cô y theo lời, liền được miễn. Từ Đại Quân ưa làm lành, tu tịnh nghiệp, trước nay vẫn là hàng chí thích của Trịnh Triệu Vinh. Nghe được việc nầy, Triệu Vinh phát lòng tin tưởng niệm Phật, mỗi ngày càng gia công. Ông khẳng khái bỏ ra muôn lượng vàng, xây dựng Thiện đường để cứu giúp kẻ cô đơn nghèo khổ, nguyện đem công đức nầy hồi hướng về Tịnh độ. Khi khách đến, nếu chẳng phải việc cần, liền ẩn mặt tu niệm, không giao tiếp một lời. Lúc lớn tuổi, ông đem cái thọ dưỡng sanh bằng gỗ Sao của mình nhường lại cho người. Cư sĩ thường mang tiền và chuỗi tràng đến các xóm nhà nghèo bố thí, ân cần khuyên người niệm Phật. Vào mùa đông, gặp lúc nghiêm hàn, dù cởi áo giúp cho ai khỏi rét, ông cũng không từ nan sẻn tiếc.

Vào tháng chạp niên hiệu Gia Khánh thứ 18, cư sĩ cảm bịnh nhẹ. Đứa con có việc xin tạm xa nhà ít hôm, ông bảo: “Nên sớm trở về, ta sẽ vắng mặt trong một ngày gần đây!” Đến kỳ hạn, cư sĩ ngồi xây về phương Tây, quyến thuộc đứng vây quanh, ông bảo: “Mau xưng Phật hiệu trợ niệm, Bồ Tát đã giáng lâm rồi!” Mọi người vừa chắp tay niệm Phật, bỗng nghe mùi hương lạ bay ngào ngạt. Giây phút cư sĩ liền vãng sanh, thọ được bảy mươi tám tuổi.


NGÔ LIÊM

Ngô Liêm tự Tỵ Mưu vốn là hàng chư sanh ở huyện Nguyên Hòa, cha ông thờ kính Tam Bảo, có quen một vị Tăng ở chùa Sư Lâm. Lúc thân phụ bịnh, vị Tăng thường đến thăm viếng và khai thị pháp môn Niệm Phật. Ngô Liêm ở gần bên nghe được, bỗng chợt tỉnh ngộ, quy hướng về Tây phương.

Cư sĩ tánh đơn giản thầm lặng, tuy niệm Phật không xen hở, nhưng người ngoài không ai biết. Đến hơn ba mươi tuổi, vì nhà nghèo phải làm nghề dạy học. Lúc đi thi được đỗ đầu, ông cũng không lộ sắc vui. Cư sĩ từng bảo thân hữu rằng: “Chí của tôi có chỗ khác lớn hơn, chớ không ở nơi khoa bảng!” Chẳng bao lâu, nơi dạ dưới của ông bỗng nổi một cục bướu chữa trị mãi không lành. Một hôm bướu vỡ ra, máu chảy nhiều, cư sĩ nhân cảm tác hai bài thi rằng:

I
Thịt thừa theo bám lấy thân thừa
Mà kiếp tàn sanh đã chán chưa?
Bốn đại suy ra không ngã tướng
Huyễn thân tươi trẻ được bao mùa?

II
Chẳng lựa tìm thầy hỏi thuốc xa
Bịnh duyên nhẫn biết chỉ mình ta.
Từ nay hôm sớm Di Đà Phật
Chứng đến Kim Cang bất hoại mà!

Ngô Liêm nằm luôn hai tháng, bịnh khổ càng tăng, song niệm lực càng bền chắc. Ba hôm trước khi mãn phần, cư sĩ dự biết ngày giờ, dặn người nhà để cho mình thanh tịnh. Đến kỳ hạn, xin thỉnh vài bậc danh tăng trợ niệm, rồi trong tiếng Phật hiệu, ngồi chắp tay mà vãng sanh. Lúc ấy nhằm ngày 23 tháng hai, niên hiệu Gia Khánh thứ mười chín.


TRẨM ĐÌNH DU

Cư sĩ Trầm Đình Du, người đời Thanh, quê ở Gia Hưng. Tánh ông đoan nghiêm cẩn thận, khi hữu đều chính tự tay mình làm. Thường ngày cư sĩ niệm Phật không dứt tiếng, cả những lúc làm việc, hoặc đi đứng nằm ngồi. Nhiều người trêu cười, song ông không để ý đến. Cư sĩ tu trì như thế vài mươi năm, thường nói: “Niệm Phật càng thuần thục, xử sự càng tường minh!”

Đến bảy mươi ba tuổi, một hôm ông cảm bịnh sơ sài, bảo người nhà rằng: “Đức A Di Đà đã đến, hãy thắp sáng đèn nến nơi bàn thờ!” Rồi đốt hương cầm nơi tay niệm Phật mà vãng sanh. Bấy giờ nhằm ngày mười chín tháng ba năm Gia Khánh thứ mười chín.

LỜI BÌNH:

“Niệm Phật càng thuần thục, xử sự càng tường minh”, đó mới thật là cảnh động tịnh nhứt như, đi sâu vào tam muội. Kẻ theo danh lợi, thường nói: “Tôi bị nhiều việc phân tâm, không rảnh để niệm Phật!” Hoặc bảo: “Nếu chuyên niệm Phật, còn tâm tư đâu mà lo việc khác?” Đó là những lời nói chưa kinh nghiệm, cũng là trạng huống của tâm giải đãi. Nếu không tu hành, khi cái chết chợt đến, phải buông bỏ tất cả chỉ có tội tướng theo bên mình, đó là lỗi của ai ư?


TRƯƠNG HIẾU LÂM

Cư sĩ Trương Hiếu Lâm, hiệu Lộc Tuyền, người đời Thanh, quê ở Hoa Đình. Ông thờ Phật rất thành kính, ưa bố thí, ai có việc gấp đều tìm đủ cách giúp đỡ không nại khó khăn. Mỗi ngày cư sĩ tụng kinh Kim Cang, A Di Đà và niệm Phật một muôn câu.

Niên hiệu Gia Khánh thứ 23, một hôm ông dậy sớm, bảo người nhà rằng: “Ta mộng thấy hoa sen đã nở!” Đến tháng giêng năm sau, một đêm cư sĩ đốt hương, ngồi xây mặt về Tây, tụng Di Đà, Tâm kinh qua một lượt rồi đảnh lễ ba lần. Xong lại ngồi chắp tay niệm Phật thầm đến nửa đêm, mỈm cười mà vãng sanh. Lúc ấy mùi hương lạ bay đầy nhà.

Trước khi ấy, con thứ tư của Hiếu Lâm là Ký Chung tu tịnh nghiệp, cũng thích bố thí, giúp kẻ cấp nạn y như cha. Ông ăn cơm rau mặc áo vải, sống rất đơn giản, hiếu thuận với cha mẹ. Mẫu thân qua đời, Ký Chung thương khóc ốm gầy, thổ huyết vài chén, nói: “Cha còn có ba anh ở lại, con xin đi!” Rồi ngồi bên linh cữu mẹ, niệm Phật lâm râm, trải qua ba ngày, cầm chuỗi mà mãn phần. Gương hiếu thuận chân tu nầy được ghi chép vào Truyện Ký ở bản quận.


PHAN VẠN TÔN

Cư sĩ Phan Vạn Tôn, người ở cửa khẩu Lê Kinh tại Ngô Giang. Tuổi trung niên, đứa con trai duy nhứt mãn phần, ông thương buồn phát tâm xuất thế, đến non Phật Đảnh ở Nam Hải cầu Tạng Ngộ hòa thượng xuống tóc. Ngộ công bảo: “Ngươi còn mẹ già, việc ấy chưa thể được. Huống chi sự tu hành không phải ở nơi xuất gia. Được một người bạn lành lúc bất thường nhắc nhở cũng đủ để tiến đạo!” Vạn Tôn nghe nói mới thôi.

Từ đó ông quy y Tam Bảo, tinh tấn tu hành, lúc hơi lớn tuổi lại ăn chay trường. Cư sĩ vốn có bịnh ghẻ lác nơi hạ thể, đến thời gian đó chứng ấy bỗng phát nặng, lan lên khắp đầu mặt. Bị sự đau ngứa nhức nhối chịu không kham, ông tới mé sông muốn tự vận. Một bạn đạo là Định Xuyên biết được, theo ngăn lại bảo rằng: “Bịnh từ nơi nghiệp mà khởi, nghiệp lại do tâm sanh. Nếu đem lòng chán buồn hờn oan tự trầm, thì gốc mê càng sâu đời sau thêm khổ, điều ấy há không đáng sợ ư? Như anh xét biết nghiệp mình, hối ngộ tự trách, cố gắng nhẫn chịu, gia công tu hành, thì tai họa chính là cái duyên hay để tăng tiến phước huệ vậy. Thuở xưa có nhiều bậc càng tu nạn tai lại càng lắm, nhưng nhờ biết hôi ngộ giữ chánh niệm, nên khi lâm chung đều có điềm tốt vãng sanh. Cho nên nghiệp lực tuy mạnh, song tâm lực lại càng mạnh hơn, có sự chuyển biến khó nghĩ bàn là như thế ấy!”

Vạn Tôn nghe lời chợt sáng suốt tỉnh ngộ, bỏ ý nghĩ quyên sanh, niệm Phật càng siêng năng tha thiết. Hơn một năm sau, bịnh thuyên giảm lần rồi dứt hẳn. Niên hiệu Gia Khánh thứ tư, vào tiết Trọng hạ, cư sĩ bỗng thấy nơi cửa tịnh thất mây đẹp nổi hiện xoay vần, trong ấy ẩn hiện một chiếc hồ lô phóng ánh sáng. Ngày mùng một tháng mười năm đó, ông cảm bịnh nhẹ. Ba hôm sau, cư sĩ tắm gội thay y phục mới sạch, rồi ngồi ngay thẳng nơi giường, nhờ vợ xưng Phật hiệu để hộ trợ. Ông cũng lâm râm niệm theo, giây phút yên lặng mà thoát.

Sau khi cư sĩ vãng sanh, bà vợ đem y phục thiêu hóa. Lúc lửa tắt, nơi tro hiện ra tướng Tây phương Tam Thánh, mày mắt rõ ràng, các nếp áo cũng lồ lộ đầy đủ. Ngày chiêu hồn, người vợ đem đốt một chiếc áo lót, trong tro lại hiện ra vài mươi chữ sắc đỏ. Nhưng rất tiếc bị kẻ không biết quét xóa đi. Người xa gần nghe chuyện nầy đều kinh lạ thở than khen ngợi. Cư sĩ hưởng dương được sáu mươi sáu tuổi.


TRẦM THƠ HOA

Cư sĩ Trầm Thơ Hoa, hiệu Trử Trà, vốn là một vị Hiếu Liêm ở Tiền Đường. Từ thuở bé ông đã biết kính tin Tam Bảo, gắng sức làm lành. Lớn lên thường in kinh Phật và các sách khuyên thiện để ấn tống. Đến như các việc giới sát phóng sanh, lại càng thiết thật tuân hành.

Tuổi trung niên, cư sĩ thọ ngũ giới, trường trai thờ Phật, chuyên tâm về Tịnh độ. Mỗi ngày ông đều tụnh kinh A Di Đà, niệm Phật năm muôn câu, trải vài mươi năm như thế không hề thiếu sót. Lúc lớn tuổi, được tuyển làm giáo chức ở Ninh quận, song khước từ không nhận. Cư sĩ có tự vẽ một bức họa mình ngồi kiết già nơi hoa sen để nêu rõ ý chí. Một đêm vào khoảng cuối canh tư, ông bỗng thấy trong thất sáng tỏ, cho là trời đã rạng, vội trở dậy rửa mặt để lễ niệm. Nhưng được một lúc lại trở tối như cũ. Nửa tháng sau khóa lễ vừa xong, cảm thấy trong người mỏi nhọc, cư sĩ lại giường thầm niệm Phật không dứt. Chiều hôm kế, chắp tay yên lặng mà qua đời. Lúc ấy nhằm ngày rằm tháng chạp, niên hiệu Gia Khánh thứ hai mươi bốn.

LỜI BÌNH:

Cổ nhơn có vị thấy ánh sáng trong suốt như gương hiện nơi vách, có vị thấy quang minh êm dịu tợ ánh trăng hiện trên ngọn tháp. Trong Vãng Sanh Tập cho đó là sự ứng nghiệm do thân tâm yên lặng sáng suốt hiện ra. Ánh sáng trong thất mà Thơ Hoa trông thấy, âu cũng là hiện tượng đó chăng?


HỨA NHÂN THỤC

Hứa Nhân Thục, người ở Nam Hương huyện Đan Đồ. Cư sĩ tánh thuần hậu thông minh, lại rất hiếu thuận. Do cha là Ngộ Thành chuyên tu tịnh nghiệp, nên Nhân Thục cũng kính tin ngôi Tam Bảo, thường trì tụng chú Chuẩn Đề. Lên mười lăm tuổi, cư sĩ vào trọ ở trong thành học tập nghiệp khoa cử. Khi có tiền dư, lại phóng sanh giúp kẻ nghèo khổ. Thân phụ muốm tìm nơi hỏi vợ cho, ông đều từ chối.

Đến hai mươi hai tuổi, Nhân Thục ứng khoa Viện thí xong, mang bịnh lạc huyết. Vài năm sau, lần lâm vào cảnh trầm kha, nằm kêu rên nơi giường bịnh. Ngộ Thành hiểu dụ con rằng: “Bịnh vốn do nghiệp trước chiêu cảm. Đức A Di Đà ở thế giới Cực Lạc là đấng vô thượng y vương. Nếu con phát tâm niệm Phật cầu sanh về cõi đó, thì nghiệp trầm kha vạn kiếp sẽ được thoát hẳn trong một sớm chiều”. Nhân Thục nghe nói tỉnh ngộ, xin thỉnh Tuyết Cốc hòa thượng ở chùa Trúc Lâm đến nhà, cầu thọ Tam quy Ngũ giới. Kế đó cư sĩ phát lộ sám hối, quyết chí niệm Phật cầu sanh Tây phương. Đến ngày mùng tám tháng tư, lại xin mời chư Tăng đến nhà niệm Phật trong bảy hôm. Mãn kỳ hạn, liền nhờ xuống tóc, rồi mặc đồ tu. Quyến thuộc trông thấy đều sa nước mắt lộ vẻ bi cảm. Nhân Thục nói: “Xin tránh đi nơi khác đừng làm loạn chánh niệm của tôi!” Từ đó cư sĩ càng gắng hết sức niệm Phật. Sang mùng một tháng năm, lại cầu thỉnh chư Tăng niệm Phật thêm một kỳ hạn bảy ngày nữa. Trong khóa niệm, bịnh chuyển nặng, chỉ còn nằm ngửa nơi giường khó nỗi day trở. Nhân Thục bèn dứt cả ăn uống chuyên lòng niệm Phật chờ vãng sanh. Đến chiều ngày thứ sáu, cư sĩ thưa với cha rằng: “Con sắp đi, đêm nay có thể viên mãn!” Ngộ Thanh hiểu ý, thiết bàn Phật trước mặt bịnh nhơn, đốt hương lên đèn, xin chư Tăng đứng hai bên trợ niệm. Tới nửa đêm, ngoài cửa song bỗng có ánh sáng đỏ chói trời, chớp lên vài lượt. Nhân Thục tự gắng sức nằm nghiêng bên hữu, chắp tay mỉm cười mà qua đời. Lúc ấy cư sĩ mới vừa được hai mươi lăm tuổi.

Ngộ Thành tự là Tâm Tăng, có làm nhiều thi kệ vịnh đạo, được lưu hành nơi đời. Nay xin lục ra bốn bài như sau:

I
Chẳng trụ có, không, dứt biệt phân
Một lòng nhàn tản tợ phù vân.
Hoa vàng trúc biếc phô mùi đạo
Để ý tìm cầu lạc lối chân.

II
Cần tu tịnh nghiệp thoát trần duyên
Dẹp mối suy tư thấu lẽ huyền.
Nếu lại nghi ngờ sanh thức kiến
Mây mù che khuất cảnh thanh nhiên.

III
Đàm tông nói giảo luận tuôn trào
Tranh tỏ thông minh thấy hiểu cao.
Sao kịp bền tu, tâm hạnh thật
Di Đà sáu chữ trảm ma đao.

IV
Muôn kiếp chìm mê hối ngộ chầy
Đường tu lỗi rẽ thấy nhiều đây!
Trả xong duyên huyễn thành vô lậu
Một đóa sen màu nở cõi Tây.


CHÂU QUANG

Châu Quang hiệu Tây Liên cư sĩ, vốn là hàng chư sanh ở Giang Ninh. Ông bẩm tánh thuần hậu, lạnh nhạt với lợi danh, tuy gia thế sang giàu, song tuyệt không thói khoe khoang khinh ngạo. Đến tuổi trung niên, cư sĩ trường trai thờ Phật, mỗi ngày tụng kinh Kim Cang, niệm Phật vài muôn câu nguyện sanh về Cực Lạc. Khi gặp bè bạn, sau vài lời hàn huyên liền đề xướng pháp môn Tịnh độ, khuyên nhắc tu hành. Ông từng xuất của mình và quyên góp tiền in kinh Di Đà Sớ Sao, tự tay kiểm duyệt, cho lưu hành khắp miền Giang, Hoài. Lúc lớn tuổi, thần khí vẫn khỏe mạnh, niệm Phật càng tinh tấn.

Mùa thu năm Gia Khánh thứ 22, cư sĩ mang chứng sán khí rất nặng, song vẫn trì niệm không thôi nghỉ. Chẳng mấy lúc bịnh được lành, có người hỏi đến việc đó và khen ngợi, ông bảo: “Trong khi bịnh ngặt, ban sơ tôi cũng đau đớn khó nhẫn. Kế tưởng đến thân cũng là giả, thì bịnh khổ cũng không phải thật. Huống chi thân đối với tâm, sự tinh thô chia cách rõ ràng, cứ để cho thân mặc nó đau đớn, tâm ta đừng nghĩ tới và chuyên niệm Phật. Như thế thân bịnh không làm ngại đến tâm ta được. Tôi theo ý nghĩ đó mà thật hành. Trước tiên dù cố quên thân chuyên niệm Phật, song vẫn còn cảm biết đau đớn. Kế đó lần lần quên đau, nhưng lại thấy có thân cùng tâm đối lập. Sau lần chỉ biết có tâm, chẳng thấy có thân. Do đây không còn bị cơn đau đớn hành hạ chi phối, và bịnh cũng được lành!” về sau cư sĩ niệm Phật mà qua đời. Ông từng làm hơn một trăm bài thi Tịnh độ, cho khắc bản lưu hành nơi đời. Xin lược trích vài bài như sau:

I
Sớm về An Dưỡng mà ngơi nghỉ
Đừng đối Ta Bà luận có không.
Lửa nghiệp khi hừng dùng sức định
Niệm trần lúc khởi gắng ra công.
Nén hương siêng lễ ba ngàn Phật
Tràng chuỗi cần chuyên một tấc lòng.
Cám nỗi mẹ hiền trông tựa cửa
Hững hờ du tử chạy tây đông.

II
Ta Bà cõi nghiệp sự tung hoành
Nói đến liên bang mộng cũng thanh.
Hơi thở chẳng vào ngàn kiếp hận
Tấc dương dám trễ sáu thời danh.
Như gà ấp trứng liền hơi ấm
Tợ lửa nung vàng luyện mới tinh.
Một niệm gốc tình trừ sạch hết
Tánh chân lồ lộ khối viên minh.

LỜI BÌNH:

Đức Phật bảo: “Nỗi khổ không chi quá hơn có thân! Cho nên có thân là có tội nghiệp, có tội nghiệp tức có đau khổ. Nếu biết được thân là giả, khổ không thật, soi trở lại nguồn, thì tội khổ tiêu tan, vọng tâm cũng mất”. Biết hướng theo đường lối nầy, Tây Liên há chẳng phải bậc trí đó ư?


LỘ KHÔN

Cư sĩ Lộ Khôn người đời Thanh, quê ở Giang Ninh. Ông tánh từ thiện, rất tin ngôi Tam Bảo. Lộ Khôn người em làm quan, mỗi khi ông viếng thăm ở lại chơi, thấy trong nhà trù (bếp) hằng ngày đều sát sanh rất nhiều. Cư sĩ thương xót, thường đem lý nhân quả tội phước ra khuyên dụ em, song nói mãi vẫn vô hiệu. Thấy thế, ông liền phát nguyện trường trai, rồi ở ngay trong dinh thự em, chích máu nơi lưỡi tả kinh A Di Đà, cầu sanh Tịnh độ.

Sau khi đó, cư sĩ từ giã trở về nhà, mỗi ngày đọc sách dạy con, lấy đạo làm vui. Khi con đã khôn lớn, ông bảo nó dạy học để tự nó nuôi sống. Từ đó cư sĩ chẳng hỏi đến việc nhà, một lòng niệm Phật, dù tiết lạnh nóng, lúc đau bịnh cũng không thôi bỏ. Ông giao hảo với Châu Quang, thường đem sự tịnh tu để sách tấn lẫn nhau. Lộ Khôn thân thể vốn mập mạp khỏe mạnh, song do tu trì khắc khổ, nên ngày lần ốm gầy. Lúc lớn tuổi hình tướng khô khan, nhưng khóa tụng càng tăng, tất cả công đức việc lành đều hồi hướng về Tịnh độ. Ông rất thích kinh Kim Cang, mỗi ngày đều trì tụng trước bàn Phật, tuy lúc mệt mỏi khốn đốn, chưa xong quyển quyết không đứng dậy. Có một độ, cư sĩ bị bịnh nguy ngập sắp chết, người nhà đều dự bị sẵn đồ tẩn liệm. Trong cơn mê man, ông thấy tám vị Phạm tăng, thân đều cao lớn hơn một trượng, đi vào nhà lập đàn tràng vì mình làm Phật sự. Ông đang theo các vị ấy tụng kinh A Di Đà, bỗng nhiên chợt tỉnh, tiếng trì niệm còn văng vẳng nơi tai. Sau khi đó bịnh dường như mất hẳn. Không bao lâu, cư sĩ chẳng đau yếu chi, niệm Phật mà vãng sanh.


NGÔ DOÃN THĂNG

Cư sĩ Ngô Doãn Thăng, tự Thường Đạo người huyện Hấp ở Huy Châu. Lúc tuổi trẻ ông thường đi lại mua bán nơi vùng Tô, Hàng. Trong cuộc du ngoạn chùa núi Hổ Khâu, một vị Tăng tình cờ gặp mặt ông nhìn kỹ đoạn bảo: “Ngươi cũng có căn lành, song tiếc vì lúc hai mươi chín tuổi bị nạn chết đắm, biết làm sao?” Doãn Thăng nghe nói sợ hãi, cầu thỉnh phương pháp giải cứu. Vị Tăng trầm ngâm giây lát rồi dạy: “Từ nay trở đi, ngươi phải giữ giới không sát, phóng sanh. Mỗi ngày đều nên chí thành trì chú Đại Bi và niệm Phật, may ra có thể thoát khỏi!” Doãn Thăng tin nhận thật hành, lại thường đem điều nầy khuyên người.

Đến năm hai mươi chín tuổi, cư sĩ từ Hàng Châu nương thuyền trở lại quê nhà. Bạn đồng hành được tất cả mười bảy người. Khi thuyền trương buồm ra đi độ vài,mươi dặm, ngọn thủy triều chợt ầm ầm xô đến, sóng to nổi dậy thế rất nguy cấp. Doãn Thăng chợt nhớ lời vị Tăng nói khi trước, vội chắp tay niệm Phật. Giây phút thuyền lật úp, ông và tất cả hành khách đều bị cuốn lôi theo sóng nước. Trong cơn hoảng hốt mơ màng, bỗng nghe tiếng nói: “Ngô Doãn Thăng khuyên người niệm Phật có công, được thoát khỏi nạn nầy!” Cư sĩ vội mở mắt nhìn xung quanh thì thân đã nằm trên bờ, bên mình có những người chài lưới đang vực tỉnh. Kiểm điểm lại, mũ giày hành lý đều bị nước tuôn mất hết, duy có xâu chuỗi mười tám hạt bình nhật thường trì niệm hãy còn nắm chắc nơi tay. Còn mười sáu người kia đều bị trôi chìm không thấy tung tích. Từ đó ông càng tin công đức niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn! Cư sĩ không trở về quê, ở lại mở ngôi quán xem tướng, mượn nhân duyên nầy để nói lý nhân quả, khuyên người tu niệm.

Sau cơn hoạn nạn, Doãn Thăng hành trì càng tinh tấn. Ông đốt liều hương nơi cánh tay thành bốn chữ “Cầu sanh Tây phương” để nêu rõ hạnh nguyện của mình. Người ở Hàng Châu theo di phong của Tổ Liên Trì, phần nhiều đều tín hướng pháp môn Niệm Phật. Song những kẻ thật hành, lại là người già cả, không có hạng thiếu niên. Mỗi tháng họ tập họp lại chùa niệm Phật, gọi là Lão Nhi Hội. Sự tập họp cũng không dám đi đông nhiều, vì sợ bị hiềm nghi là dị giáo mưu đồ chánh trị. Doãn Thăng khăng khái tuyên bố với mọi người: “Môn Niệm Phật không phân biệt nam nữ già trẻ sang hèn. Đạo Phật là chánh giáo được triều đình mến ưa công nhận, tại sao lại phải e sợ?” Lúc ấy Diên Kiểm Điền, một quan chức quyền quý, đang chủ duyệt kiểm tra về thuế muối ở Hàng Châu, cùng cư sĩ có tình cựu hảo. Nhân cơ hội, ông mở cuộc lạc quyên, trước tiên đến Diên công được ngài góp vào hai trăm lượng vàng để làm thủ xướng. Với số tiền quyên được, cư sĩ đặt thành quỹ phương tiện thâu lợi tức nhẹ mở mang hội niệm Phật tại chùa Bảo Thành ở núi Tử Dương và làm các việc từ thiện. Mỗi khi gặp ngày hội kỳ, ông vì quần chúng giảng giải Phật pháp, nói lý nhân quà. Kẻ chưa phát tâm khuyên tinh tấn tu niệm. Cư sĩ lại mở thêm chi hội nơi chùa Tiên Lâm ở trong thành cùng các chỗ khác để khuyến hóa. Kẻ tin tưởng niệm Phật ngày càng đông có đến số ngàn. Mỗi khi tập hợp, tất cả đều nghiêm trang kính cẩn, không buông lung rộn ràng huyên náo. Tượng Tam Thánh cao một trượng sáu nơi điện Tây phương tại chùa Tiên Lâm, cũng do người trong hội kiến tạo. Một buổi sáng đang lúc tập hợp niệm Phật, đại chúng thấy từ trong mũi tượng Đại Thế Chí Bồ Tát phóng ra một đạo bạch quang bay vòng quanh nơi điện đình hơn vài khắc mới tan mất.

Từ đó ờ thành Hàng Châu phong thái niệm Phật thạnh hành. Các vùng xung quanh cũng được ảnh hưởng cảm hóa, trẻ già trai gái tay cầm tràng, miệng niệm Phật, là chuyện thông thường không còn xa lạ. Danh hiệu Doãn Thăng đàn bà con trẻ đều biết. Mỗi kỳ hội, các nơi thay phiên nhau thỉnh cư sĩ đến diễn giảng. Ở Tây Hồ có chùa Linh Phong, nguyên là di tích của Phục Hổ thiền sư, hư phế đã lâu. Trong niên hiệu Đạo Quang năm đầu, Doãn Thăng phát nguyện trùng hưng, tu tạo vài năm mới lạc thành. Cư sĩ mãn phần lúc sáu mươi sáu tuổi. Khi lâm chung ông giữ chánh niệm phân minh, tự nói: “Tôi thấy vô sô Bồ Tát đi kinh hành ở trước mặt!” Rồi ngồi ngay lặng lẽ mà hóa. Bây giờ nhằm ngày mùng một tháng năm, niên hiệu Đạo Quang thứ chín.

LỜI BÌNH:

Lộ Khôn niệm Phật vốn cầu vãng sanh, mà kiêm thoát được bịnh khổ trong hiện tại. Doãn Thăng niệm Phật chỉ mong khỏi nạn, nhưng lại cảm điềm lành tốt lúc lâm chung. Thế thì ai bảo: “Công đức niệm Phật duy có lợi ích sau khi mãn phần ư?” Xem gương trên, hai vị đều gắng sức thật tu, tin chắc không đổi. Người đời nay đem công phu chút ít, cầu lợi ích quá phần, đến khi thấy vô hiệu, trở lại cho rằng Phật pháp không linh nghiệm, rồi bỏ hết việc tu hành, há chẳng đáng ngậm ngùi thương tiếc lắm ư!


TỪ THỊ

Từ thị người ở Tòng Giang, gả về nhà chồng là Dương Phất Trai tại bản quận. Năm ba mươi hai tuổi, cô ăn chay trường niệm Phật, kiêm chí thành trì chú Đại Bi cầu sanh Cực Lạc.

Mỗi bữa khuya, cô thức dậy sớm súc miệng rửa mặt, lên hương đèn, lễ bái tụng chú Đại Bi hai mươi mốt biến, niệm Phật một ngàn câu, rồi mới lo đến việc nhà. Cô tu hành một mực không đổi thay thiếu sót như thế, trải vài mươi năm. Mùa hạ niên hiệu Càn Long thứ 35, Từ thị cảm bịnh nhẹ. Đến ngày mùng tám tháng sáu, cô theo lệ thường tụng niệm. Khi vừa trì chú được hơn một khắc, người nhà cảm nghe âm thanh lần thoát ra ngoài cửa. Tất cả chạy lại xem thì cô ta đã mỉm cười ngồi thoát hóa. Bấy giờ nhằm thời tiết nóng nực, để quàn ba ngày, nhan sắc vẫn tươi như sống. Đến khi thiêu hóa y phục, các ngọn lửa bốc lên, đều hóa thành hình hoa sen năm sắc. Mọi người trông thấy lấy làm lạ thở than khen ngợi.


TÀO THỊ

Tào thị nguyên là mẹ của Bá Thiên Hựu ở Thường Châu. Thiên Hựu bình sanh ưa làm điều lành, thờ phượng Lữ Đồng Tân chơn nhơn rất nghiêm cẩn. Ông thường phò cơ hỏi về cách thức tu tiên, khi thỉnh vấn xong lui ra lên bồ đoàn lặng lòng nhắm mắt ngồi tịnh.

Sau Thiên Hựu đến Tô Châu, có người trao cho quyển Tây Phương Xác Chỉ, trong ấy bài bác đạo Tiên, chỉ dạy Tịnh độ, ông mới hồi hướng về Phật thừa. Tuy nhiên trong lòng còn chút nghi ngờ, ông đem điều ấy thưa hỏi Lữ Tổ. Chơn nhơn đáp: “Ngươi chớ nên nghi ngờ, khi tam tai đại kiếp đến nơi, bọn thiên tiên chúng ta cũng không đường tránh khỏi. Cõi Tịnh độ là nơi vui nhàn an ổn, dễ bề tiến đạo, ngươi nên cố gắng niệm Phật cầu vãng sanh!” Nhân lại bảo nên tụng thêm kinh Kim Cang Bát Nhã. Thiên Hựu nghe nói mới tin nguyện vững chắc, dứt hết lòng nghi.

Lúc ấy Tào Thị đã sáu mươi bốn tuổi, cảm bịnh nhiệt rất nặng. Thiên Hựu nghe tin, từ Tô Châu trở về, thấy mẹ đã tắt thở, chỉ còn hơi ấm nơi ngực, người nhà lo sẵn quan tài và đồ tẩn liệm. Ông cảm xúc khóc rống, tụng Bạch Y Thần Chú một muôn hai ngàn biến cầu với Quán Âm Đại sĩ, xin giảm thọ số của mình một kỷ để cho mẹ được sống thêm. Hôm sau Tào thị bỗng tỉnh lại đòi uống nước, trải vài gày mới hồi phục. Bà cho biết khi mình mới vừa chết, liền bị hai sứ giả dẫn đi, trải qua các ty Thổ địa, Thành hoàng, kế đến phủ Đông Nhạc. Phủ quan bảo: “Con của ngươi đã ’ vì mẹ chí thành cầu đạo, nguyện nương nơi sức Bạch Y Đại sĩ xin giảm kỷ để tăng thọ cho mẫu thân. Bởi nguyên do ấy, nên ta cho ngươi được hoàn sanh”. Rồi dạy minh quan đưa trở về. Thiên Hựu liền mượn nhân duyên đó khuyên mẹ tu tịnh nghiệp. Tào Thị bèn trường trai, mỗi ngày đêm chia ra ba thời, lần chuỗi niệm Phật hồi hướng về Tịnh độ. Mười hai năm sau, khi đến bảy mươi sáu tuổi, vào ngày rằm tháng chín, bà thức dậy sớm bảo Thiên Hựu rằng: “Mẹ sắp đi, con hãy mời hàng thân thuộc đến để giã biệt”. Ba hôm sau Tào thị tắm gội thay y phục, rồi nằm nghiêng bên hữu mà qua đời.

Thiên Hựu có người cô là Hứa thị cũng trường trai niệm Phật mà chưa thể chuyên nhứt. Ông rước về nhà, khuyên cô buông bỏ muôn duyên, một lòng niệm Phật. Hứa thị y theo lời. Bấy giờ bà đã sáu mươi lăm tuổi, từ tháng ba đến tháng sáu niệm Phật không xen hở. Một hôm bà đến trước Thiên Hựu cúi xuống lạy. Ông kinh hãi hỏi lý do, bà nói: “Cô hơn sáu mươi năm điên đảo trong vòng mộng tưởng, chưa từng được một ngày an vui. Từ khi được cháu dạy cho niệm Phật đến giờ, sáng niệm thoáng chốc đã đến tối, tối niệm giây phút đã thấy sáng, sự an vui trong đời còn chi hơn đây? Nếu chẳng nhờ cháu hướng dẫn thì đâu được như thế, cho nên cô mới đảnh lễ tạ ơn!” Thiên Hựu nhân đó khen ngợi cõi Cực Lạc trang nghiêm và bảo: “Chỉ được nhứt tâm, cảnh Phật tự hiện. Khi thánh cảnh hiện ra, cũng chớ sanh tham trước!” Lại trải qua ba tháng, một đêm Hứa thị đang ngồi niệm Phật, bỗng thấy kim liên hiện ra trước mặt, giây phút hóa thành trăm ngàn muôn ức hoa sen, ánh sáng chiếu rực rỡ không cùng tận. Sáng ra bà cũng lạy Thiên Hựu mà thuật rõ việc ấy. Từ đó dung sắc bà sáng nhuận, tươi trẻ lại như người ba mươi tuổi. Trọn ngày Hứa thị không nói chi, ban đêm nằm nghỉ chừng một canh rồi thức dậy ngồi niệm Phật đến sáng. Chưa biết được ngày lâm chung của bà về sau như thế nào?

LỜI BÌNH:

Xem lời nói của Lữ Đồng Tân chơn nhơn, thì biết tu Tịnh độ là việc cấp thiết. Trong đời có kẻ chuộng Tiên thuật mà chê Phật pháp, kết cuộc chỉ tự khi dối mình mà thôi.


ĐÀO QUỲNH LÂU

Đào Quỳnh Lâu tự Khánh Dư, người đời Thanh, quê ờ Tô Châu, xứ Trường Châu. Cô là vợ của Bành Hy Lạc, người anh em của Bành Hy Tốc, cả hai đều là cháu của cư sĩ Bành Nhị Lâm.

Quỳnh Lâu từ bé đã thông minh, am tường thi vận, thường cùng em gái là Đào Nhân sớm hôm hòa xướng. Tánh ưa thanh vắng, gặp cảnh non sông u nhã, liền có ý thoát tục quên đời, tâm niệm hằng lộ ra lời thi văn. Không bao lâu, Đào Nhân bị bạo bịnh rồi từ trần. Quỳnh Lâu mang đậm mối suy tư, từ đó thôi làm thi văn, chuyển sang nghiên cứu kinh Phật, mong tìm phương giải thoát. Xem đến kinh Đại Báo Ân, cảm nhân duyên khổ hạnh nhiều kiếp của Như Lai, cô liền phát đại nguyện cầu chứng Vô sanh pháp nhẫn. Quỳnh Lâu tự tay thơ tả kinh nầy, cùng các kinh Kim Cang, Di Đà, bút pháp rất đoan chánh tươi đẹp. Cô tu Tịnh độ, mỗi ngày đều niệm Phật, có làm vài mươi bài Tàm úy ngâm, ý tứ gần với đạo.

Đến khi xuất gia, Quỳnh Lâu thường nói pháp Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã cho gia nhơn nghe. Mỗi buổi sáng là thời khóa tịnh nghiệp, rảnh rỗi lại duyệt các kinh đại thừa như Lăng Nghiêm, Viên Giác, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm. Sự tìm hiểu về đạo lý của cô rất thâm thúy. Để đáp mười bài thi bế quan của cư sĩ Bành Nhị Lâm, Quỳnh Lâu có sáng tác mười bài như sau:

I
Vô tướng ánh mầu lộ thể chân
Gió từ phơ phất bốn mùa xuân.
Một niềm vẳng lặng thông tin tức
Lòng hướng Lỉên bang lễ niệm cần.

II
Xưa nay chẳng thật có đâu hư?
Luận đạo bàn thiền chuyện cũng dư!
Sáu chữ Di Đà không tự tánh
Ấy ai ta, Phật đẩy bây chừ?

III
Đầm trong ngấn nước lặng hư huyền
In bóng trời mây ánh huệ viên.
Hạnh đủ công thành rồi sẽ rõ
Hoa thơm chim hót cũng màu thiền.

IV
Đình dựa thanh tuyền, thất dựa non
Trong vùng tươi biếc, cửa tùng im.
Về nhà sớm nhận ngay đường lối
Chớ để lâm chung trễ khó tìm.

V
Thần chơi cõi tịnh tuyệt mù mây
Nào đợi gậy tê ánh sáng bày 5
Khéo luận đường xa mười vạn tám 6
Hư không lầu các giữa trời Tây!

VI
Một dãy cây dường thất bảo lâm
Đầu cành nghe thoáng tiếng linh cầm?
Gió đông thổi lọt màn hoa lá
Diễn nói trăm ngàn diệu pháp âm!

VII
Niệm Phật ngày đêm tự phản quang
Mấy hồi sanh diệt thấy vô đoan.
Trước làng, sau tuyết hoa mai nở
Lộ vẻ xuân tưởi sáng vũ hoàn!

VIII
Chín chục xuân quang khó mãi gìn
Dĩa đèn đêm vắng đối riêng mình.
Pha trà đâu phải vì hương vị
Khi hứng nào can uống một bình.

IX
Cõi trần gieo được giống hoa sen
Nước ngọc liên trì nhụy nẩy sanh.
Một niệm tinh thần siêu phẩm tục
Nhẹ nhàng cõi tịnh bước thanh thanh.

X
Phá được trùng quan thấy cảnh quê 7
Từ nay chẳng lạc bước đường mê.
Xoay vần sáu chữ không sau trước
Nước chảy mây trôi tỏ lối về!

Qua mùa đông, Quỳnh Lâu cảm bịnh, tự biết khó lành, thường chuyên niệm danh hiệu Phật. Trước khi mãn phần, cô thỉnh mẹ đến từ biệt và nói: “Đại Hòa thượng đã đến rước, con đi đây!” Đứa thị tỳ thưa: “Còn lão thân thì sao?” Đáp: “Cảnh Tây phương đẹp, ngày kia cô sẽ về rước bà đi!” Nói xong liền mất. Bấy giờ nhằm ngày 23 tháng giêng, niên hiệu Càn Long thứ 45, cô mới vừa được hai mươi lăm tuổi.

Đến mùa xuân năm Càn Long thứ 49, có Tây Phương Đại sĩ dùng phương tiện giáng cơ nơi Ngọc đàn, vì hàng thiện tín tuyên dương pháp môn Tịnh độ. Một hôm, Bành Nhị Lâm cư sĩ đến đàn, thưa hỏi chỗ sanh của các vị sư hữu đã từ trần. Đại sĩ mỗi mỗi đều phúc đáp rành rẽ. Trong ấy, một vị sanh về cung trời Đâu Suất, một vị hưởng phước báu cõi người, có bốn vị được sanh Tịnh độ. Đó là Hương Sơn lão nhơn hiệu Thật Định, Lữ Đình đại sư hiệu Tế Hội, Thệ Nguyện Tỳ kheo pháp danh Phật Ân và một vị cư sĩ là Trầm Bính hiệu Kính Phù. Sau rốt Bành cư sĩ hỏi đến Đào Quỳnh Lâu. Đại sĩ đáp: “Đào thị đã sanh về miền biên cảnh ở Tây phương”. Giây lát Quỳnh Lâu giáng đàn đề thi rằng:

Vũ yết nhàn giai phương thảo đa
Ngũ niên tiêu tức đẳng phao thoa!
Động trung thâm bế yên hà tích
Nhứt niệm huân phong tống khách qua!

Tạm dịch:

Mưa tạnh, thềm nhàn rợp cỏ thơm
Năm thiên thấp thoáng tợ thoi dồn!
Ráng mây khóa kín người tiên động
Để gió nam đưa khách lạc hồn!

Nhân đàn cơ cô hiểu thị cùng đại chúng rằng: “Muốn sanh về Cực Lạc, các vị cần phải có tâm trường sắt đá, niệm Phật thành một khối, ngoài không bị sáu trần nhiễm vào, trong không bị bảy tình khuấy động, thì nơi chốn bùn nhơ sẽ có hoa sen mọc lên. Khi ấy, niệm một câu Phật hiệu, liền có một đạo hào quang phóng ra: Niệm ngàn muôn câu Phật hiệu thì có ngàn muôn đạo quang minh. Quang minh đó vẫn vô tướng, từ trong phát sanh, chớ chẳng phải từ bên ngoài mà được. Đức Phật A Di Đà luôn luôn ở trước mặt các vị, tùy chỗ xuất hiện. Nếu vừa có một mảy may vọng niệm, thì ánh sáng Phật ẩn mất không lộ bày. Khi niệm Phật, cần yếu phải thường thường soi vào trong, mới phát minh được lý: “Một niệm bất thối”. Tiếng niệm Phật lại cần phải theo tâm mà khẩn thiết, mới phát sanh được nguyện lực và sức niệm mạnh mẽ vô thượng. Tâm và tiếng nên dung hòa nhau, thì ánh sáng tự tâm sẽ chói suốt bốn bề, không chỗ nào chẳng phải Phật, và không lúc nào chẳng niệm Phật, mới là đắc thủ! A Di Đà gọi là Vô Lượng, nên biết đó là trí huệ vô lượng, thần thông vô lượng, từ bi vô lượng, nhiếp thọ vô lượng. Nếu không phát thâm tâm vô lượng, đâu có thể thấy được tướng Vô kiến đảnh của đức Cực Lạc Bổn sư? Thương thay cho chúng sanh! Dục niệm chưa trừ, đạo căn lần mất, Phật tuy thương xót, nhưng biết làm sao? Vậy hãy nghe lời tôi khuyên, mau cố gắng niệm Phật!”

Cách hơn tháng sau, Nhị Lâm cư sĩ lại đến Ngọc đàn, hỏi Quỳnh Lâu về các tình tiết lúc lâm chung, gồm mấy điểm như sau:

“Được biết cô đã vãng sanh, rất mừng rất tốt!

– Nhưng các ông La Đài Sơn, Châu Trọng Quân, trai giới tinh nghiêm, hoằng thệ rộng lớn, mà còn bị lạc vào vòng báo cõi nhơn thiên. Phần cô, công phu chưa thuần, giới phẩm chưa vẹn, mà lại được vãng sanh là thế nào?

– Vậy quang cảnh lúc cô vãng sanh ra sao?

– Và sau khi vãng sanh sự hưởng thọ như thế nào?

– Đã được thấy Phật chưa?

– Chừng nào lên bậc Bất thối?

– Xin cô giãi bày rành rẽ, để mọi người nghe biết phát tâm tin mến tu hành. Đây tưởng cũng là một việc họp với bản nguyện độ sanh của cô vậy!”

Ngày ấy, Tịch Căn Bồ Tát giáng đàn thay thế dạy rằng: “Tháng trước ta ở biên cảnh cõi Cực Lạc thuyết pháp rồi mới đến đây, nên Đào thị nương thần lực của ta mà cùng đến. Nay ta không ghé miền ấy, nên Đào thị không đến được.

– Bình nhựt tuy công phu của Đào Quỳnh Lâu không sánh kịp bọn ông La Đài Sơn, nhưng lúc lâm chung chánh niệm của cô hơn các vị đó rất xa, nên cảm được đức Quán Thế Âm thân lâm tiếp dẫn.

– Khi lâm chung Đào thị thấy kim liên hoa hiện tiền mà vãng sanh.

– Nay cô đang ở miền biên địa thế giới thất bảo, sự ăn mặc đều tự nhiên hóa hiện.

– Dù cô chưa được thấy Phật, song mỗi ngày chư Đại Bồ Tát ở Cực Lạc sang biên địa thuyết pháp hai thời. Người tinh tấn sẽ lần lần sanh lên chín phẩm, kẻ giải đãi cũng hưởng thọ được năm trăm năm. Một ngày ở biên cảnh Tây phương bằng một trăm năm tại miền Diêm Phù Đề nầy. Từ khi vãng sanh đến nay, Quỳnh Lâu tinh tấn lắm, tương lai có thể ở vào bậc Thượng phẩm hạ sanh, lên hẳn ngôi bất thối chuyển. Thời gian ấy nơi đây là hai ngàn năm nữa”.

Cứ theo giáo điển, Tịch Căn Bồ Tát là vị Đại sĩ từng dự pháp hội Duy Ma và Vô Lượng Thọ, lúc đức Thích Ca Thế Tôn ứng thế thuyết pháp.


BÁ BẤT QUẢN

Bá Bất Quàn người ở Hàng Châu, chưa được rõ danh tánh. Bà từng đến am Hiếu Từ hỏi Đạo Nguyên hòa thượng rằng:

“Bạch Ngài! Tu theo pháp môn nào, một đời có thể thoát ly biển khổ?”

Hòa thượng đáp: “Muốn được như thế, không chi hơn môn Niệm Phật. Nhưng niệm Phật chẳng khó, mà khó ở nhứt tâm. Nếu ngươi có thể buông tất cả không quản đến, chuyên lòng trì danh, thì quyết định khi lâm chung Phật sẽ đến tiếp dẫn, liền được xa lìa biển khổ!” Bà nghe nói vui vẻ lễ tạ, trở về đem việc nhà giao cho con và dâu, rồi mở một gian tịnh thất thờ Phật, trọn ngày tu niệm ở trong đó.

Hơn một năm, bà lại đến hỏi Hòa thượng rằng: “Đệ tử từ khi được nhờ ơn chỉ dạy, đã bỏ việc nhà chuyên lo niệm Phật. Tự xét lại sự tu trì bấy lâu chưa từng thiếu sót biếng trễ, nhưng chỉ khổ vì khó được nhứt tâm. Xin nhờ Ngài xót thương khai thị thêm, cho được như ý nguyện!”

Hòa thượng bảo: “Đó là bởi ngươi tuy gác bỏ việc nhà, song còn nhớ nghĩ đến cháu con quyến thuộc. Niệm ái kia chưa dứt, thì làm sao được nhứt tâm? Nay ngươi nên cố gắng gia công, trước tiên nhổ trừ gốc ái buông cả muôn duyên, tất ý nguyện sẽ đạt thành!”

Bà nghe nói than rằng: “Lời Ngài dạy quả rất đúng. Đệ tử tuy không quản đến thân, nhưng chẳng thể không quản đến tâm. Từ đây nguyện xin trăm đều không quản đến!” Rồi bà trở về niệm Phật thêm chuyên cần. Khi tâm ái thoạt khởi động, liền đem mấy chữ “Trăm việc không quản” để dẹp trừ. Lúc có ai hỏi đến việc nhà, cũng dùng mấy chữ đó đối đáp. Bởi thế tên Bá Bất Quản (trăm việc không quản) của bà được thành danh và truyền khắp hương thôn.

Tu hành như thế lại hơn một năm, ngày nọ bà đến am Hiếu Từ lễ tạ Hòa thượng, thưa rằng:

“Lời của Ngài dạy quả xác thật không hư dối. Đệ tử sắp về Tây phương, nên đến đây lễ tạ ơn và xin giã biệt!” Vài hôm sau bà không bịnh mà qua đời. Lúc ấy nhằm niên hiệu Gia Khánh năm đầu.

LỜI BÌNH:

Bá Bất Quản chỉ là danh từ ước lược. Suy ra rộng, thì từ trăm đến ngàn, từ ngàn cho đến muôn, thảy đều không quản. Nói gọn lại, tức một việc hãy còn không quản, huống chi trăm ngàn muôn? Được như thế, duyên trần mới có thể dứt. Làm theo đây, tịnh nghiệp mới có thể thành. Hỡi ôi! Ước chi kẻ tu hành trong đời đều được như bà Bá Bất Quản nầy ư!


UÔNG THỊ

Uông thị người đời Thanh, quê ở Hoa Đình. Cô được cha mẹ gả cho Châu Văn Vinh năm mười sáu tuổi. Bên chồng nghèo thiếu, Văn Vinh đi dạy học phương xa, Uông thị ở nhà làm nghề may thuê để sanh sống. Cô rất kính tin ngôi Tam Bảo, ăn chay trường, mỗi ngày đều có tụng kinh niệm Phật.

Sau Văn Vinh đến Hồ Bắc rồi chết nơi miền đất khách. Uông thị ở nhà lâu ngày vắng bặt tin tức, gắng nuôi con trai là Phương Dung cho đến khi thành lập, mới sai tìm cha. Phương Dung vượt ngàn dặm, trải nhiều gian khổ, kết cuộc vác được hài cốt phụ thân đem về. Quan Học Sử nghe tiếng đồn mẹ tiết hạnh, con hiếu thảo, đem việc ấy trình thưa thượng cấp, nên tại nhà được treo bày biển khen tặng. Phương Dung viết và vẽ đều khéo, thêm được gần xa mến trọng nết hiếu hạnh, nên nhiều người tranh nhau đặt làm những bức tự họa. Nhờ đó sự sanh sống trong nhà cũng tạm rộng rãi yên lành. Lúc lớn tuổi Uông thị niệm Phật càng siêng năng chí thành, nguyện cho cha mẹ mình, cha mẹ chồng và chồng đều sanh về Cực Lạc.

Trong niên hiệu Gia Khánh, bà hay đau yếu, nên thường đóng cửa niệm Phật, không hỏi đến việc nhà. Lúc sắp mãn phần bà gọi Phương Dung đến bảo: “Đêm rồi mẹ mơ thấy ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại và cha con đều ở cảnh Liên Hoa thế giới. Hiện thời có mây lành năm sắc nâng đỡ một cánh sen to như chiếc thuyền. Có lẽ mẹ sẽ nương theo đó mà sanh về cõi Phật chăng?” Nói xong vui vẻ niệm Phật rồi thoát hóa. Lúc ấy trong nhà có mùi thơm như hoa lan, đến khi tẩn liệm còn thanh thoảng chưa tan.

LỜI BÌNH:

Điềm mộng của Uông thị, kết cuộc phù hợp với lời phát nguyện khi trước. Thế thì công đức niệm Phật có thể siêu độ cho người quá cố, nơi đây đã thấy bằng chứng rõ ràng. Hàng tiết phụ trong đời chưa hiểu lẽ ấy, nên nhỏ thì bi thương thành bịnh, lớn đến quyên sinh theo chồng. Họ đâu biết rằng khi mãn báo thân, mỗi người trong quyến thuộc đều theo nghiệp lành dữ của mình mà tản đi các nẻo. Dù cho có gặp nhau nơi chốn huỳnh tuyền, cũng chỉ nhìn tạm đồng như khách qua đường. Duy cõi Tịnh độ ở phương Tây, các bậc thượng hiện đều hội về một chỗ, vĩnh viễn làm quyến thuộc liên hoa. Sự hơn kém cách nhau vực trời ấy, mong người trí nên suy nghĩ mà chọn lối đi về.


VƯƠNG, TRƯƠNG, TRẦN

Vương thị người ở Thọ Kiều, thôn Đông, huyện Cần. Khi mới sanh ra, cô đã không chịu ăn thịt cá. Quy y Tam Bảo từ thuở bé, cô được thầy cho pháp danh là Tịnh Long. Lúc về nhà chồng, Vương thị mới bắt đầu tín hướng pháp môn Tịnh độ, chuyên cần niệm Phật. Người chồng tánh thô bạo thường mạ nhục, cô chỉ biết làm thinh nhẫn chịu mà thôi.

Hơn sáu mươi tuổi, Vương thị tu hành càng thêm tinh tấn. Một đêm bị người hàng xóm lén đốt nhà, bà hay được dập tắt kịp. Sau nhân đến dự Phật hội chùa Bảo Lâm, một vị Tăng hỏi: “Nếu lúc ấy nhà bị cháy, bà sẽ làm sao?”

Vương thị đáp: “Thân nầy đáng nhàm chán, giả sử lâm hoàn cảnh như thế, tôi sẽ nương theo nhân duyên đó mà vãng sanh!” Hơn một năm sau, người hàng xóm lại lén phóng hỏa, lần nầy nhà bốc cháy lửa dữ dội. Vương thị không trốn tránh, chỉ điềm nhiên gõ mõ niệm Phật, tiếng nghe rành rẽ rõ ràng. Những người ở cách sông, ban sơ thấy khói lửa bao phủ nhà bà. Bỗng đâu giữa ánh lửa hồng, một đạo kim quang tỏa rộng bay lên xông thẳng đến mây xanh. Trong đó phưởng phất có hình bóng Vương thị đang ngồi kiết già. Khi lửa tắt cho nguội, người nhà tìm thấy di cốt của bà còn ngồi ngay thẳng trên mặt đất.

* Lại ở ấp Hạ của huyện Cần có Trương thị, cùng với Vương thị đồng sư, pháp danh là Tịnh Âm. Lòng tín. hướng niệm Phật và cảnh ngộ bất đắc ý với chồng của bà cũng tương tợ như Vương thị. Tuy bị trăm điều mài bẻ, bà vẫn không lui sụt đạo tâm. Sau Trương thị bị chứng phong co rút, nằm trên giường bịnh vài năm, song niệm Phật không xen hở. Khi lâm chung bà chắp tay chánh niệm mà vãng sanh, mùi hương lạ bay đầy nhà.

* Và ở Định Kiều thuộc huyện Cần có Trần thi cũng đồng sư với Vương thị, pháp danh là Tịnh Thoại. Bà là người chơn chất thật thà, đối với sự niệm Phật cầu sanh không còn chút nghi ngờ. Bà thường bảo: “Tôi quyết định được sanh về Cực Lạc!” Lúc lâm chung bà ngồi ngay thẳng, mỉm cười niệm Phật mà vãng sanh.

LỜI BÌNH:

Vương thị và Trương thị túc nghiệp rất nặng, nên từ khi sống đến lúc chết, trải qua nhiều nỗi tủi đau gian khổ. Tuy nhiên, nhờ lòng tín nguyện bền chắc, nên kết cuộc đều được thoại tướng lúc lâm chung. Thế nên biết nghiệp nhân kiếp trước, không làm lụy được thắng quả trong đời nầy. Đến như Trần thị, túc chướng nhẹ nhàng, dễ thành đạo nghiệp, sức nhẫn so lại không bền chắc bằng hai bạn kia. Song ý chí quyết cầu sanh như kẻ một đi không quay trở lại, cũng chẳng vì nhiều lối rẽ mà lạc mê đường khiến cho người nhìn trông gương mà tinh thần sanh phấn chấn. Đây có thể gọi là “một nhà ba kiệt khách” vậy.

CHÚ THÍCH

  1. Hàn Tương Tử khi xưa, nguyên là cháu của vua Hàn Xương Lề tức là Hàn Dũ, tu tiên đắc đạo. Tương Tử thử mười hai, nên cũng gọi là Hàn thập nhị lang. Biết chú mình sẽ mắc nạn, muốn cảnh giác trước để khuyên Hàn Dũ tu hành. Tương Tử đến nhà chơi, múc một chậu nước và làm phép. Giây phút nơi chậu mọc lên mười bốn cánh hoa, mỗi đóa đều có chữ, góp lợi thành hai câu thi: “Văn hoanh Tần lánh gia hà tại? Tuyết úng lam quan mã bất tiềnl” Sau Hàn Dũ bị đày xa đến vùng đất Thục, ngoảnh lại thấy mây giăng ngang đỉnh núi Tần, không nhìn biết quê nhà ở đâu. Trông tới trước thì tuyết phủ mờ biên ải, ngựa bị lạnh cóng chân không tiến bước được. Nhớ lợi hai câu thi trước, nghiễm nhiên đúng với hoàn cảnh hiện thời, ông bỗng bàng hoàng hối hận!
  2. Ni Sơn, tức Ni Khâu Sơn, nơi sanh quán của đức Khổng Tử. Cựu manh là lời ước hẹn cũ, có ý thầm trỏ cho tông chí đạo Nho. Một hôm môn đệ của đức Khổng Tử đánh đàn, đến đoạn cuối khảy lên vài tiếng rền rang rồi chấm dứt. Ngài gọi thầy Tăng Tử bảo: “Nầy Tăng Sám Đạo ta một mà suốt tất cả!” (Sám hồ! Ngô đạo nhất dĩ quán chi!) Câu nầy tư nhiên thầm hợp với ý “Một tâm ham muốn pháp” của đạo Phật, nên cư sĩ gọi là cựu manh. Qua câu ấy, cung đàn kia chính là khúc điệu vô sanh vậy.
  3. Tuyết Sơn hay Hương Sơn lão tử đều chỉ cho đức Thích Ca vì cảnh Tuyết Sơn ở Ấn Độ có một vùng xanh tươi gọi là Hương Thủy. Hai câu trên ý nói đường tu nhiều lối rẽ, phải học hỏi Phật pháp mới đi đúng nẻo chánh.
  4. Nguồn hoa, tức là sự tích Đào Nguyên đã nói ở tập trước. Đây ý bảo: Ngư lang chớ buồn xót vì lợc lối nguồn đào dẫn đến động Tiên, vì các pháp đều là Niết Bàn chân cảnh, nếu tâm thanh tịnh tất sẽ thấy nơi đâu cũng đầy vẻ xuân tươi đẹp cả.

  5. Một vị tìm đợo lên núi gộp lão nhơn mặc áo bát quái, chống cây gậy lê dẫn vào động tiên. Khi ấy trời đã hoàng hôn, đường vô hang đá lợi càng tối mịt. Hốt nhiên từ đầu gậy lê phóng ra ánh sáng rực rỡ soi tỏ lối đi. Đây ý nói cõi Cực Lạc có ánh sáng thất bảo tự nhiên, không cần phải dùng gậy lê phóng quang như cảnh Tiên.
  6. Kinh Pháp Bảo Đàn bản cũ có câu: “Cõi Tây phương cách đây mười muôn tám ngàn dặm”. Câu nầy ám chỉ: Nếu diệt mười tám giới là sáu căn, sáu trần, sáu thức, tức sẽ đi đến cảnh Tây phương của tự tâm. Nhưng về sau chư tôn đức Phật giáo cho câu nầy là lời hậu nhơn thêm vào, chớ không phải của Lục Tổ nói, nên gạt bỏ. Bởi trong kinh A Di Đà, đức Thích Tôn bảo: Thế giới Cực Lạc ở về phương Tây cách đây mười muôn ức cõi Phật chớ không nói mười muôn tám ngàn dặm.
  7. Người tu thiền từ nơi không mà vào, để tâm rỗng không, nên lần lần vọng niệm chẳng khởi, chỉ thấy một màu vắng lặng. Kế đó không cảnh hiện ra, tường vách non sông đều mất hết. Nhưng đó là cảnh tạm chớ chẳng phải là chơn cảnh của tự tâm, nếu nhận chơn tức bị lầm lạc. Khi chơn cảnh hiện ra, sẽ tỏ ngộ nước chảy mây trôi, hoa vàng trúc biếc, đều là quê hương xưa của tự tánh.

    Cổ đức bảo: “Chớ nhận vô tâm là thật đạo. Vô tâm còn cách một trùng quan!” Phá trùng quan là vượt phá hiện tượng thiên không nói trên.