Phật Thuyết
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM
THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH GIẢI DIỄN NGHĨA
Hòa thượng Tịnh Không chủ giảng
Ngài Hạ Liên Cư hội tập
Cụ Hoàng Niệm Tổ chú giải
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa chuyển ngữ
Diệu Âm Phổ Hạnh kính ghi và đúc kết
Phật lịch 2563 -2019

 

VI. ĐỨC TUÂN PHỔ HIỀN ĐỆ NHỊ
(TT)

“Ư nhất thiết vạn vật tùy ý tự tại(Với hết thảy vạn vật tùy ý tự tại). Đây là niềm kỳ vọng mơ ước của tất cả nhà khoa học, nhà triết học, nhà thần học mong đạt đến cảnh giới này nhưng chưa thể đạt được. Riêng trong Phật pháp Đại Thừa, thật sự là có thể đạt đến “tự tại tùy ý”. Chữ “vạn vật” chỉ cho vạn pháp; “tự tại” là thông đạt vô ngại. Phẩm Tự, Kinh Pháp Hoa có câu: “Tận chư hữu kết, tâm đắc tự tại” (Tận các hữu kết, tâm được tự tại): Chữ “hữu” ở đây là “Tam Hữu” tức Dục giới Hữu, Sắc giới Hữu và Vô Sắc giới Hữu.

“Hữu Kết” là chấp trước, vướng mắc vào “Tam Hữu” (ba cõi). Do ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới còn phiền não, ngu si, vô minh nên gọi là “Hữu”. Hễ tâm vướng mắc liền bị vật chuyển nên bị phiền não trói buộc. Phàm phu chấp “Có”, Nhị Thừa trệ (vướng mắc) nơi “Không”, đều là đọa trong tình chấp, tâm bị vật chuyển nên đối với vạn vật không được tự tại.

“Tận chư hữu kết” là buông hết những phiền não như: Vô Minh phiền não, Trần Sa phiền não, Kiến Tư phiền não thì tâm được tự tại. Đại Sĩ thấu hiểu sâu xa Pháp Tánh nên “đương tướng ly tướng, bất tùy vật chuyển”, từ ngay nơi tướng mà lìa được tướng, không bị vật chuyển nên không bị trói buộc. Các ngài ở trong lục đạo mà chẳng tạo nhân lục đạo, cũng không thọ báo lục đạo. Tâm các ngài thường trụ trong đạo độ thế, trong đại trí tuệ, trong đại từ bi. Nhà Thiền nói: “Chỉ cần vô tâm với vạn vật, nào ngại vạn vật thường vây quanh.” Cái “tâm” này là tâm chấp trước, chỉ cần buông bỏ chấp trước tức là “vô tâm”, thì đối với vạn sự, vạn vật đều không có ngăn ngại, tức là vật đã bị tâm chuyển, vấn đề liền được giải quyết nên “tùy ý tự tại”. Đây mới thật là hạnh phúc viên mãn, mới thật là lìa khổ được vui.

Phàm phu chúng ta thì sao? – Tâm hữu câu lụy! Trong tâm luôn có những câu thúc ràng buộc, vướng bận do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển, khổ không kể xiết! Thật rất oan uổng! – Vì sao? – Căn bản những nỗi khổ đó không tồn tại! Giống như nằm mộng vậy thôi. Nếu bạn có chấp trước, chuyện ấy bèn trở thành có thật. Ngày nào bạn giác ngộ mới thấy những sự việc ấy giống như kinh Phật đã nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”; “nhất thiết hữu vi pháp như mộng, huyễn, bào ảnh, như lộ diệc như điện”.

Theo Tịnh Ảnh Sớ: “Do thành tựu thần thông thù thắng, với hết thảy vật có thể biến hóa tùy ý, nên có thể lợi vật (lợi vật là làm lợi lạc, tạo lợi ích cho chúng sinh), ấy là tự tại”. Theo cụ Hoàng Niệm Tổ: Đại Sĩ thần thông tự tại, với hết thảy vạn vật tâm chẳng bị câu thúc, tùy duyên biến hóa nhiêu ích chúng sinh: Bỏ núi Tu Di vào trong hạt cải, chuyển bốn biển vào trong một đầu lông, tùy ý lợi người nên bảo là “tự tại”.

Theo Hòa Thượng Tịnh Không: Chữ “tùy ý” chính là “tùy duyên”. “Tùy ý tự tại” là “tùy duyên tự tại”. Đó là nói thái độ, đời sống của chúng ta phải “tùy duyên tự tại”.

“Tùy duyên” là đối với “phan duyên” mà nói.

– Cái gì là phan duyên?

– Trong tâm bạn có mong cầu chính là “phan duyên”. “Phan duyên” thì không tự tại. Vì sao? Vì phan duyên là tâm được mất, tâm được mất liền sinh phiền não. Vô lượng vô biên phiền não đều từ tâm được mất mà sinh khởi. Nếu loại bỏ được tâm này, bạn liền rất tự tại, liền trải qua ngày tháng chân thật hạnh phúc mỹ mãn. Một bữa ăn, một ngụm nước đều do tiền định. Đó là thật không phải giả!

– Ai định vậy?

– Chính mình định ra! Do nhân đời trước nên đời này nhận quả báo. Đời trước không gieo nhân, đời này sao có quả?! Nhân duyên quả báo không lọt mãy trần! Cho nên, thông đạt đạo lý, rõ biết chân tướng sự thật, đời sống bạn sẽ có tự tại, không cần phải mong cầu vì trong mạng đã có, đến lúc sẽ tự nhiên liền đến, đến rồi cũng không thấy lạ, không hề có ý niệm được mất. Đời sống phải hiểu được tùy duyên; tùy duyên tức tùy thuận pháp tắc nhân quả, tùy thuận sự thật của nhân quả.

Vị chư thứ loại, tác bất thỉnh chi hữu(Vì các thứ loại làm bạn chẳng thỉnh): “Thứ loại” chỉ cho chúng sinh.

Hội Sớ giảng “bất thỉnh chi hữu” (bạn chẳng thỉnh) như sau:

Chúng sinh quay lưng với giác ngộ, chìm đắm, mê muội, trôi nổi, sanh manh (mù từ lúc mới lọt lòng) không có mắt, không có lòng mong được thoát. Bồ Tát thương xót họ, không có ý nghĩ mỏi nhàm, thường làm bạn chẳng thỉnh, tùy duyên yêu thương, che chở. Vì vậy, Kinh Niết Bàn có bài kệ rằng: “Thế cứu yếu cầu nhân hậu đắc, Như Lai bất thỉnh nhi vi qui” (Thế gian muốn được cứu thì phải cầu xin rồi sau mới được cứu. Như Lai chẳng được thỉnh mà thường làm chỗ về nương).

Ngài Tăng Triệu nói: “Bạn thật sự thì chẳng đợi thỉnh mà giống như từ mẫu luôn hướng đến con trẻ”. Ví dụ này rất hay: Bạn chân thật là Phật, Bồ Tát giống như mẹ hiền đối với con thơ, thời thời khắc khắc canh cánh bên lòng. Lòng từ bi của các ngài là “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”, “vô duyên” là chẳng có điều kiện như cha mẹ đối với con cái yêu thương vô điều kiện. Phật, Bồ Tát đối với chúng sinh cũng như vậy nên gọi là “đồng thể đại bi”. Kinh Duy Ma nói: “Bất thỉnh chi hữu” là: “Mọi người chẳng thỉnh mà vẫn làm bạn để giúp cho an ổn.” Thế gian này bạn bè chân thật như thế thì rất ít! Người Hoa nói “bằng hữu”, chữ “bằng” là bạn học, chữ “hữu” là đồng chí. Bạn học thì chưa chắc có cùng một chí hướng. Cho nên, “đồng chí” thân thiết hơn bạn học.

Tác bất thỉnh chi hữu”: Câu kinh văn này chúng ta chính mình phải tỉ mỉ tư duy. Làm thế nào áp dụng trong cuộc sống thường ngày “làm bạn không mời của chúng sinh”, đó là chân thật hành Bồ Tát đạo, chân thật thực hiện hoằng nguyện “chúng sinh vô biên thệ nguyện độ”. Nhất định phải thường giữ cái tâm này.

– Làm thế nào “tác bất thỉnh chi hữu” trong cuộc sống thường ngày?

– Phương tiện khéo léo thì vô lượng vô biên, nhất định phải hiểu được quán cơ: Vào lúc nào? Ở nơi đâu? Đối với chúng sinh nào? Trong hoàn cảnh nào? Dùng phương thức nào để giúp họ? v…; khế cơ, khế lý rất linh hoạt không phải khô cứng. Kinh Hoa Nghiêm  từ đầu đến cuối, loại linh hoạt này có quá nhiều, đó là một quyển sách hay. Bổn kinh chính là nguyên tắc cương yếu mà Kinh Hoa Nghiêm gọi là tế hạnh, tế tiết, nó có một nguyên tắc thật quan trọng là: Bạn phải thật lòng, thật chịu làm mới được. Câu nói này trùng lặp lại rất nhiều lần, vì nó quá quan trọng.

Ngày nay, chúng ta học Phật thật quá lơ là, lòng tin không kiên định, tâm nguyện không đủ mạnh, gặp việc còn do dự không nỗ lực, đừng nói chi đến chủ động “vì các loại chúng sinh mà làm bạn không mời”. Chủ động đi làm, đó mới là Bồ Tát, đợi người khác khuyên bảo xúc tiến mới miễn cưỡng đi làm, đó là người Tiểu thừa không phải Đại thừa; Đại thừa nhất định là chủ động. Điểm này chúng ta phải chăm chỉ học tập.

Thọ trì Như Lai thậm thâm pháp tạng(Thọ trì thậm thâm pháp tạng của Như Lai): Câu này then chốt ở hai chữ “Thọ trì”. “Thọ” là tiếp thọ, thật tin, thật hiểu, thật có thể làm. “Trì” là giữ gìn, vĩnh viễn không thể đánh mất. “Như Lai thậm thâm pháp tạng” chính là bộ Kinh Vô Lượng Thọ này.

Bộ kinh này ngày trước tôi từng giảng qua, thường nói: Nếu Thế Tôn tỉ mỉ làm chú giải cho Kinh Vô Lượng Thọ thì đó chính là “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.” Mọi người xem Kinh Hoa Nghiêm thì biết đích thực là rất sâu. Hoa Nghiêm là chú giải của Kinh Vô Lượng Thọ; Kinh Vô Lượng Thọ là nguyên văn, đương nhiên phải sâu hơn Hoa Nghiêm.

– Vậy Kinh Hoa Nghiêm có giảng giải hay không?

– Có! Tất cả kinh mà Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói suốt bốn mươi chín năm chính là chú giải của Kinh Hoa Nghiêm. Ngày nay, chúng ta đem toàn bộ Đại Tạng Kinh rút gọn lại, đó chính là “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh”. Kinh Hoa Nghiêm rút gọn lại chính là Kinh Vô Lượng Thọ. Từ chỗ này mới thể hội kinh  này đích thật là “Pháp tạng thậm thâm”. Nếu triệt để thông đạt tường tận, Phật nói rất hay: “Chỉ có Phật với Phật mới có thể cứu cánh”, Bồ Tát Đẳng Giác cũng không được, vẫn còn phải nhờ Phật lực gia trì mới có thể hiểu và chứng.

Ngày nay, chúng ta cũng đang nghiên cứu, thảo luận, dường như cũng có thể nói, nghe, hiểu thể hội được đại ý của kinh, vẫn là nương nhờ sức oai thần, bổn nguyện gia trì của chư Phật Như Lai. Nếu không được Phật lực gia trì, phàm phu chúng ta không thể nào có được cái năng lực này.

Hộ Phật chủng tánh thường sử bất tuyệt(Giữ gìn Phật chủng tánh khiến thường chẳng tuyệt): “Hộ” là giữ gìn, duy trì. Theo Hòa Thượng Tịnh Không: Câu này có nghĩa là người học Phật muốn thành tựu đạo nghiệp trước hết phải học yêu thương chính mình. Câu này là yêu thương chính mình, yêu thương “Phật chủng tánh của chính mình”. Trong giáo pháp Đại thừa, Thế Tôn thường nói: “Tất cả chúng sinh đều có trí tuệ, đức tướng của Như Lai”, đó là “chủng tánh Phật

Thám Huyền Ký nói: “Bồ Tát sở hạnh danh vi Phật chủng” (Sở hạnh của Bồ Tát gọi là Phật chủng). Sở hạnh của Bồ Tát là “Lục Ba La Mật” (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã) hoặc “Thập Ba La Mật” (ngoài “Lục Ba La Mật” có thêm Phương tiện, Nguyện, Lực, Trí) như được nói trong Kinh Hoa Nghiêm. Tịnh Tông chúng ta tu học năm khóa mục là: Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ và Phổ Hiền Bồ Tát thập nguyện; cũng có nghĩa là thực hành trọn vẹn được hai mươi chữ: Nhìn thấu, buông xã, tự tại, tùy duyên, niệm Phật, chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, Chánh Giác, từ bi. Tất cả những yếu tố trên đây đều là “chủng tánh của Phật”.

Sách Hội Sớ dựa vào các kinh luận cho rằng: “Phật chủng tánh” có đến bốn nghĩa, ở đây chỉ nêu ba nghĩa:

1. Phật tánh chúng sinh cùng có: Trong tâm chúng sinh sẵn có Như Lai tánh, bổn lai bất biến, sinh ra các công đức còn nhiều hơn cát sông Hằng, nhưng bị vô minh che lấp, nên dẫu có mà cũng như không! Vì họ, Bồ Tát liền khởi sự giáo hóa, khai phát “Như Lai Tạng” mà họ sẵn có, đó gọi là “Thiệu long Phật chủng” (tiếp nối dòng giống Phật được hưng thịnh). Theo Hòa Thượng Tịnh Không: “Thiệu long Phật chủng” là tiếp nối dòng giống Phật của chính mình, chẳng phải dòng giống của Thích Ca Mâu Ni Phật hay của A Di Đà Phật. Đây là “tự Phật” chẳng phải “tha Phật”, “tha Phật” không thể giúp ta, phải chính mình thành Phật mới được. Từ chỗ này mới hiểu Phật Giáo chẳng phải là tôn giáo. Trong tôn giáo có Thần, có Thượng Đế; cá nhân chẳng thể giống Thần, giống Thượng Đế. Thượng Đế chỉ có một, chân Thần chỉ có một. Trong Phật Giáo chẳng phải vậy mà tất cả chúng sinh đều là Phật. Đây là nói theo “lý”.

2. Lấy Bồ Đề tâm làm Phật chủng: Đây là nói theo “Sự”, Kinh Hoa Thủ dạy: “Thí như vô ngưu tắc vô đề-hồ; nhược vô Bồ Tát phát tâm, tắc vô Phật chủng. Nhược hữu ngưu tắc hữu đề-hồ, như thị nhược hữu Bồ Tát phát tâm, tắc Phật chủng bất đoạn”. (Ví như không có bò, sẽ chẳng có đề-hồ. Nếu không có Bồ Tát phát tâm, sẽ không có Phật chủng. Nếu có bò thì có đề-hồ; cũng vậy, nếu có Bồ Tát phát tâm thì Phật chủng chẳng đoạn). Lời này cho thấy: Không phát Bồ Đề tâm sẽ chẳng thành Phật. Vì thế, coi Bồ Đề tâm là “Phật chủng”. Bồ Đề tâm có thể và dụng. Kinh dạy: “Thể của Bồ Đề tâm là chí thành tâm”, tâm chân thành đến tột đỉnh. Cổ nhân nói: Chí thành tâm khởi tác dụng: Đối với chính mình là tâm háo thiện, háo đức (ưa thiện, chuộng đức); đối với mọi người bằng tất cả tấm lòng từ Từ bi đối với người khác chính là “tha thọ dụng”. Nói cách khác: “tha thọ dụng” của tâm chí thành là đại từ, đại bi; “tự thọ dụng” là ưa thiện, chuộng đức.

3. Lấy xưng danh làm Phật chủng: Kinh Bảo Vân dạy: “Thí như chủng thụ, hữu kỳ chủng tử, ly ư hủ bại, cụ túc sanh nha nhân duyên. Thiện nam tử! Văn Phật danh giả, đắc kỳ chủng tử, cụ túc nhân duyên, tiện đắc thọ ký” (Ví như trồng cây, có hạt giống không bị mục nát của cây ấy, đầy đủ nhân duyên mọc mầm. Này Thiện nam tử! Nghe danh hiệu Phật là được hạt giống, đầy đủ nhân duyên liền được thọ ký). Đoạn kinh văn này hoàn toàn chiếu theo cách nói của Tịnh Độ Tông: Nghe danh hiệu Phật cũng giống như được hạt giống. Có “tín, nguyện, trì danh” chính là đầy đủ nhân duyên ắt được thọ ký thành Phật, nên bảo rằng “Trì Danh là Phật chủng”. Nếu nghe danh hiệu còn hoài nghi, chẳng khác nào như chủng tử hư nát, tuy có chủng tử nhưng chẳng thể thành tựu.

Theo Hội Sớ, Bồ Đề tâm và xưng danh hiệu Phật là “Phật chủng tánh”, đủ chứng minh rằng kinh này lấy: “Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” làm Tông, đúng là “hộ Phật chủng tánh, thường sử bất tuyệt”.

Hòa Thượng Tịnh Không giải thích: Nếu nói Bồ Đề tâm theo tựa đề kinh này thì nhất định phải phát tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm Chánh Giác, tâm từ bi. Đối với bất luận người nào, dù kẻ xấu người tốt thảy đều phải dùng chân tâm mà đối xử với họ. Đối với chính mình phải gìn giữ tâm thanh tịnh, tuyệt đối không bị nhuốm bẩn vì tự tư tự lợi, danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần, “tham-sân-si-mạn” v.v…,luôn luôn giữ tâm bình đẳng không có cao thấp. Thực sự đạt đến đỉnh điểm của tâm bình đẳng thì tự nhiên bạn sẽ giác ngộ, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh.

Phải biết: Thanh tịnh do Giới mà có, Bình Đẳng do Định mà được, Giác do khai Trí Tuệ. Cho nên: “Thanh-Tịnh, Bình-Đẳng, Giác” là “Tam Học: Giới-Định-Tuệ” mà cũng là “Tam Tạng: Kinh- Luật-Luận”. Thanh Tịnh là “Luật tạng”, Bình Đẳng là “Kinh tạng”, Chánh Giác là “Tuệ tạng” hay “Luận tạng”. “Giới-Định-Tuệ” tương ứng với “Tam tạng”, cũng tương ưng với Tam Bảo: Thanh Tịnh là “Tăng Bảo”, Bình Đẳng là “Pháp Bảo”, Chánh Giác là “Phật Bảo”. “Phật-Pháp-Tăng” đương nhiên là “chủng tánh của Phật”. Chúng ta mới hiểu ra: kinh dạy phải “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”, suốt đời không thay đổi, trong đây bao gồm cả “Giới-Định- Tuệ”.

Cũng theo Hòa Thượng Tịnh Không, trên kinh Phật nói: “Phật chủng tùng duyên sinh”, đây là nói trong A-lại-da thức hàm chứa hạt giống thành Phật; hạt giống này nếu muốn gìn giữ nó tiếp nối không dứt, không bị gián đoạn thì ngay trong đời này nhất định phải vãng sinh thành Phật. “Phật chủng”, hai chữ này ý nghĩa rất sâu, rất rộng. Mỗi đồng tu có duyên đến đây nghe kinh hai giờ đồng hồ, đến Niệm Phật Đường niệm Phật một giờ đồng hồ, đều do “Phật chủng” của bạn đang khởi hiện hành. A-lại-da thức của bạn trong đời quá khứ nếu không có hạt giống làm Phật, ngày nay bạn không thể nào ngồi đây suốt hai tiếng đồng hồ để nghe giảng kinh! Ngồi chưa đến năm phút bạn phải mau chạy ra bên ngoài rồi! Việc này chứng minh thiện căn, phước đức, nhân duyên của bạn trong đời này được đầy đủ, chỉ cần nắm chắc được câu này “hộ Phật chủng tánh thường sử bất tuyệt”, bạn liền có cơ hội làm Phật.

Gia Tường Sớ giảng “thường sử bất tuyệt” là: “Muốn làm cho pháp chủng của Như Lai chẳng dứt vậy”. Muốn Chánh pháp tồn tại lâu dài, đây là trách nhiệm của tất cả mọi người con Phật, nhất định phải thực hiện từ bản thân mình, chẳng thể đòi hỏi ở người khác. Chánh pháp tồn tại lâu dài chẳng phải là nói kinh điển còn tồn tại ở thế gian. Bởi kinh điển có còn đi chăng nữa, nếu không có ai tu hành thì chánh pháp cũng liền diệt. Cho nên, phải tự khuyên chính mình y giáo phụng hành, nếu khuyên người khác thì chẳng đáng tin cậy! Phải thật sự chính mình làm sẽ ảnh hưởng đến người khác, nhất là đối với chúng sinh căn cơ chín muồi, họ sẽ học theo bạn.

Tịnh Ảnh Sớ nói: “Hộ sử ly chướng, khởi thiện vô gián, danh thường bất tuyệt” (Giữ gìn cho lìa chướng, khởi những điều lành không gián đoạn thì gọi là thường chẳng tuyệt). “Hộ” là phải bảo vệ chính mình, bảo vệ “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác” của chính mình. Nói cách khác, phải xa lìa nhuốm bẩn như trên đã nói: Tự tư tự lợi, danh văn lợi dưỡng v.v… Đây cũng chính là Phật dạy chúng ta phải “lấy giới làm thầy, lấy khổ làm thầy”, như vậy mới có thể lìa chướng. Học tập cũng phải biết gìn giữ qui củ mới lìa được chướng ngại.

Tổ sư, đại đức dạy: “Một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu”, đó là “Giới”, cần nên tuân thủ. Ba căn bản đã vun bồi tốt đẹp, đều làm được, bạn là Thiện nam tử, Thiện nữ nhân, bạn đã tròn đủ điều kiện học Phật. “Ly chướng” (lìa chướng) là khởi tâm động niệm chẳng có gì là bất thiện, đều tương ứng với tâm thanh tịnh, với thập thiện nghiệp đạo, đó là “thường sử bất tuyệt”.

Sách Bình Giải viết: “Đại Luận chép: ‘nơi không Phật, khen ngợi danh từ Tam Bảo (Tam Bảo âm)’. ‘Tam Bảo âm’ là thọ trì, tuyên nói pháp tạng của Phật. Chúng sinh do đấy sẽ gieo căn lành, phát sinh trí, thành tựu những phẩm đức khế lý, nên hạt giống Tam Bảo được liên tục lưu truyền, thường chẳng bị dứt mất”.

Hòa Thượng Tịnh Không giải thích đoạn văn trên như sau: Nơi chẳng có Phật giáo, bèn tán thán nền giáo dục của đức Phật, giảng giải rõ ràng tường tận với mọi người, khiến “chủng tử Tam Bảo” được gieo vào A-lại-da thức của họ, khiến họ có cơ duyên trông thấy tượng Phật, nghe âm thanh qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo. Họ có được thiện căn ấy, trong tương lai sẽ khởi tác dụng, đó là gieo chủng tử. Đối với chúng sinh căn cơ đã chín muồi, bèn giúp họ thành Phật. Đối với kẻ chưa có chủng tử, bèn gieo thiện căn cho họ, gieo chủng tử Phật cho họ. Tóm lại, thấy tượng Phật, nghe danh hiệu Phật đều là gieo chủng tử vào A-lại-da. Chúng ta xây Niệm Phật Đường chính là để thực hiện “hộ Phật chủng tánh thường sử bất tuyệt”.

Sau khi xây xong thôn Di Đà, nếu có thể thường trụ ở thôn Di Đà, thực tế mà nói, tương lai rất có thể dùng kỳ hạn là ba năm cho một giai đoạn. Ở nơi đây, thân tâm, thế giới tất cả đều buông bỏ, niệm được ba năm có thể đích thật đạt được năng lực tự tại vãng sinh: Muốn đi lúc nào tùy ý, muốn ở thêm vài năm cũng không ngại gì; chân thật có thể đạt đến sinh tử tự tại, việc này một chút cũng không giả! Có được công phu này, chúng ta có thể hoặc dời đến các Niệm Phật Đường khác niệm Phật, thôn Di Đà có thể nhường cho người khác, hy vọng thành tựu thêm một số người. Ba năm chuyên ròng niệm Phật, quyết có thể đạt đến sinh tử tự tại. Tôi khẳng định nói câu này cũng là lấy câu kinh văn này làm căn cứ.

Chúng ta bình thường công phu niệm Phật không có lực vì thường hay gián đoạn, xen tạp. Cách niệm như vậy có niệm ba trăm năm cũng không đáng tin! Nhất định phải thảy đều buông bỏ, một lòng một dạ như trên Kinh Lăng Nghiêm, Bồ Tát Đại Thế Chí nói với chúng ta “gom nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục”. Ở thôn Di Đà hay trong Niệm Phật Đường đích thật chúng ta có thể làm được, đó chính là chân thật làm được “hộ Phật chủng tánh thường sử bất tuyệt”. Nhất định không được gián đoạn, không thể xen tạp, Phật hiệu nhất định là hai mươi bốn giờ không gián đoạn, nhất định đem hết thảy tạp niệm, lo lắng, vướng bận thảy đều niệm hết, đó mới là “hộ Phật chủng tánh”.

Chủng tánh của chín pháp giới khác, chúng ta đều đem nó viễn ly, chỉ hộ trì chủng tánh Phật. Cho nên “thậm thâm pháp tạng” này là chỉ cho Kinh Vô Lượng Thọ; “hộ Phật chủng tánh” chính là niệm Phật, trì danh niệm Phật, ngay trong đời này quyết vãng sinh bất thoái thành Phật. Thật vô cùng thù thắng! Bất cứ pháp môn nào đều không thể so sánh được.

Hưng đại bi, mẫn hữu tình, diễn từ biện, thọ pháp nhãn, đỗ ác thú, khai thiện môn. Ư chư chúng sinh, thị nhược tự kỷ, chửng tế phụ hà, giai độ bỉ ngạn” (Khởi lòng đại bi, thương xót hữu tình, diễn từ biện, trao pháp nhãn, lấp nẽo ác, mở cửa lành. Với các chúng sinh, xem như chính mình, cứu vớt gánh vác, khiến đều vượt lên bờ kia): Cả mười câu trên đều nói về đức hạnh “đồng thể đại bi, vô duyên đại từ” của Đại Sĩ.

Hưng đại bi, mẫn hữu tình”: mẫn” là thương xót nghĩ đến. Bồ Tát thương xót chúng sinh, giúp họ lìa khổ được vui. Lòng từ bi của Bồ Tát khác hẳn lòng từ bi do ái kiến của phàm phu và hàng Nhị Thừa nên gọi là “đại bi”. Kinh Niết Bàn, quyển mười một dạy: “Tam thế chư Thế Tôn , đại bi vi căn bản” (Tam thế chư Thế Tôn lấy đại bi làm căn bản).

Quyển một Kinh Đại Nhật của Mật bộ ghi: “Bồ Đề tâm vi nhân, đại bi vi căn bản” (Bồ Đề tâm là nhân, đại bi là căn bản). Vì vậy, các Đại Sĩ đều cùng phát tâm “đồng thể đại bi”.

Diễn từ biện”: Do từ tâm mà thốt lên, nhằm giúp chúng sinh đoạn nghi sanh tín. Tịnh Ảnh Sớ giảng. “ Nương lòng từ mà nói ra thì gọi là diễn từ biện”.

Thọ pháp nhãn(Trao pháp nhãn): Pháp nhãn là một trong ngũ nhãn của Như Lai. Ngũ nhãn là: Nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn. Pháp nhãn là trí tuệ thông đạt, thấu suốt tất cả căn khí của chúng sinh, khéo biết hết thảy pháp cứu độ, tùy thuận căn cơ mà ban pháp để độ thoát họ. Ngài Tịnh Ảnh nói: “Truyền dạy pháp khiến cho hiểu biết thì gọi là trao pháp nhãn”. Dạy dỗ   chúng sinh khiến họ đối với Phật pháp sinh hiểu biết đúng đắn, cũng giống như đem pháp nhãn trao cho chúng sinh.

Đỗ ác thú(Lấp nẽo ác): “Đỗ” là làm nghẽn; “ác thú” là ba đường ác: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đây là hiểu theo cách thông thường. Đường ác rất khổ, muốn chúng sinh thoát khổ nên dạy họ lìa ác, chính là đóng lấp con đường dẫn đến nẽo ác. Trong kinh này, A Di Đà Phật có đại nguyện “Lai sinh ngã sát, bất phục cánh đọa ác thú” (Sinh về cõi ta, chẳng còn bị đọa trong đường ác nữa) thật đúng với câu “đỗ ác thú” này.

Khai thiện môn(Mở cửa lành):

Sách Hội Sớ giảng: “Là đại từ đức, thiện môn là cửa Bồ Đề Niết Bàn”. Phẩm “Thọ Lạc Vô Cực” của kinh này chép: “Tất đắc siêu tuyệt khứ, vãng sinh vô lượng thanh tịnh A-Di-Đà Phật quốc” (Ắt được siêu tuyệt, vãng sinh cõi vô lượng thanh tịnh của Phật A-Di-Đà). Đây chính là mở cửa lành một cách chân thật vậy.