BẢO KÍNH THỦ NHÃN

 

Bảo Kính Thủ (Tay cầm cái gương báu):

Tay thứ hai trong tám tay thuộc Liên Hoa Bộ của Mật Pháp, là Pháp Kính Ái.

Câu thứ 37 trong Chú Đại Bi là:”Thất Na Thất Na” dịch nghĩa là Đại Trí tức Bảo Kính Thủ Nhãn trong tướng tay Đại Bi.

Đại Bi xuất tướng câu 37: Thất Na Thất Na

– Thiên Thủ Thiên  Nhãn Đại Bi Tâm Đà La Ni: Bản dịch của Tam Tạng BẤT KHÔNG Pháp Sư ở Đời Đường, là tướng tay thứ 23 trong Kinh Văn:

“Nếu muốn thành tựu Trí Tuệ rộng lớn thì nên cầu nơi tay Bảo Kính (cái gương báu)”.

– Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh : Bản dịch của Tây Thiên Trúc GIÀ PHẠM ĐẠT MA Pháp Sư ở Đ?i Đ?ờng, là tư?ng tay thứ 20:

“Nếu người nào vì Trí Tuệ lớn thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái gương báu”.

Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh: Tướng tay  Ấn thứ 20 là:

Nếu người cầu Trí Tuệ nên tu pháp cái gương báu, tượng KÍNH TRÍ QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT…chỉ có tay trái để ngay trái tim cầm cái gương báu hướng ra ngoài, tay phải kết Trí Quyền Ấn, vẽ tượng xong.

Tướng Ấn đó là  tay phải nam quyền đặt ở eo, tay trái mở duỗi ra nâng lên trước mặt, thấy Ấn này tướng thấy Đại Viên Kính Trí.

Kính Trí Quán Tự Tại Bồ Tát

20) Bảo-Kính Thủ Nhãn Ấn Pháp

Kinh nói rằng: “Nếu muốn được trí huệ lớn, nên cầu nơi Tay cầm cái Kính-Báu”.

Thần-chú rằng: Thất Na Thất Na [37]

𑖫𑖰𑖡 𑖫𑖰𑖡
ŚINA  ŚINA

Chơn-ngôn rằng: Án– vĩ tát phổ ra, na ra các xoa, phạ nhựt-ra, mạn trà lả, hồng phấn tra.

𑖌𑖼_ 𑖪𑖰𑖭𑖿𑖣𑗜𑖨𑖟𑖿 𑖨𑖎𑖿𑖬 𑖪𑖕𑖿𑖨 𑖦𑖜𑖿𑖚𑖩 𑖮𑖳𑖽 𑖣𑖘𑖿
OṂ_ VISPHURAD  RAKṢA  VAJRA  MAṆḌALA  HŪṂ  PHAṬ

OṂ (cảnh giác) VISPHURAD  RAKṢA (Hộ vệ bao phủ khắp) VAJRA  MAṆḌALA (Kim Cương Đạo Trường) HŪṂ  PHAṬ (ủng hộ  phá bại)

Cái Gương là vật phản ảnh rõ ràng thông suốt muôn vật nên được ví dụ cho Trí Tuệ. Gương báu biểu thị cho Đại Viên Kính Trí là Trí Tuệ vô ngại vô tư nhận biết mọi sự vật đúng theo bản tính chân thật của chúng.

Bồ Tát Quán Thế Âm dùng Bản Nguyện Từ Bi xông ướp Trí Tuệ Môn nên tay cầm cái gương báu nhằm giúp cho chúng sanh giác ngộ được nghĩa thú thâm sâu của các Pháp.

Hành Giả đặt cái gương tròn trước Bản Tôn, tụng Chú thì giác ngộ được nghĩa thú thâm sâu của Chánh Pháp mà mình đã nghe thấy.  Nếu trong gương hiện các sắc tượng thì ở Nhất Thiết Trí không gì không phân biệt được. Thiện Tài Đồng Tử sẽ làm bậc Thiện Tri Thức hướng dẫn tu tập Chánh Pháp.

Kệ tụng:

Đại viên kính trí cùng pháp nguyên
Chiếu yêu kính lý tróc quái tiên
Diêm vương kính trung ác nghiệp hiện
Pháp bảo kính thủ chủng trí viên

[Đại viên cảnh trí thông suốt cùng tận cội nguồn của tất cả Pháp.

Trong “KÍNH CHIẾU YÊU”, Yêu-quái hiện nguyên hình, tùy ý ta bắt giữ hoặc tha đi.

Như KÍNH của DIÊM VƯƠNG, ác nghiệp trong một đời đều hiện, không chối cải được.
Tu Bảo Kính Thủ Nhãn Ấn Pháp, thì thành tựu “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ.
]

“ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ” là do chuyển thức “A-LẠI-DA” mà thành, có khả năng Phổ-chiếu khắp 10 phương cõi nước, nên thông đạt tất cả Pháp, hàng phục được Yêu-quái, tiêu trừ được Vô-minh vi tế (sở tri chướng), vậy nên thành tựu được “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ”.

Bất động địa tiền tài xả tạng
Kim cang đạo hậu Dị thục không
Đại viên vô cấu đồng thời phát
Phổ chiếu thập phương trần sát trung.

(BÁT THỨC QUI CỦ TỤNG )

Khi đến địa vị thứ 8 của hàng Bồ-tát (Bất động địa), thì không gọi thức này là “TẠNG THỨC” (A-LẠI-DA THỨC), mà gọi là “DỊ THỤC THỨC”.

Khi đến địa vị Đẳng-giác (KIM CANG ĐẠO), THÌ KHÔNG GỌI LÀ “DỊ THỤC THỨC”, MÀ GỌI LÀ “VÔ-CẤU THỨC”.

Đại viên vô cấu đồng thời phát
Phổ chiếu thập phương trần sát trung.

TỨC LÀ THÀNH TỰU “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ”, LÀ THÀNH “PHẬT”.

Lại nữa, trong “BÁT-NHÃN TÂM-KINH” nói rằng:

Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức ( không có ngũ-uẩn); vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ( không có 12 nhập); vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới (không có 18 giới); vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận (không có 12 nhân duyên); vô khổ, tập, diệt, đạo (không có 4 đế) ; vô trí diệc vô đắc (không có trí của Bồ-tát do tu Lục-độ, cũng không có đắc qủa Phật).

Lại nói, Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. (Ba đời  “Chư Phật” y “VÔ SỞ ĐẮC”, mà đắc “PHẬT QUẢ”)

Còn nói, Bát-nhã là Đại-thần, là đại minh, là vô-thượng, là vô đẳng đẳng chú…như lại phải nhờ thần-chú  “Yết-đế Yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha.”,  để tiêu trừ vô-minh vi tế của “A-LẠI-DA THỨC” (sở tri chướng),  mà thành tựu  “ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ” hay “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ”, TỨC THÀNH PHẬT.

Kinh Pháp Hoa nói, muốn “NHẬP PHẬT TRI KIẾN”, phải nhờ thần lực gia trì, phẩm “ĐÀ-RA-NI” THỨ  26.

Kinh Lăng Nghiêm cũng nói: Thị cố nhữ kim tri kiến lập tri tức vô minh bổn. Tri kiến vô kiến, tư tức niết-bàn vô lậu chân tịnh. Vân hà thị trung cánh dung tha vật?

HT. TUYÊN HÓA Giảng: Vậy nay chính ông ngay nơi tri kiến, lập nên tướng tri kiến. Các ông lập nên một tri kiến khác trên cái tri kiến vốn đã là hư vọng. Đó tức là cội gốc vô minh. Chính nơi tri kiến, không có tướng tri kiến, thì đó là vô lậu chân tịnh niết-bàn. Ông đã nhận ra rằng tri kiến của mình vốn là không có tự thể, thế nên ông không khởi một niệm tưởng nào căn cứ trên tri kiến ấy.

Ngay trong tri kiến ấy mà không khởi  một niệm tưởng phân biệt nào chính là tương ưng với Đạo. Đó chính là niết-bàn vô lậu chân tịnh. Làm sao trong ấy còn có vật gì khác? Trong chỗ vắng bặt tri kiến, làm sao còn dung chứa một thứ gì khác? Nơi ấy chính là bản nguyên thanh tịnh pháp giới. Tại sao ông lại muốn đưa thêm một thứ gì nữa vào trong đó? Tại sao lại chồng thêm tri kiến lên trên tri kiến? Nguyên lý nầy cũng như trong đoạn kinh trước đã nói, “Bản giác vốn là diệu minh, nhưng hư vọng nên thành minh giác.”

Cho nên “Kinh Lăng Nghiêm” nói:  “ Tất cả Chư Phật trong 10 phương, đều do “TRÌ” CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM mà được thành Phật. Nghĩa là Bồ-tát Đẳng-giác muốn thành PHẬT, thì nhất định phải trì chú LĂNG NGHIÊM, để tiêu trừ vô-minh vi tế của “A-LẠI-DA THỨC”. 

Tóm lại, nếu Qúy-vị trì “BẢO-KÍNH THỦ NHÃN ẤN PHÁP” thì thành tựu:

1) “ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ” hay  “NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ”,  TỨC LÀ THÀNH PHẬT.

2) Thông đạt cội nguồn của  tất cả “PHÁP”.

3) Tiêu trừ tất cả ác nghiệp, tập khí khó trừ trong vô-lượng khiếp.

4) Hàng phục được yêu quái, ngoại đạo, tà ma…

Kệ tụng Việt dịch:

Đại trí viên dung tận cội nguồn
Tróc nã yêu tinh phản chiếu hình
Giữa kính Diêm Vương ác nghiệp hiện
Pháp bảo kính thủ chủng trí viên.

 

Bảo-Kính Thủ Nhãn Ấn Pháp
Thứ Hai Mươi

Thất Na Thất Na [37] 
𑖫𑖰𑖡 𑖫𑖰𑖡
ŚINA  ŚINA

Án– vỉ tát phổ ra, na ra các xoa,
phạ nhựt-ra, mạn trà lả, hồng phấn tra.
𑖌𑖼_ 𑖪𑖰𑖭𑖿𑖣𑗜𑖨𑖟𑖿 𑖨𑖎𑖿𑖬 𑖪𑖕𑖿𑖨 𑖦𑖜𑖿𑖚𑖩 𑖮𑖳𑖽 𑖣𑖘𑖿
OṂ_ VISPHURAD  RAKṢA  VAJRA  MAṆḌALA  HŪṂ  PHAṬ