LUẬN TAM VÔ TÍNH
(Xuất từ Vô Tướng Luận)
Tam tạng Chân Đế dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt

 

QUYỂN HẠ

Hỏi: Sao 7 như như này nhập vào tính chân thật?

Đáp: Bảy như như này có thể ca ngợi như cảnh giới tối cực của 2 trí. Hai trí, tức là trí như lượng và trí như lý. Trí này là vô lưu, quá phàm phu, cho nên có thể ca ngợi xuất Nhị thừa. Tối cực lại là trí Bồ-tát, có thể ca ngợi là Phật trí. Tối cực, đây hiển thị nghĩa vô đảo, vì là cảnh giới của trí vô đảo. Lại nữa vô hý luận cho nên gọi là chân thật. Vô hý luận, là đối với tướng v.v…lìa chấp hư vọng là một là khác. Tướng v.v…, nghĩa là phân biệt tên các tướng. Chính trí v.v… gồm trong 4. Tức 4 pháp tạng ở trong 5 pháp tạng. Vì sao không nói là một là khác? Vì đều có lỗi.

Nếu chân như khác tướng v.v… có 3 lỗi: 1. Chân như này là thật thể phi tướng v.v… 2. Người tu quán không dựa vào các tướng làm phương tiện được thông đạt chân như. 3. Giác ngộ chân như rồi thì phải chưa đạt tướng v.v… các pháp, vì không tương quan.

Nếu chân như với tướng là một cũng có 3 lỗi: 1. Chân như đã không sai biệt, tướng v.v… cũng phải không sai biệt. 2. Nếu thấy tướng v.v… tức thấy chân như. 3. Nếu thấy chân như không thể thanh tịnh. Nếu thấy tướng v.v… thì không có thánh nhân, không được giải thoát, không có Niết-bàn, thế xuất thế khác. Cho nên do lìa một khác v.v…hoặc hý luận nên không biến đổi, không biến đổi nên tức là tính chân thật.

Hỏi: Tính này nếu lìa một khác, thì nó là có hay không có?

Đáp: Tính này không thể nói là không có. Nếu không có tính này, thì tất cả thứ thanh tịnh không thể có được. Bởi vì sao? Vì tướng kết thành chân thật. Cho nên không được không có tính này. Nhất thiết chủng, tức trí như lý như lượng. Tướng kết, tức tính phân biệt tính y tha. Lại nữa tính này thật có, vì do cảnh giới thanh tịnh. Bởi vì sao? Vì nếu tâm duyên cảnh này liền được thanh tịnh. Lại nữa tính này thật có cho nên gọi là thường trụ. Cảnh giới thanh tịnh nên gọi là thiện. Thường trụ nên gọi là lạc. Chân thật vô tính nên nói vô tính. Bởi vì sao? Tính này là thể tính chân thật của tất cả pháp hý luận. Lìa có lìa không, nên gọi là vô chân tính. Tính chân thật này là cực trí cảnh, lìa hý luận. Cho nên phải biết là tính chân thật. Tiếp ở trong y tha, ước theo biệt đạo lý phân biệt chân thật vô tính. Nếu ở trong tính chân thật thì đủ được nói chân thật và vô tính 2 nghĩa. Bởi vì sao? Vì thể là chân thật, là vô tính. Nếu ở trong 2 tính y tha phân biệt, thì chỉ được nói vô tính, không được nói chân thật. Bởi vì sao? Phân biệt y tha chẳng phải chân thật cho nên 2 thể là vô tính. Nếu không phải vô tính thì phân biệt y tha thành chân thật có. Nếu nói phân biệt y tha là chân thật thì không có nghĩa vô tính. Cho nên không được nói đủ 2 nghĩa chân thật vô tính. Nếu nói nghĩa vô tính chân thật tính thì được. Nếu nói y tha phân biệt chân thật vô tính thì không được. Vì cái tên chân thật quá lạm dụng cho phân biệt y tha.

Hỏi: Trong kinh nói có 5 tướng: 1. Danh ngôn tướng. 2. Sở ngôn tướng. 3. Danh nghĩa tướng. 4. Chấp trước tướng. 5. Phi chấp trước tướng. Lại nói 3 tướng, là phân biệt tướng, y tha tướng, và chân thật tướng. Tướng của 2 nơi này bao gồm nhau như thế nào, là 5 trong 3 hay 3 trong 5?

Đáp: Nay ước theo 3 tướng phân biệt 5 tướng. Phải biết trong 5 tướng thì 2 tướng trước thông gồm trong 3 tướng, tướng thứ 3 thiên về trong tướng phân biệt, tướng thứ 4 chỉ ở trong tướng y tha, tướng thứ 5 chỉ ở trong tướng chân thật.

Giải thích:

Hai tướng đầu tiên sở dĩ gồm thông 3 tướng, là trước tiên danh ngôn tướng tức là danh tự và ngôn thuyết các pháp. Danh ngôn này là do thức tạo tác. Tướng danh ngôn tương tự thức khởi tức tính phân biệt, thức năng phân biệt tức tính y tha. Danh ngôn sở phân biệt đã vô sở hữu, thức năng phân biệt cũng vô sở hữu, tức là tính chân thật. Cho nên tướng đầu tiên gồm trong 3 tính. Tướng thứ 2 cũng gồm trong 3 tính, là nói tướng tức là nói nghĩa của danh ngôn. Nghĩa là tất cả các vật cũng là do thức tạo tác. Có điều là thức có vật tương tự, tướng khởi tức là tính phân biệt, thức năng phân biệt tức là tính y tha. Cả 2 cũng đều vô sở hữu tức là tính chân thật. Tướng thứ 3 chỉ gồm trong tính phân biệt, là đây là danh nghĩa tương ưng tướng. Nghĩa là lấy vật lập tên khiến tương ưng với vật, do tên hiển thị vật. Danh nghĩa này thật vô sở hữu, vì không có nghĩa của tướng mà chỉ là tính phân biệt. Tướng thứ 4 chỉ gồm trong tính y tha. Cái này chấp trước 2 tướng danh và nghĩa, làm công việc năng chấp nên chỉ là tính y tha, không rõ sở chấp nên chẳng phải phân biệt. Trước chỉ phát xuất từ sở phân biệt không phát xuất năng phân biệt nên chẳng phải y tha. Tướng thứ 5 chỉ gồm trong tính chân thật. Cái này không chấp trước 2 tướng danh và nghĩa, tức là cảnh trí vô sai biệt thức A-ma-la. Thứ 4 và thứ 3 cũng không tách rời tính chân thật. Có điều là chỗ sở lập của nó chính thiên về một nghĩa thôi.

Luận nói:

Phân biệt đều có 5 thứ sự dụng. Lại nữa, nên biết rằng 3 tính này trong mỗi một tính đều có đủ tính phân biệt 5 sự dụng. Năm sự dụng là: 1. Có khả năng sinh tính y tha. 2. Trong tính y tha có thể lập danh ngôn. 3. Có khả năng khởi nhân pháp 2 chấp. 4. Có khả năng thành lập 2 chấp thô trọng. 5. Có khả năng nhập vào y chỉ tính chân thật.

Giải thích:

Cái đầu tiên là có khả năng sinh thể của nghĩa. Cái tiếp theo có khả năng sinh danh ngôn trên nghĩa. Cái thứ 3 có khả năng sinh khởi 2 tướng nhân pháp. Cái thứ 4 có khả năng sinh phiền não. Cái thứ 5 có khả năng giải thoát. Ba cái trước nói rõ có khả năng tạo tác khởi hoặc, cũng như phương tiện được giải thoát. Cái thứ 4 chính nói rõ việc khởi hoặc. Cái thứ 5 nói rõ được giải thoát. Có cái thứ tự này, là phải có cái thể nên lập danh ngôn, do có danh ngôn nên khởi nhân pháp 2 chấp, do nhân pháp 2 chấp nên tăng trưởng khởi các phiền não. Trước chỉ khởi nhân pháp 2 chấp. Đây thì nhẹ và vi tế, do đó sau khởi vô lượng hoặc. Từ đây về sau luân chuyển lâu dài mới có thể y chỉ. Cái phân biệt y tha này được nhập vào tính chân thật nên được giải thoát.

Luận nói:

Năm sự của tính y tha là: 1. Sinh thành cái thể của phiền não. 2. Có khả năng làm y chỉ cho 2 tính phân biệt và chân thật. 3. Có khả năng làm y chỉ khởi 2 chấp nhân pháp danh ngôn. 4. Có khả năng làm y chỉ khởi 2 chấp nhân pháp thô trọng. 5. Có khả năng làm y chỉ nhập vào tính chân thật.

Giải thích:

1. Sinh thành cái thể của phiền não, nghĩa là tính y tha là hữu thể, khác với tính phân biệt là vô thể, nên có thể làm cái thể của phiền não.

2. Có khả năng làm y chỉ cho 2 tính phân biệt và chân thật, nghĩa là tính y tha chấp là nhân pháp ngã, tức là bị tính phân biệt làm y chỉ. Nếu biết tính y tha do phân biệt khởi, thì phân biệt đã không có tính tướng, nên tính y tha không sinh. Không sinh cho nên tức là y chỉ của tính chân thật.

3. Có khả năng làm y chỉ khởi 2 chấp nhân pháp danh ngôn, nghĩa là danh ngôn ắt phải có chỗ sở y. Tính y tha khởi, cho nên nói có khả năng làm y chỉ khởi 2 chấp nhân pháp danh ngôn.

4. Có khả năng làm y chỉ khởi 2 chấp nhân pháp thô trọng, nghĩa là có khả năng sinh thượng tâm thô trọng nhân pháp 2 chấp.

5. Có khả năng làm y chỉ nhập vào tính chân thật, nghĩa là tính y tha không sinh, tức biết phân biệt vô tướng là phương tiện nhập vào tính chân thật, cũng có thể nói trước được rõ tính phân biệt là vô tướng, tức thấu đạt y tha vô sinh, là y chỉ nhập vào tính chân thật. Nhập vào tính chân thật, trước tiên trong văn tư tuệ, phải hiểu rõ đầy đủ tính phân biệt là vô tướng, tính y tha là vô sinh, nhiên hậu mới thấy tính chân thật.

Luận nói:

Ước theo trước phân biệt y tha có 5 sự hợp thành 10 thứ. Sở dĩ như vậy là vì có thể làm 2 tính 5 việc đối trị y chỉ duyên duyên. Thánh đạo 3 thừa là năng đối trị, vì có thể trừ 5 việc của 2 tính trước. Có thể trừ 5 việc của tính phân biệt trước, là: 1. Do quán tính phân biệt là vô tướng, nên tính y tha không sinh. 2. Do y tha không sinh nên danh ngôn không sở y. 3. Do danh không khởi nên nhân pháp 2 chấp không sinh được. 4. Do 2 chấp không sinh nên tướng loại và thô trọng 2 hoặc không khởi. 5. Do 2 hoặc không khởi nên tức là thấy chân, không cần lại phải tu phương tiện nhập vào tính chân thật. Do được thánh đạo nên 5 việc của tính phân biệt vĩnh viễn không khởi trở lại. Trừ 5 việc của y tha là: 1. Do thánh đạo nên thể của y tha phiền não trừ diệt. 2. Do thể diệt nên không tạo tác y chỉ 2 tính phân biệt và chân thật. 3. Do vô thể, nên không thể làm y chỉ cho nhân pháp 2 chấp danh ngôn. 4. Do vô thể, nên không thể làm y chỉ cho 2 chấp thô trọng thượng tâm. 5. Đã thấy chân như, nên không cần nhọc sức tìm kiếm y chỉ nhập vào tính phấn biệt.

Giải thích:

Y chỉ xứ duyên duyên, là trong cảnh trí vô phân biệt nói trí là y chỉ, nói cảnh là duyên duyên. Tức là nghĩa chuyển y của Phật Bồ-tát gọi là y chỉ duyên duyên.

Luận nói:

Hỏi: Trong Phẩm lập không, đã phá nhân ngã chấp. trong phẩm này phá pháp ngã. Hai chấp này đều từ nhân nào sinh?

Đáp: Nhân ngã chấp sinh từ pháp ngã chấp. Bởi vì sao? Nhân ngã chấp này phải do thượng tâm, vì nhân ngã chấp diệt sau mới có thể hiểu rõ các pháp.

Giải thích:

Người có thân kiến chưa thể thấy các ấm, cho nên trên các ấm chấp nhân ngã và ngã sở. Nếu khi được nhân ngã và ngã sở không, thì mới không thấy ngã và ngã sở, mới có thể hiểu rõ chỉ là pháp của các ấm. Do hiểu rõ các pháp, nên pháp ngã liền diệt. Hiểu rõ pháp, nghĩa là thấy phân biệt là vô tướng, y tha là vô sinh, chân thật là vô tính. Bởi pháp chấp diệt nên tùy miên ngã kiến diệt. Cho nên biết nhân ngã chấp do từ pháp ngã chấp sinh.

Luận nói:

Hỏi: Vì sao chưa diệt nhân pháp 2 chấp lập bất tịnh phẩm, 2 chấp diệt rồi mới lập tịnh phẩm?

Đáp: Trong tính y tha chấp ngã là tính phân biệt huân tập gọi là bất tịnh phẩm. Nếu trong y tha tu tính chân thật huân tập gọi là tịnh phẩm. Nếu nói bất tịnh phẩm, là hữu lưu giới. Nếu nói tịnh phẩm, là vô lưu giới. Vô lưu giới này lấy chuyển y làm thể. Chuyển y này không thể tư duy, lại có 2 thứ. Nói chuyển y, là ước theo địa vị thì có 5 thứ: 1. Một phần chuyển y. Nghĩa là người Nhị thừa dựa vào ngã kiến ngã ái diệt, nên vô lưu tương tục khác với phàm phu. Do đó gọi là chuyển hồi chuyển, khác trước phàm phu sở y hữu lưu. 2. Toàn phần chuyển y. Nghĩa là Bồ-tát sơ địa đầy đủ được nhân pháp 2 không. 3. Hữu động chuyển y. Nghĩa là địa thứ 7 còn có xuất nhập quán, nên gọi là động. 4. Hữu dụng chuyển y. Nghĩa là địa thứ 10 có những việc chưa xong, nên không xả bỏ công dụng, nên gọi là hữu dụng. 5. Cứu cánh chuyển y. Nghĩa là Như Lai địa viên mãn, nên gọi cứu cánh. Đó gọi là chuyển y. Nói không thể tư duy, là tự có 4 thứ: 1. Thành tựu không thể tư duy. Nghĩa là tất cả hoặc, tất cả khổ không thể làm hại. Vì hoàn toàn thanh tịnh thường trụ không biến đổi nên gọi là thành tựu. 2. Tự tính không thể tư duy. Nghĩa là chuyển y này tức sắc là tự tính, ly sắc là tự tính đều không thể tư duy. Như vậy cho đến thức và 6 nhập, 4 đại, 3 cõi, 6 đường, 10 phương v.v… Hoặc tức hoặc ly đều không thể tư duy, như trong Phật Tính có giải thích rộng. 3. Tịch tĩnh không thể tư duy. Nghĩa là chuyển y này ở trong lạc trụ không thể tư duy, ở trong tĩnh trụ không thể tư duy. Như vậy cho đến hữu tâm trụ, vô tâm trụ, thánh trụ, thiên trụ, Phạm trụ, Phật trụ v.v… đều không thể tư duy. 4. Công đức không thể tư duy. Nghĩa là chuyển y này lược nói công đức của Như Lai có 6 thứ: 1. Viên mãn. 2. Vô cấu. 3. Vô động. 4. Vô đẳng. 5. Lợi tha vi sự. 6. Thắng năng.

Giải thích:

Tám trụ: 1. Lạc trụ, là tam thiền trở lại. 2. Tĩnh trụ, là tứ thiền trở lên. 3. Hữu tâm trụ, là hữu tâm định. 4. Vô tâm trụ, là vô tưởng định và diệt tận định. 5 Thánh trụ, là tất cả vô lưu quán. 6. Thiên trụ, là sơ thiền đến phi tưởng. 7. Phạm trụ, là Phạm là vô lượng, nghĩa là tứ vô lượng định. 8. Phật trụ, là Phật không trụ sinh tử không trụ Niết-bàn, trụ ở vô trụ xứ Niết-bàn.

Luận nói:

Hữu, có 4 thứ đạo có thể được chuyển y. Những gì là 4? 1. Bốn thánh hạnh. 2. Bốn thứ tầm tư. 3. Bốn thứ như thật tri. 4. Bốn thứ cảnh giới.

Trước tiên 4 thánh hạnh là: 1. Ba-la-mật, tức 10 Ba-la-mật. Nói chung là một hạnh Ba-la-mật hướng đến Đại thừa. Đây nói rõ nhân lợi tha, cũng gọi là duyên nhân duyên. Nghĩa của Ba-la-mật, như trong Phẩm chướng của Luận Trung Biên có giải thích. 2. Đạo hành, tức 37 phẩm. Nói chung là trợ đạo hành. Có thể hiểu rõ nghĩa chân thật của cảnh giới, cho nên đây gọi là nhân tự lợi, cũng gọi là duyên quảng minh đạo phẩm, như có nói trong Phẩm tu đối trị của Luận Trung Biên. 3. Thần thông hành, tức là 6 thần thông. Nói chung là một thần thông hành có thể khiến chúng sinh được hóa độ quy hướng tôn trọng vào chân lý. Sáu thần thông này tức là 3 luân: 1. Thân thông, tức thân thông luân có thể cử nhẹ đi xa đến chuyển biến ẩn hiện, khiến chúng sinh khởi tâm quy hướng. 2. Ký tâm luân, tức thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm có thể khiến kia tư duy giác quán như thật ghi nhớ giảng nói khiến khởi tôn trọng. 3. Chính giáo luân, tức lưu tận thông khiến lìa khổ đoạn tập chứng diệt tu đạo. Túc mạng một thông thông cả hữu hậu 2 luân. 4. Thành thục chúng sinh hành, tức 4 nhiếp pháp. Nói chung là một thành thục chúng sinh hành. Đây nói rõ ghi nhập lý chúng sinh, lại dùng tài pháp 2 thí khiến thành thục. Tài thì dùng phương tiện lợi ích khiến thành thục. Pháp thì dùng phương tiện giác ngộ khởi hành tùy thuận để khiến thành thục.

Giải thích:

Bố thí nhiếp khiến kia thành thục. Thành thục là tùy theo vị trí cạn hay sâu. Ái ngữ nhiếp, là khiến kia giác ngộ, lợi hành nhiếp là khiến kia khởi hành, đồng lợi nhiếp là khiến kia tùy thuận.

Luận nói:

Lại nữa, 4 nhiếp đây là ước theo 5 thứ nhiếp, gọi là nhiếp loại. Năm là: 1. Nhiếp thành tự gia. Nghĩa là dùng tài thí nhiếp hóa người oán khiến bỏ giận ghét trở thành người thân thuộc của mình nên gọi là một nhà. 2. Linh thụ giáo nhiếp. Nghĩa là dùng ái ngữ nhiếp hóa người nhà của mình khiến thụ nhận chính giáo. 3. Khởi chính cần nhiếp. Nghĩa là dùng lợi hành nhiếp hóa người thụ giáo chưa khởi chính hành thì khiến như lý siêng thực hành. 4. Thành thục thiện nhiếp. Nghĩa là lại dùng lợi hành nhiếp hóa người chính hành chưa xả khiến xả, chưa đắc khiến đắc. 5. Giải thoát thiện nhiếp. Nghĩa là dùng đồng lợi nhiếp hóa người thứ 4 khiến giải thoát hoặc chướng và tất cả trí chướng.

Giải thích:

Giải thoát hoặc chướng tức người Nhị thừa. Thoát tất cả trí chướng tức Đại thừa Phật Bồ-tát.

Luận nói:

Thứ hai: Bốn thứ tầm tư là: 1. Tầm tư danh ngôn. 2. Tầm tư nghĩa loại. 3. Tầm tư tự tính giả. 4. Tầm tư sai biệt giả.

1. Tầm tư danh ngôn, là Bồ-tát ở trong tầm tư chỉ thấy danh ngôn không thấy danh thể. Bởi vì sao? Danh vốn hiển thị các nghĩa của sắc v.v… Nghĩa của các sắc này ước theo tướng ước theo sinh đã không thành tựu thì danh này không có chỗ hiển thị. Danh đã không thể hiển thị nghĩa, thì khác nào là không có danh. Cho nên danh không thành danh, mà danh này với sắc các loại là đồng hay là khác? Nếu đồng thì sắc đã không, danh cũng đồng không. Nếu khác, thì thế giới không như sừng thỏ v.v… Bởi vì sao? Có vật thì không ra ngoài 2 tính phân biệt y tha, cho nên là Bồ-tát tầm tư nghe danh ngôn không thấy danh thể. Đây nói thể, tức chỉ danh làm thể.

2. Tầm tư nghĩa loại, là Bồ-tát tầm tư nghĩa loại chỉ thấy duy có loại mà không thấy nghĩa khác. Bởi vì sao? Bồ-tát tầm tư nơi nghĩa. Nghĩa này như chỗ hiển thị, không như là có, chỉ có loạn thức, không có danh, không có tướng. Danh là kiến loại. Loại này đã không có sở duyên, vì năng duyên không khởi. Cho nên Bồ-tát tầm tư nghĩa loại chỉ thấy nghĩa loại chân thật là không tướng không sinh.

Giải thích:

Tầm tư nghĩa loại, là nói nghĩa tức như trong 5 ấm đều có nghĩa riêng là danh hiển thị, gọi đó là nghĩa. Như sắc để đối với nhãn là nghĩa. Nói loại tức như sắc v.v…các khí loại cũng được gọi là loại. Nay thì không vậy. Bồ-tát quán 5 ấm này là do phân biệt tạo tác ra, chỉ là loạn thức, tức gọi là thức loại. Nếu thủy chung tác ngữ, thủ lấy loạn thức vô danh vô tướng này, gọi đó là loại, thì loại đó là sở duyên đã không có, vì năng duyên không khởi. Cho nên nói Bồ-tát tầm tư loại này chỉ thấy nghĩa loại chân thật là không tướng không sinh.

Luận nói:

3. Tầm tư tự tính giả, là Bồ-tát tầm tư tự tính chỉ thấy duy có giả không thấy vật khác. Bởi vì sao? Sắc này v.v…tự tính là giả danh, không thể an lập trong loạn thức vì vô tướng vô danh, cũng không thể an lập trong tính chân thật vì ly tướng ly sinh. Giả danh này chỉ gia tăng pháp sở tác, vì thể không tăng không giảm. Cho nên Bồ-tát tầm tư chỉ thấy tự tính giả, không thấy tự tính.

Giải thích:

Tầm tư tự tính giả, là an lập 5 ấm làm tự tính. Bồ-tát tầm tư chỉ thấy cái tự tính giả không thấy tự tính, cho nên nói không thấy vật khác. Vật khác đó là nói tự tính. Bởi vì sao? Dưới giải thích sắc ấm này v.v… là giả danh. Trong loạn thức không thể an lập, tức là không thể an lập phân biệt. Nói ly tướng ly sinh, ly tướng là lìa tính phân biệt, ly sinh là lìa tính y tha. Giả danh này chỉ gia tăng sở tác, nghĩa là nếu nghiên cứu tìm kiếm cái thể của ấm thì duy chỉ có một thể như như, không tăng không giảm. Nếu lập loạn thức tức là một tầng gia tăng, vào trong loạn thức lại phân biệt lập làm 5 ấm là hai tầng gia tăng. Bồ-tát tầm tư chỉ thấy chính cái tự tính giả không thấy giả tự tính.

Luận nói:

4. Tầm tư sai biệt giả, là Bồ-tát tầm tư chỉ thấy sai biệt giả không thấy vật khác. Bởi vì sao? Vì cái giả này là vô danh vô tướng, vô tướng vô sinh. Bồ-tát quán tướng mạo của tên loại, khác cũng thấy không khác. Khác, nghĩa là tên và nghĩa đều chỉ là khách. Không khác, là như trong 10 vô đảo. Giải về danh, cú, vị, có nghĩa, không nghĩa, có giải thích trong vô đảo.

Giải thích:

Sai biệt giả, là trong 5 ấm lại phân biệt lập tên các pháp. Như trong sắc ấm triển khai ra căn đại v.v… Bồ-tát tầm tư chỉ thấy cái sai biệt giả đó, không thấy giả sai biệt, cho nên nói không thấy vật. Bởi vì sao? Dưới giải thích sai biệt này. Nếu chỉ vào loạn thức cho là sai biệt thì vô danh vô tướng. Nếu lấy tính chân thật làm sai biệt, thì thể là vô tướng. Bồ-tát thấy tướng mạo của tên loại cũng thấy không khác. Nói tên loại, tên là năng hiển, loại là sở hiển nghĩa loại. Nếu tên và loại không tương ưng nhau thì tên là khách, đó tức là khác. Cũng thấy không khác, là như giải thích trong 10 vô đảo. Nếu tên và nghĩa tương ưng, nói dựa vào thứ tự thường xuyên tu tập thì tên này tức là loại năng hiển, tên là không khác. Lại Bồ-tát tầm tư tên và loại nếu khác thì tất cả pháp thế gian không ra ngoài tên và loại này. Bồ-tát đã mỗi mỗi tầm tư tên không thành tên loại không thành loại. Hai căn bản này đã không thành tựu thì hợp làm tự tính cũng không thành tựu. Vào trong 2 tự tính lìa là sai biệt cũng không thành tựu.

Luận nói:

Cho nên luận nói Bồ-tát thấy danh loại khác cũng thấy không khác. Thấy khác là ước theo lìa danh loại bất đồng. Thấy không khác là ước theo tự tính và sai biệt hợp mà thành danh loại. Bốn thứ đây là cảnh giới tầm tư của Bồ-tát.

Giải thích:

Cảnh giới không ra ngoài 4 thứ: 1. Danh. 2. Loại. 3. Tự tính. 4. Sai biệt. Danh chỉ là tính phân biệt. Loại và tự tính sai biệt gồm thông 2 tính. Danh vốn là danh loại. Loại đã không thành thì danh cũng không lập. Hợp danh loại này làm tự tính thì tự tính cũng không lập. Lìa tự tính này làm sai biệt thì sai biệt cũng không thành, vì y tha không lập.

Luận nói:

Thứ ba: Bốn thứ như thật trí là: 1. Tầm tư danh, được như thật trí. 2. Tầm tư loại, được như thật trí. 3. Tầm tư tự tính, được như thật trí. 4. Tầm tư sai biệt, được như thật trí.

1. Tầm tư tên được như thật trí, nghĩa là Bồ-tát tầm tư cái tên thì chỉ được tên không được cái thể của tên. Bồ-tát biết như thật cái tên này an lập trong loại của thế gian. Tên này có tất cả 3 nghĩa: một là tưởng, hai là thấy, ba là nói. Trong sắc v.v… các loại, nếu thế gian không lập cái tên của sắc v.v… thì không ai có thể tưởng được vật này. Nếu không thể tưởng thì không thể khởi tăng ích cái thấy và chấp. Nếu không thấy không chấp thì không thể nói ra. Vì nghĩa đó, cái tên mà thế gian lập ra Bồ-tát biết như thật cái tên này. Đó gọi là tầm tư tên được trí như thật.

Giải thích:

Biết như thật cái tên này, là có 2 thứ biết như thật. Một là ước theo thế gian biết như thật, đó là 3 nghĩa nên lập tên. Hai là ước theo xuất thế quán như thật, đó là ước theo loại nên khởi. Loại là không thể được nên tên cũng không thể được.

Luận nói:

2. Tầm tư loại được như thật trí, nghĩa là Bồ-tát tầm tư nghĩa loại lìa tất cả ngôn thuyết, không thể ngôn thuyết. Thấy các loại sắc v.v… lìa tất cả ngôn thuyết, nghĩa là Bồ-tát quán loại y tha chỉ có loạn thức không thấy tính phân biệt, cho nên nói lìa tất cả ngôn thuyết. Không thể ngôn thuyết, nghĩa là tầm cái loạn thức này là do phân biệt khởi. Phân biệt đã không, loạn thức cũng diệt. Tức là chân như thì tuyệt đường ngôn ngữ, nên nói là bất khả ngôn thuyết. Đó gọi là Bồ-tát tầm tư nghĩa loại được trí như thật.

3. Tầm tư tự tính được như thật trí, nghĩa là Bồ-tát đối với sắc v.v… các loại tầm tư tự tính giả. Loại này không có tự tính, do tự tính giả tựa như có tự tính. Bồ-tát như thật thấy tự tính này như ảo hóa, như bóng, như tiếng vang, như trăng dưới nước, như ảnh tượng, thể của nó là phi hữu mà hiển hiện tựa như có. Những tầm tư về tự tính như vậy được trí như thật, lấy nghĩa rất sâu làm cảnh. Bởi vì sao? Vì một lúc khiển trừ tên và loại đều không.

Giải thích:

Trước một tầm tư chỉ khiển trừ tên, đó là cạn. Tầm tư thứ 2 khiển trừ loại, có thể ở vào hạng trung. Nay tầm tư thứ 3 có thể khiển trừ cả tên và loại, nên nói nghĩa rất sâu làm cảnh.

Luận nói:

4. Tầm tư sai biệt, được như thật trí, nghĩa là Bồ-tát tầm tư sai biệt giả, đối với sắc v.v…các loại thấy sai biệt giả không 2. Bởi vì sao? Vì các loại sắc v.v… này phi hữu phi vô. Như nói thể không thành tựu nên phi hữu. Do không thể nói là thể quyết chắc thành tựu nên phi vô. Do chân đế nên vô sắc. Do tục đế nên phi vô sắc. Vì trong đó giả nói là sắc. Như hữu phi hữu, như sắc phi sắc, như vậy phải biết đạo lý các sai biệt khác, như có thể thấy, không thể thấy, có ngại không ngại. Nếu Bồ-tát biết giả lìa hữu lìa vô 2 tính như thế đó gọi là tầm tư nghĩa sai biệt được trí như thật.

Đó gọi là tầm tư được 4 thứ như thật trí trong văn tư tuệ.

Thứ tư: Bốn thứ cảnh giới là: 1. Biến mãn cảnh giới. 2. Trị hành cảnh giới. 3. Thắng trí cảnh giới. 4. Tịnh hoặc cảnh giới.

1. Biến mãn cảnh giới lại có 4 thứ: 1. Hữu phân biệt tướng. 2. Vô phân biệt tướng. 3. Chủng loại cứu cánh. 4. Chính sự thành tựu.

Hữu phân biệt tướng và vô phân biệt tướng, là cảnh giới loại, cũng gọi là đẳng phần, là tĩnh định vị. Cảnh, tức Tì-bát-xá-na duyên duyên. Cảnh giới loại, là như duy thức. Bởi vì sao? Tất cả cảnh thế xuất thế chẳng qua là duy thức, vì là cảnh giới như lượng. Do như lượng này cho nên biến mãn. Cũng gọi là đẳng phần, là duy thức này do ngoại cảnh thành. Ngoại cảnh đã không, duy thức cũng không, cảnh không tướng thức không sinh. Đó là tất cả các pháp bình đẳng như lý, cho nên gọi là đẳng phần, gọi là biến mãn. Là cảnh giới tĩnh định, nghĩa là quá phàm phu Nhị thừa được định nên gọi là tĩnh. Chẳng phải tán tâm duyên cảnh nên gọi là định. Nếu Bồ-tát nhập quán rất sâu mới thấy lý này, cho nên nói cảnh tĩnh định vị. Trong đó nếu Tì-bát-xá-na thắng thì lập tên là phân biệt. Nếu Xa-ma-tha thắng thì lập tên là vô phân biệt. Đây nói phân biệt, là chẳng phải tính phân biệt, chỉ nói trí vô phân biệt gọi là phân biệt.

1. Chủng loại cứu cánh, là ở cảnh phân biệt vô phân biệt trước 2 thứ phẩm loại như lượng như lý gồm thâu hết tất cả chân tục cứu cánh, nên gọi là biến mãn.

2. Chính sự thành tựu, là Bồ-tát chư Phật chuyển y vô phân biệt trí sở duyên gọi là chính sự. Không thể trị lại nên gọi là thành tựu.

Thâu nhiếp hết cảnh trí nên gọi là biến mãn cảnh giới.

3. Trị hành cảnh giới có 5 thứ: 1. Bất tịnh quán. 2. Vô lượng tâm. 3. Nhân duyên quán. 4. Phân biệt giới. 5. Xuất nhập tức niệm.

Trước tiên quán bất tịnh trừ 4 thứ dục: sắc, tướng mạo, oai nghi, xúc. Vô lượng tâm, tức quán 4 vô lượng trừ 4 thứ sân: sát hại, bức não, tật đố, bất an. Nhân duyên quán, tức quán 12 nhân duyên trừ vô minh 3 đời. Phân biệt giới, tức quán giới nhập trừ ngã ngã sở. Xuất nhập tức niệm, tức quán trừ giác. Giải thích rộng như các nghĩa khoa. 3. Thắng trí cảnh giới có 5 thứ:

1. Ấm thắng trí để trừ trong nhóm chấp một ngã. Ấm có 3 nghĩa: 1. Nhiều, nghĩa là 3 đời không phải một. 2. Khác, nghĩa là sắc v.v… sai biệt. 3. Hòa hợp, nghĩa là nhóm họp một chỗ. Cho nên hoặc nhiều hoặc khác hòa hợp làm một thế gian gọi là tập. Ngoại đạo chấp ngã có 3 nghĩa: 1. Chấp ngã là thường, nên lấy nghĩa 3 đời để phá chấp. 2. Chấp ngã là một, lấy nghĩa sai biệt phá. 3. Chấp ngã thật hữu, lấy nghĩa hòa hợp phá. Nếu người thấy 3 nghĩa này thì ở trong nhóm không khởi một ngã chấp.

2. Giới thắng trí để trừ chấp ngã làm nhân. Có 18 giới. Lập giới để hiển thị nghĩa của chủng tử. Nhãn v.v… 6 giới là chủng tử năng chấp. Ở trong loại của nó là tự phần nhân, như nhãn căn trước v.v… sinh nhãn căn sau v.v… Sắc v.v…6 giới là chủng tử sở chấp. Ở trong loại của nó sinh tự phần nhân, như sắc trước v.v… sinh sắc sau v.v… Nhãn thức v.v…6 giới là chủng tử chấp. Ở trong loại của nó sinh tự phần nhân, như nhãn thức trước v.v… sinh nhãn thức sau v.v… Để trừ 3 thứ vô minh nên trong thân hiển thị 3 thứ chủng tử. Ba vô minh là: 1. Trừ tác giả nên nói chủng tử năng chấp. 2. Trừ nghiệp vô minh nên nói chủng tử sở chấp. Bởi vì sao? Vì chỉ sắc v.v… là sở tác nghiệp, lìa sắc v.v… không có nghiệp nào khác. 3. Để trừ sự vô minh nên nói chủng tử chấp. Bởi vì sao? Chỉ lấy nhãn v.v… 6 thức làm tác nghiệp sự, lìa thức này v.v… không có sự gì khác. Nếu người hiểu rõ giới như vậy thì không chấp ngã là nhân sinh các pháp. Giới thắng trí có khả năng trừ chấp ngã làm nhân.

3. Nhập thắng trí để trừ thụ giả ngã chấp. Có 12 thứ nhập. Nói nhập, là có nghĩa vào cửa thụ dụng. Bởi vì sao? Nhãn v.v… 6 căn có thể thụ dụng khổ lạc xả 3 thụ. Sắc v.v… 6 trần có thể thụ dụng oán thân trung bình 3 tưởng. Nói thụ dụng là nghĩa của nhân. Vào cửa tức căn trần. Cho nên 6 căn có thể làm cửa thụ dụng của thụ, 6 trần có thể làm cửa thụ dụng của tưởng. Căn và trần đây không có pháp nào khác được gọi là cửa vào. Nếu người rõ thấu nhập này thì không chấp ngã là kẻ thụ dụng.

Hỏi: Ngoại đạo chấp ngã là kẻ thụ dụng, tướng đó như thế nào?

Đáp: Chấp có một ngã riêng biệt có thể thụ dụng căn trần biết được khổ vui v.v… Phật phá cái chấp thụ này, nói rõ nhờ nội căn ngoại trần có thể làm nhân duyên thụ dụng, trong thụ biết được khổ vui.

4. Duyên sinh thắng trí để trừ kiến chấp cho ngã là tác giả. Có 12 thứ duyên sinh là vô minh cho đến lão tử. Duyên sinh có 2 nghĩa, cũng có 3 nghĩa. Hai nghĩa, là một không tăng, hai không giảm. Nghĩa là trong nhân quả và sự 3 thứ không tăng không giảm. Ba nghĩa, là vô thường, vô sự, hữu năng. Ba đây là tướng nhân duyên. Tăng nhân, nghĩa là nhân chấp pháp thường trụ là hành v.v… cho đến nhân tất cả không bình đẳng. Nghĩa là tự tính vi trần, trời Tự Tại v.v… có thể sinh hành cho đến lão tử, Đó gọi là tăng nhân. Nói không bình đẳng, là ngoại đạo kia chấp nhân là thường, quả là vô thường, nhân không từ cái khác sinh, nhân chỉ có thể sinh quả. Nhân quả không tương tự nhau nên không bình đẳng. Giảm nhân, nghĩa là chấp các hành là tự nhiên có, không từ nhân sinh ra. Đó gọi là giảm nhân. Gọi chung tăng giảm, là nếu luận về dụng của nhân thì ắt phải vô thường vô sự hữu năng 3 thứ không được tăng giảm. Nếu ngoại đạo chấp riêng có pháp thường v.v… cho đến vi trần có thể làm nhân của hành, làm tăng trưởng 3 nghĩa này nên gọi là tăng. Lại ngoại đạo chấp hành v.v… là tự nhiên có, không từ nhân sinh, thì thiếu ngay 3 nghĩa này. Đó gọi là giảm nhân. Tăng quả, nghĩa là chấp hành v.v… bản lai là hữu thể duyên vô sinh v.v… sinh. Đây gọi là tăng quả. Giảm quả, nghĩa là chấp không có hành từ vô minh v.v… sinh. Đó là giảm quả. Tăng sự, nghĩa là chấp vô minh v.v… do có một công dụng khác với vô minh, cũng khác với hành riêng có cái dụng này nên vô minh mới có thể sinh hành v.v… Đó gọi là tăng sự. Giảm sự, nghĩa là chấp vô minh v.v… không có công năng có thể sinh hành v.v… Bởi vì sao? Chỉ có do vô minh cho nên nói là nhân của hành không do công năng. Đó gọi là giảm sự. Nếu lìa 3 chỗ tăng giảm này thì gọi là không tăng không giảm mà 12 duyên sinh vậy.

Hỏi: Vì sao chỉ căn cứ vào hành do nhân sinh hay không do nhân sinh mà không nói vô minh do nhân v.v… ư?

Đáp: Hành đã có nhân cho nên nghiêng về nói nghĩa của hành đến vô minh. Vô thường, vô sự, hữu năng là tướng nhân duyên, nghĩa là vô thường là chưa có thì có, đã có thì diệt. Nếu lấy đây làm nhân có thể chấp bất bình đẳng nhân và vô nhân. Bởi vì sao? Chưa có thì có là phá chấp vô nhân. Đã có thì diệt là phá chấp thường nhân. Cho nên cái vô thường này gọi là hữu nhân và bình đẳng nhân. Vô sự là tất cả các hữu pháp, nhân đồng loại tụ họp. Từ tụ họp này trước chưa có quả mà nay được sinh. Nhân đồng loại này chỉ có tụ họp có thể sinh quả sau, chứ không có công dụng nào khác. Đó gọi là vô sự. Lấy đây làm nhân phá chấp cho rằng có sự khác. Nói đồng loại, nghĩa là nhân quả giống nhau, nhân vô thường nên quả cũng vô thường. Hữu năng, nghĩa là do đây có nên kia có, do đây sinh nên kia sinh. Vậy kia có kia sinh là kia do đây, chứ không phải do tự không phải do tha, chắc chắn do đây cho nên đây chắc chắn có công năng đối với kia. Đó gọi là hữu năng. Như vô minh này sinh hành kia v.v…, hành không tự sinh mà do vô minh sinh, nên nói kia do đây không do tự. Không do tự tại v.v… sinh nên nói không do tha. Do đây có nên kia có, phá chấp vô nhân. Do đây sinh nên kia sinh, phá chấp thường nhân, vì thường pháp không sinh. Do đây có nên kia có, đây sinh nên kia sinh. Cho nên biết đây đối với kia không làm việc gì khác, tức phá chấp có việc khác. Lìa đây kia không thành, nên đây đối với kia chẳng phải không, tự nhiên có công năng, tức phá chấp không có công năng. Nếu người được thắng trí này tức trừ chấp ngã là tác giả.

5. Xứ phi xứ thắng trí, là để trừ chấp ngã là tự tại. Nói xứ phi xứ, nghĩa là hệ thuộc vào cái khác không được tự tại. Chỗ hệ thuộc gọi là xứ, chẳng phải chỗ hệ thuộc gọi là phi xứ. Có 7 thứ xứ phi xứ: 1. Phi ái. 2. Ái. 3. Thanh tịnh. 4. Đồng sinh. 5. Tăng thượng. 6. Chí đắc. 7. Hành chúng sinh hệ thuộc. Bảy xứ này không được tự tại.

6. Phi ái, là chúng sinh hệ thuộc ác đạo. 2. Ái, là chúng sinh hệ thuộc thiện nghiệp, tuy không thuộc sinh thiện đạo nhưng chắc chắn sẽ sinh thiện đạo. 3. Thanh tịnh, là chúng sinh chưa tu 7 giác, không trừ 5 cái thì không thể hết được phiền não hệ thuộc nơi khổ biên, đối với pháp thanh tịnh không được tự tại. 4. Đồng sinh, là 2 Như Lai với Chuyển luân vương quyết không được đồng thời sinh cùng một xứ. Trong đồng sinh không được tự tại hệ thuộc, vì vô đẳng sinh. 5. Tăng thượng, là nói người nữ không được làm Chuyển luân vương, vì hệ thuộc tự tại. 6. Chí đắc, là nói người nữ không được làm Duyên Giác và Phật là chỗ chí đắc hệ thuộc đại trượng phu. 7. Hành, là người đầy đủ chính kiến không làm các việc làm ác như sát sinh v.v… chỉ có phàm phu làm mà thôi. Bởi vì sao? Vì hệ thuộc kiến đế.

Bảy đây lược nói có 3 hệ thuộc, là nghiệp, hoặc, sinh. Hai cái đầu hệ thuộc nghiệp. Tiếp đến một cái hệ thuộc hoặc. Sau 4 cái hệ thuộc sinh. Nếu người hiểu rõ 7 xứ phi xứ này, tức trừ được chấp ngã tự tại, nên gọi là xứ phi xứ thắng trí.

Năm đây gọi là cảnh giới của thắng trí. Thắng trí, tức là trí nhân không. Năm pháp môn này là hiển thị 5 thứ nghĩa của nhân ngã không.

7. Tịnh hoặc cảnh giới có 2 thứ: 1. Thế gian đạo cảnh giới. 2.

Xuất thế gian đạo cảnh giới.

Thế gian đạo cảnh giới lại có 2 thứ: 1. Ba tướng của các địa dưới: thô động, ưu bức, hậu chướng. 2. Ba tướng của các địa trên: tịch tĩnh, vi diệu, viễn ly.

Xuất thế gian đạo cảnh giới cũng có 2 thứ: 1. Để lìa phiền não chướng tu quán 4 đế. 2. Để lìa nhất thiết trí chướng tu quán phi an lập đế.

Hai cảnh giới này có thể trừ 3 chướng. Trước quán cảnh giới thế gian đạo trừ chướng của phàm phu và bì phiền não. Tiếp quán 4 đế trừ chướng của Nhị thừa, tức nhục phiền não. Sau quán phi an lập đế trừ chướng của Bồ-tát, tức tâm phiền não. Cho nên gọi là cảnh giới tịnh hoặc. Như thế, đây nói thánh hạnh là 4 tầm tư, 4 trí như thật, 4 cảnh giới. Do 4 đạo này có thể được chuyển y. Lại có 3 thứ chuyển y là 3 thừa chuyển y. Nhị thừa, là theo Thanh Văn thừa tự có 2 thứ: 1. Hoàn toàn hướng về tịch tĩnh. 2. Hồi hướng Bồ-đề.

Hỏi: Người đã hết hậu sinh, làm sao được thụ vô thượng Bồ-đề?

Đáp: Trụ nơi hóa thân tu đạo Bồ-đề, mà không phải trụ ở báo thân. Thanh Văn chuyển y, trở ngược sinh tử tu đạo vô lưu. Độc Giác cũng vậy đều tu tập mà được. Bồ-tát chuyển y thì do tu chính phương tiện và y chỉ vô nhị trí. Chính phương tiện là gì? Tự có 5 thứ: 1. Thông đạt vô thượng pháp giới, tức Bát-nhã lấy như như làm cảnh. 2. Biến mãn pháp giới, tức đại bi duyên tất cả chúng sinh làm cảnh. 3. Chính cần công dụng, tự có 2 thứ: 1. Phục hoặc nhiếp hoặc. 2. Tu trí phục trí. Phục hoặc, là khác phàm phu. Nếu hoặc nhiều không thể tự lợi huống chi lợi tha, cho nên phải siêng năng chế phục các hoặc. Nhiếp hoặc, là khác nhị thừa, nếu người không có hoặc, một mặt thẳng đến Niết-bàn thì không thể thành thục Phật pháp giáo hóa chúng sinh. Cho nên Bồ-tát phải siêng năng nhiếp lưu hoặc. Tu trí, là khác phàm phu, nếu người không có trí thì bị nhiễm ô vào trong sinh tử. Cho nên phải siêng tu trí. Phục trí, là khác Nhị thừa, nếu tu trí mà thiên lệch thì xả sinh tử không thể tự lợi lợi tha. Cho nên phải khởi chính cần chế phục trí Nhị thừa. Đó là công dụng của chính cần sai biệt. 4. Do quán việc chúng sinh diệt trừ sinh tử, là nếu Bồ-tát chỉ quán tự lợi diệt trừ sinh tử thì đồng với Nhị thừa. Nếu Bồ-tát chỉ quán chúng sinh không diệt trừ sinh tử thì đồng với thế gian phàm phu cha mẹ v.v… Nếu nghịch lại đây thực hành cả hai thì thông tự lợi và lợi tha. Đó gọi là quán việc chúng sinh. 5. Để cầu vô tỷ vô thượng trí, là vô tỷ tức Như Lai trí. Trí này chẳng phải hữu vi vì lấy chân như làm thể, chẳng phải vô vi vì lấy tri kiến làm thể.

Giải thích:

Chẳng phải vô vi vì lấy tri kiến làm thể, là khác với Tiểu thừa giáo cho rằng Phật sau khi nhập Niết-bàn không có tri kiến nữa, không có chỗ tác vi. Vô thượng trí, là vì cứu cánh cao tột trong 4 trí tín, tỷ, chứng, chí. Cho nên phương tiện của Bồ-tát khác với Nhị thừa. Năm phương tiện này tức có 5 ý. Phương tiện thứ nhất chân đế làm thể. Phương tiện thứ 2 tục đế làm thể. Hai phương tiện này đều căn cứ vào cảnh có thể sinh trí. Lấy cảnh năng sinh làm thể của phương tiện. Phương tiện thứ 3 chính hành làm thể. Phương tiện thứ 4 cộng lợi làm thể. Phương tiện thứ 5 y chỉ làm thể. Tuy có 5 ý cũng không ra ngoài 4 nghĩa. Trước 2 là phương tiện duyên duyên. Tiếp 1 là chính phương tiện. Thứ 4 là quả của phương tiện, vì do phương tiện này được tự tha đều lợi. Thứ 5 là phương tiện y chỉ, cũng gọi là nhân nhân, vì y trí này phương tiện được thành. Y chỉ trí vô nhị, thì ở trong nhân vị đối với sinh tử Niết-bàn 2 xứ không ngại. Bởi vì sao? Do ái chúng sinh không ái sinh tử. Ở trong quả vị, nhập Niết-bàn còn có khởi tâm. Như Tiểu thừa nói Phật nhập vô tâm định lại còn khởi tâm. Trí này trong nhân quả 2 vị vô trước bất trước, vô tại bất tại. Vô trước bất trước, là vì khác phàm phu Nhị thừa, nên không đắm trước sinh tử Niết-bàn. Vô tại bất tại, là căn cứ nơi quả địa Nhị thừa sở tại hữu dư vô dư Niết-bàn, Niết-bàn nên bất tại, lại có khởi tâm nên chẳng phải bất tại. Cho nên phải biết Phật trí là vô đẳng. Bởi vì sao? Trí của những người khác thì hoặc đắm trước sinh tử hoặc đắm trước Niết-bàn. Phật không như vậy. Trí này có thể làm lợi ích tất cả chúng sinh. Bởi vì sao? Vì có khả năng thành tựu tự lợi lợi tha. Trí của Phật không thể tư duy, vì không chấp trước 2 xứ, vì công năng lợi ích tự tha, vì giải thoát Niết-bàn nên không Bát-niết-bàn.

Xong Phẩm ba vô tính./.

QUYỂN HẠ HẾT

Pages: 1 2