Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN THẬP BÁT KHÔNG
(Hoặc 16, hoặc 18, hoặc 14, hoặc 17)
Bồ-tát Long Thụ tạo luận
Thiên Trúc Tam tạng Chân Đế dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt

 

Hỏi: Không vô phân biệt làm sao có được 18 thứ?

Đáp: Để làm rõ nhân pháp 2 vô ngã. Đó là tướng chung của tất cả pháp. Nay theo các pháp chủng loại không giống nhau nên triển khai thành 18. Đó là những gì? 1. Nội không. 2.Ngoại không. 3. Nội ngoại không. 4. Đại không. 5. Không không. 6. Chân thật không. 7. Hữu vi không. 8. Vô vi không. 9. Tất cánh không. 10. Vô tiền hậu không. 11. Bất xả ly không. 12. Phật tính không. 13. Tự tướng không. 14. Nhất thiết pháp không. 15. Vô pháp không. 16. Hữu pháp không. 17. Vô pháp hữu pháp không. 18. Bất khả đắc không. Hợp 18 này lại thành 16 không, vì tất cả có 2 nghĩa nên lập ra 16 không, một là thể hai là dụng.

Thứ nhất: Nội không, cũng gọi thụ giả không. Phàm phu, Nhị thừa gọi 6 nhập là thụ giả vì có thể thụ quả báo 6 trần. Nay chỉ nói rõ 6 căn không có năng chấp, do không năng chấp nên nói thụ giả không.

Thứ 2: Ngoại không, cũng gọi sở thụ không. Lìa 6 ngoại nhập, không có pháp nào khác có thể thụ. Nếu các chúng sinh có thụ có

dụng chỉ là 6 trần, trong đã không có nhân năng thụ, ngoài cũng không có pháp khả thụ. Tức nhân pháp đều không. Chỉ có thức không có cảnh nên gọi là ngoại không. Vì không có cảnh, nên cũng không có thức tức là nội không. Sáu nhập không thức tức là không có nhân. Không có căn trần tức là không có pháp. Cho nên nội ngoại 2 không, 2 nghĩa được thành.

Thứ 3: Nội ngoại không, nghĩa là thân không. Thân này 4 đại là sở y của nội ngoại. Nội y tức 6 căn hoặc 5 căn đều có tịnh sắc và ý căn đều dựa vào thân này, nên gọi là nội y. Ngoại y, là ngoài 6 trần. Nếu 4 đại của thân mình chỉ trừ 5 căn tịnh sắc, ngoài ra sắc hương v.v… thuộc ngoài 6 trần gìn giữ nơi 5 căn nên gọi là ngoại chứ chẳng phải tách rời ra ngoài thân. Thân này có thể duy trì căn trần nên gọi là y, căn trần là sở y. Căn này và phi căn đều là không, cho nên gọi là nội ngoại không.

Thứ 4: Đại không, là chỗ nương gá của thân, tức khí thế giới, 10 phương vô lượng vô biên đều là không, nên gọi là đại không.

Thứ 5: Không không, có thể chiếu tướng chân thật. Họp vởi 4 không ở trước, từ cảnh được tên, gọi là không trí. Không trí cũng không, nên lập là không không.

Thứ 6: Chân thật không, nghĩa là chân cảnh không. Hành giả thấy nội ngoại đều không, không nhân không pháp. Cảnh chân thật này lập tên là chân thật. Do tính phân biệt, tính không thể được, gọi là tính phân biệt. Tính không, tức chân thật không. Sáu không này nói về thể của không, tự thành thứ tự: 1. Thụ giả không. 2. Sở thụ không. 3. Tự thân không. 4. Chỗ trụ của thân không. 5. Năng chiếu không. 6. Sở quán cảnh không. Bốn cái trước đều là cảnh sở quán không. Cái thứ 5 là trí năng quán không. Cái thứ 6 là tướng mạo cảnh giới sở phân biệt không. Lại nữa 4 trước là sở tri, thứ 5 là năng tri, thứ 6 là tướng mạo sở tri. Thứ 5 trí không, trị 4 cảnh trước, 4 cảnh là không. Thứ 6 chân không, trị trí thứ 5, nên trí thành không. Nếu không có thứ 5 là trí không, trị 4 cảnh trước thì có nhân có pháp, tức là tính phân biệt. Do trí này thấy cảnh trước là không nhân không pháp, tức trị cảnh trước. Nếu không có thứ 6 là cảnh không, trị cái trí thứ 5, thì trí này đã chỉ hiểu chân, trở lại thành tính phân biệt. Cho nên nói thứ 6 chân thật không, là trị trí đó.

Nghĩa thứ hai, nói rõ cái không, tự có 12: 1. Hành không. 2. Phi hành không. Bồ-tát học 2 không này được 2 thứ thiện pháp: một là thiện đạo, hai là thiện quả. Đạo tức 37 phẩm. Thiện quả tức Bồ-đề v.v… Hành không, là nói rõ 3 thừa các đạo không nhân pháp, phi chân thật, phi hư vọng, lìa 4 thứ tâm này gọi là thiện nhân. Để được thiện nhân này nên Bồ-tát học quán hành không. Phi hành không, là 2 thứ thiện quả, tức dư và vô dư Niết-bàn. Nếu hữu dư trừ tập, thì quả này lìa 4 thứ điên đảo, chẳng phải là thường lạc ngã tịnh. Nếu vô dư diệt khổ, tức là thường lạc ngã tịnh.

Thứ 7 và thứ 8: Hai không này là tịnh Bồ-tát tự độ, sau khi mới đắc đạo được 1 quả.

Thứ 9: Tất cánh không, là vì lợi ích người khác Bồ-tát tu không, rốt ráo hằng muốn lợi tha, thề hằng giáo hóa cho đến hết chúng sinh. Tâm này có chấp trước, nay quán tâm này thì tâm này chắc chắn phải là tâm xả bỏ rốt ráo thì tự nhiên lợi ích, như vậy mới là trí chân thật, gọi là tất cánh không. Nếu tác tâm rốt ráo có thể làm lợi ích, không làm không ích, không tự nhiên, hằng lợi ích bất không. Cái tâm rốt ráo này là trí thứ 9, gọi là tất cánh không.

Thứ 10: Vô tiền hậu không, cũng gọi là vô thủy không. Vì thành tất cánh không, lợi ích tha nhân nên không có trước sau, tức không thủy không chung. Nếu Bồ-tát không rõ cái không này thì sẽ sinh tâm mỏi mệt chán nản xả bỏ sinh tử. Đã thấy sinh tử là không thì không phân biệt trước với sau, và thủy chung đã không còn phân biệt thủy chung, thì đối với sự ngắn hạn hay dài lâu không lo âu không vui mừng. Đối với dài lâu không lo âu, đối với ngắn hạn không vui mừng. Đã lìa lo âu vui mừng thì có thể không bỏ sinh tử. Vì không bỏ nên rốt ráo lợi ích mới được thành tựu. Cho nên thứ 10 là quán vô thủy không.

Thứ 11: Bất xả ly không. Bồ-tát tu học định chỉ này là công đức thiện căn vô tận. Bởi vì sao? Tất cả chư Phật trong vô dư Niếtbàn cũng không bỏ công đức thiện căn môn. Quả báo hữu lưu đã hết, công đức thiện căn vốn là hóa vật, cho nên hằng có cái dụng này. Như Lai tuy nhập Niết-bàn còn tùy cơ duyên chúng sinh hiện ứng hóa 2 thân làm lợi lạc hàm thức. Tức là lại khởi tâm nghĩa. Cho nên chúng sinh không hết thì cái dụng của ứng hóa cũng không hết. Cho nên nói tuy nhập vô dư mà không bỏ công đức thiện căn là vậy. Nếu Nhị thừa nhập diệt thì không khởi tâm lại bởi từ bi ít và mỏng không hóa chúng sinh. Nếu chư Phật nhập vô dư mà lại khởi tâm, là vì chư Phật Bồ-tát 3 thân lợi vật vô cùng. Pháp thân Như Lai tức là chỗ y chỉ của tất cả pháp vô lưu, cho nên nói tán diệt không lìa bỏ công đức là vậy. Sở dĩ được biết trong Niết-bàn còn có pháp thân là lấy cái dụng mà chứng cái thể. Đã thấy cái dụng bất tận của ứng hóa cho nên biết cái thể của thân này thường tự trạm nhiên hằng không dời đổi hư hoại. Như sư Tì-bà-sa nói không Niết-bàn, không có tự tướng, mà không thể nói là không. Bởi vì sao? Vì có thể hiển thị sự dụng. Nếu không y Niết-bàn không thành trí tuệ. Trí tuệ không thành thì phiền não không diệt. Niết-bàn đã có thể sinh đạo, đạo có thể diệt hoặc, tức là Niết-bàn gia sự. Đã thấy có sự, tức biết phải có cái thể, cho nên không được nói là không. Pháp thân Như Lai ở trong Niết-bàn, nghĩa cũng như vậy. Để trừ phân biệt Niết-bàn không bỏ công đức, tức là tính phân biệt. Trong nghĩa chân thật không có phân biệt này, cho nên gọi là bất xả ly không, nghĩa là không lìa bỏ cái không.

Về ngữ ngôn thì nói Niết-bàn không bỏ công đức, mà trong Niết-bàn cũng không có cái ý không bỏ, cho nên gọi là bất xả không, tức thành cái ý không bỏ sinh tử. Trước nói rõ không bỏ sinh tử rốt ráo lợi tha, khác với Nhị thừa không thể vĩnh viễn làm việc lợi ích. Nay nói rõ tuy ở trong sinh tử và Niết-bàn đều là hóa vật. Nghĩa này không khác, nên từ trước đến đây có tất cả 3 không, gọi là việc lợi tha. Đây tức thứ 11 là bất xả không, cũng gọi là bất tán không đó.

Thứ 12: Phật tính không. Thứ 13: tự tướng không. Thứ 14: Nhất thiết pháp không. Ba cái này nói rõ nhân tự lợi lợi tha.

Hỏi: Không, là cái gì?

Đáp: Là Phật tính thanh tịnh tức không, nên gọi là tính không.

Hỏi: Vì sao gọi tính không?

Đáp: Phật tính tức là tự tính các pháp. Bởi vì sao? Vì tự nhiên có. Duy chỉ tự tính có 2 nghĩa: một là vô thủy, hai là nhân. Ví như trong sinh tử từ vô thủy, 2 pháp có tâm không có tâm, là tự nhiên không có nhân. Nếu tâm có nhân thì nhân này là bản hữu là thủy hữu. Nếu là nhân bản hữu, thì nhân này là tự nhiên. Đã là tự nhiên, thì cũng phải chấp nhận tâm là tự nhiên. Xưa chưa có nhân thì phải không có chúng sinh, khi có nhân mới có chúng sinh. Như đất đá v.v… nếu khi có nhân phải thành chúng sinh. Cho nên biết rằng tự nhiên một phần làm có tâm một phần làm không có tâm. Một phần làm không có tâm, cho nên nói ví như trong sinh tử từ vô thủy, 2 pháp có tâm không có tâm, là tự nhiên không có nhân. Phật tính cũng vậy, tự nhiên không có nhân. Hư vọng còn có nghĩa tự nhiên, huống chi chân thật mà không tự nhiên. Cho nên do Phật tính vô thủy làm nhân mà có 6 nhập muốn cầu giải thoát. Nếu không có Phật tính thì quả giải thoát không được thành tựu. Ví như ngọc tịnh châu có thể làm trong nước đục. Bởi Phật tính vô thủy nên chúng sinh vô thủy, nhất dị không, tịnh bất tịnh không như trên đã nói. Tính không này lìa 5 lỗi làm rõ 5 thứ công đức. Nhân pháp là tính phân biệt. Từ nhân pháp sinh phân biệt là tính y tha. Vào trong tính phân biệt tìm pháp là không thể tìm được. Vào trong tính y tha tìm nhân pháp sở phân biệt cũng không thể tìm được. Tức là tính chân như, là chân thật vô thể, vô thể nên vô tướng, vô tướng nên vô sinh, vô sinh nên vô diệt, vô diệt nên vắng lặng, vắng lặng tức tự tính của Niết-bàn. Tự tính không này trừ 5 thứ tội lỗi:

1. Trừ tâm hạ liệt. Không tin rằng Phật tính có được hay không, có được vô lượng công đức không, thì không thể phát tâm Bồ-đề. Không phát tâm này, thường giữ tâm hạ liệt. Phật tính khiến phát tâm, nên nói trừ tâm hạ liệt.

2. Trừ tâm cao ngạo. Nếu người không hiểu Phật tính bình đẳng, bảo rằng ta có Phật tính, ta đã phát tâm, người khác không có Phật tính không thể phát tâm nên sinh cao ngạo. Nếu thể theo lý này, không có đây kia, thì tâm cao ngạo liền diệt, cho nên nói là có thể trừ tâm cao ngạo.

3. Trừ chấp trước hư vọng xả bỏ chân thật. Hư vọng sở dĩ là tội lỗi sinh tử, là như người đến đánh đập mắng nhiếc nhục mạ v.v… một là chẳng phải bản hữu, hai là do tâm tạo tác mà hư vọng khởi. Chẳng phải tự nhiên tức là hư vọng. Nếu không theo đạo lý chân thật mà gọi đây là chân thật tức chấp lấy hư vọng mà bỏ chân thật, cho nên sinh 3 độc v.v… các phiền não. Nếu biết sinh tử hư vọng chẳng phải thật có, thì không thấy có đánh mắng và bị đánh mắng, không thấy tội lỗi của chúng sinh, không sinh phiền não, tức bỏ hư vọng chỉ thấy chúng sinh đều có Phật tính, đồng công đức viên mãn, tức có thể thủ lấy chân thật. Do đó tức sinh tâm từ bi thành Bồ-tát.

4. Có thể trừ ngã kiến. Các pháp bản lai tự tính chân thật. Có, không, cả 2 đều bình đẳng. Nếu ai hiểu được như vậy tức bỏ được cái tâm chấp tướng ngã kiến.

5. Trừ sợ sệt, có thể khiến chúng sinh tin thụ chính pháp rất sâu. Thể của chính pháp là hữu tướng vô tướng, hiểu Phật tính tức có thể tin thụ vô tướng chính pháp, thì không hủy báng Đại thừa.

Tiếp nói tính không này có thể dẫn phát 5 thứ công đức, đó là:

  1. Trừ hạ liệt, sinh chính cần.
  2. Trừ cao ngạo, sinh bình đẳng.
  3. Trừ hư vọng, sinh từ bi.
  4. Trừ ngã kiến, sinh Bát-nhã.
  5. Trừ sợ sệt, thụ chính pháp, nên nói tính không.

Rõ lý Phật tính có 5 thứ công đức, lìa 5 tội lỗi, trị hộ tính khiến được thanh tịnh, tức là nhân tự lợi. Cho nên thứ 12 này gọi là tính không. Phật tính tức là không đó.

Thứ 13: Tự tướng không. Là được 32 tướng lớn và 80 tướng nhỏ. Tướng cũng có 2 thứ: 1. Sắc tướng, tức 4 đại, 5 trần. 2. Vô sắc tướng, tức tất cả tâm pháp của 4 ấm. Hóa thân chẳng phải sinh tử, chẳng phải Niết-bàn. Bởi vì sao? Sinh tử là hư vọng điên đảo, chẳng qua khổ tập 2 đế. Hóa thân thì không vậy, y vào pháp thân và ứng thân mà có, thể không điên đảo, lại có thể trừ điên đảo của chúng sinh. Cho nên nói phi sinh tử. Phi Niết-bàn, là có thủy chung cho nên bởi phi sinh tử thì không có tướng hư vọng của sinh tử, bởi phi Niết-bàn cũng không có tướng chân thật của Niết-bàn, cho nên gọi là tướng không. Nếu Bồ-tát có thể tu tướng không này thì khiến 32 tướng 80 thứ vẻ đẹp, tức tu trị tướng mạo của hóa thân khiến được thanh tịnh. Cho nên thứ 13 gọi là tướng không.

Thứ 14: Nhất thiết pháp không, nghĩa là tất cả pháp của Như Lai nhiều vô lượng như cát sông Hằng. Như 10 lực, vô úy v.v… nói rõ tương ly bất tương ly không. Nếu dùng pháp thân mà nhìn ứng thân thì có ly có bất ly. Chỉ ứng thân quyết không ly pháp thân. Bởi vì sao? Một là pháp thân là gốc, ứng thân là ngọn, ngọn không lìa gốc, gốc thì lìa ngọn.

Hỏi: Pháp thân nếu không lìa ứng thân thì có lỗi gì?

Đáp: Nếu vậy thì một người thành Phật, tất cả mọi người đều phải thành Phật. Bởi tất cả người không đều thành, cho nên biết pháp thân có nghĩa không phải tức là ứng thân. Pháp thân cũng không lìa ứng thân. Bởi vì sao? Vì pháp thân không có sai biệt, thường không lìa công đức của 3 đời chư Phật. Nếu được như vậy thì cũng lìa cũng chẳng lìa đạo lý mà tu hành thì đây có thể được quả của ứng thân. Chỉ có điều là ứng hóa 2 thân đều có thể lợi vật. Hóa thân chính là xuống giống, ứng thân là thành thục. Nay nhất thiết pháp không này là tất cả Phật pháp thanh tịnh. Tất cả Phật pháp lại có 2 nghĩa: 1. Vô ly vô bất ly, bởi có thể chấp thiên lệch. 2. Vô chấp và sở chấp, bởi cảnh trí không sai biệt.

Đây tức thứ 14 nói nhất thiết pháp không. Đến đây có tất cả 3 không, nói tự lợi lợi tha nhân đã xong.

Thứ 15: Hữu pháp không.

Thứ 16: Vô pháp không. Hai không này đều cùng phát xuất từ 14 thể của không ở trước.

Thứ 17: Hữu pháp vô pháp không: Một không này phát ra các không tướng. Nói hữu pháp vô pháp không, là nói thể tướng của không này quyết định không có pháp, tức gọi là quyết định vô. Có cái đạo lý vô nhân pháp này, nên gọi là quyết định hữu. Vô này hữu này, là thể tướng của không. Thể nói lên lý không tăng giảm. Tướng nói quyết định của thể ấy. Quyết định là vô, quyết định là hữu, tức chân thật vô, chân thật hữu, chân thật vô nhân vô pháp, chân thật có đạo lý này.

Luận này sở dĩ chỉ nói 16 không, chính vì 2 không này thuộc trong 6 thể của không ở trước. Và cũng là 14 không, là vì 4 không sau trở lại biện luận các thể tướng ở trước. Cái không sau đây thuộc trong 14 không trước. Cho nên có 14, 16, 18, nói rộng hay tóm lược không giống nhau.

Thứ 18: Xuất không quả. Nói bất khả đắc không, nghĩa là nói quả này khó được. Bởi vì sao? Theo như lý không này là phi đoạn phi thường, mà tức là đại thường. Nghĩa của thường đã không thể được, nên nghĩa của đoạn cũng không thể được. Không có tướng nhất định có thể được, nên nói khó được. Bởi vì sao? Cái lý không này phi khổ phi lạc mà là đại lạc, phi ngã vô ngã mà là đại ngã, phi tịnh phi bất tịnh mà là đại tịnh. Cái không này thuộc trong sự dụng của 8 không. Bởi thấy không có nhân pháp chính là thể của không, cho nên nói tùy sự dụng không giống nhau, ly trương thành dị. Như trước đã nói 6 cái không đầu tiên nói thể của không, tức 10 không nói cái dụng của không, dùng giữa và sau 2 không là gồm trong 14 không. Một không thứ 17 gồm trong thể của 6 không. Một không thứ 18 gồm trong dụng của 8 không. Cho nên 18 thành ra 16, 16 trở lại thành 14, hoặc trước nói rộng sau nói tóm lược, hoặc trước nói tóm lược sau nói rộng, sự lý không giống nhau, thể tướng khác biệt nhau, hoặc ly hoặc hợp là nghĩa như vậy.

Dưới đây thứ 4 phân biệt đạo lý không, có 3:

1. Tịnh bất tịnh. Nếu nói không, nhất định là bất tịnh thì tất cả chúng sinh không được giải thoát. Bởi vì sao? Bởi đã nhất định là bất tịnh rồi không thể khiến cho tịnh được. Nếu nói nhất định là tịnh thì tu đạo vô ích. Bởi vì sao? Vì khi chưa được đạo vô lậu giải thoát, thể của không vốn đã tự nhiên thanh tịnh. Thế thì không có phiền não có thể làm chướng trí tuệ, lại có thể trừ thì không cần phải nhờ công lực mà tất cả chúng sinh tự được giải thoát. Hiện thấy lìa công lực chúng sinh không được giải thoát, nên biết cái không này chẳng phải nhất định là tịnh. Lại do công lực mới được giải thoát, cho nên biết cái không này chẳng phải nhất định bất tịnh. Tức gọi là đạo lý tịnh bất tịnh, bất tịnh tịnh đó.

Lại giải thích rằng nếu nói cái lý không nhất định là bất tịnh thì tất cả công lực sẽ không có quả báo. Bởi vì sao? Vì tự tính của pháp giới không, là bất tịnh. Tuy lại sinh, đạo tục không thể trừ, vì đạo thì vô dụng, không có nghĩa này. Cho nên biết cái không này chẳng phải tính bất tịnh.

Hỏi: Nếu vậy, đã không có tự tính bất tịnh thì cũng phải không có tự tính tịnh, làm sao quyết đoán rằng pháp giới phi tịnh phi bất tịnh?

Đáp: Thức A-ma-la là tâm tự tính thanh tịnh. Chỉ vì khách trần làm ô nhiễm nên gọi bất tịnh, vì khách trần hết nên lập là tịnh.

Hỏi: Vì sao không nói nhất định là tịnh nhất định là bất tịnh, mà nói hoặc tịnh hoặc bất tịnh?

Đáp: Vì hiển thị pháp giới với 5 nhập và thiền định v.v… nghĩa khác nhau. Sở dĩ không nói bất tịnh, là để rõ nhãn v.v… các căn tuy bị phiền não che lấp mà không bị phiền não nhiễm. Lại chẳng phải tịnh, lại chẳng phải tự tính tịnh nên không nói là tịnh. Nếu là pháp giới tuy bị phiền não che, mà không bị phiền não nhiễm nên chẳng phải bất tịnh mà là tự tính tịnh, vì là tự tính tịnh nên không nói là bất tịnh. Cho nên biết pháp giới với 5 nhập, thể khác nhau.

Hỏi: Vì sao không nói nhất định là bất tịnh?

Đáp: Vì làm rõ có khác với thiền định. Bởi vì sao? Nếu nói pháp giới nhất định có phiền não, tức tự tính bất tịnh, mà pháp giới này tuy bị phiền não che mà tự tính chẳng phải bất tịnh. Cho nên không được nói nhất định là bất tịnh hay phi bất tịnh. Chính đó là đạo lý nhất định có của pháp giới.

Hỏi: Vì sao không nói như như định tịnh, mà nói tịnh bất tịnh?

Đáp: Để khiến chúng sinh tu đạo nên nói là tịnh bất tịnh. Tức hiển thị như như có khác với 5 căn. Bởi vì sao? Như như và 5 căn đều bị phiền não che mà đều không bị phiền não nhiễm, đều là tịnh mà nghĩa của tịnh có khác nhau. Bởi vì sao? Thể của 5 căn lìa phiền não, vì không phải tính phiền não, 5 căn chỉ có tịnh chẳng phải bất tịnh. Nếu như như không lìa phiền não mà là tự tính phiền não nên biết tịnh mà lại có nghĩa bất tịnh. Lại như như và thiền định đồng bị phiền não che, đồng có nghĩa bất tịnh mà nghĩa bất tịnh của chúng không giống nhau. Nếu là thiền định bị phiền não che, mà lại bị nhiễm là hoàn toàn mất tự tính. Nếu cái thể thành phiền não cũng thành bất thiện. Nếu là như như, tuy không lìa phiền não gọi là bất tịnh, mà do không mất tự tính, cũng không chuyển thành phiền não và bất thiện. Nói tức bất tịnh mà lại có nghĩa tịnh, có thể lập 3 câu: 1. Năm căn lìa phiền não, không bị phiền não nhiễm, tức chỉ là tịnh, chẳng phải bất tịnh. 2. Thiền định thành phiền não, bị phiền não nhiễm, chỉ là bất tịnh, không lại có tịnh. 3. Như như bởi khác 5 căn nên không bị phiền não nhiễm, là tịnh mà không lìa phiền não, tức là bất tịnh, cho nên nói bất tịnh, mà do không mẩt tự tịnh, cũng không chuyển thành phiền não và bất bthiện, nên nói tức bất tịnh mà lại có nghĩa tịnh.

1. Nói rõ đạo lý phi hữu phi vô. Vô nhân vô pháp, nên nói phi hữu thật hữu. Đạo lý vô nhân vô pháp, nên nói phi vô, cũng nói chân thật hữu chân thật vô, tức phi hữu phi vô.

2. Nói rõ đạo lý bất nhất bất dị các tịnh bất tịnh. Tịnh tức lìa đoạn lìa thường. Nghĩa của thường khác với ngã nên nói bất nhất. Thể của ngã thường nên nói bất dị.

Đây là nói như như đủ 3 đức. Đến với 16 không này lập ra 4 khoa giải thích: Đầu tiên có 6 không, nói tự tướng của không. Tiếp có 8 không, nói sự dụng của không. Ba, có 2 không, nói tịnh bất tịnh. Bốn, nói lý 16 không này có thể trừ 4 thứ tội lỗi : 1. Trừ hý luận. 2. Trừ bố úy. 3. Trừ giải đãi. 4. Trừ nghi hoặc.

1. Trừ hý luận, là có 2, một thế gian chúng sinh trong pháp nội ngoại khởi vô lượng hý luận, nghĩa là hữu ngã vô ngã v.v… đều y vào quả nhân đạo v.v… gọi là hý luận. Nếu kiến đạo và đạo quả đều hoàn toàn không, thì có thể trừ các hý luận này. Nếu là nội không, ngoại không, nội ngoại không, đại không, 4 không này có thể trừ hý luận của 2 ngã là nhân pháp của thế gian. Nếu là không không và đệ nhất nghĩa chân thật không, thì 2 không này có thể trừ hý luận của cảnh trí nhân quả xuất thế gian.

2. Trừ bố úy, là chúng sinh nghe người đều là không, thì sinh sợ không chịu tu đạo, nên Như Lai nói cái không này có sự dụng. Bởi vì sao? Nếu ai có thể tu sự dụng của 8 không thì có thể đắc đạo và được đạo quả, cho đến được tất cả công đức của 3 thân.

3. Trừ giải đãi, là nếu chấp nhất định là tịnh thì không nhọc sức tu hành. Nếu nói nhất định là bất tịnh, thì vĩnh viễn không thể trừ diệt, cũng không cần tu đạo, chỉ ở trong sinh tử vĩnh viễn không giải thoát. Cho nên phải nói là có tịnh bất tịnh. Bởi vì sao? Khi có hoặc thì bất tịnh, trừ hoặc rồi thì thanh tịnh nên phải tu đạo.

4. Trừ nghi hoặc, là tâm của người nghi ngờ, nghe như như là hữu là vô thì sinh do dự không thể quyết đoán. Nghĩa là như thấy cây trơ trụi gọi là người, gọi người là cây trơ trụi. Phật vì để phân biệt phán đoán rõ nhân pháp 2 ngã quyết định là vô. Đạo lý vô nhân vô pháp quyết định là hữu, cho nên là không. Vì thế mà tồn tại 2 nghĩa hữu vô. Đạo lý như thế có thể trừ tâm nghi.

Thứ 3, nói rõ chân thật duy thức. Nói tất cả các pháp chỉ có tịnh thức, không có năng nghi cũng không sở nghi. Như Luận Duy Thức có giải thích rộng. Chỉ nghĩa duy thức có 2: Một là phương tiện. Nghĩa là trước quán chỉ có thức A-lê-da, không có cảnh giới nào khác, hiện được cảnh trí 2 không, trừ vọng thức đã hết, gọi là phương tiện duy thức. Hai là chính quán duy thức, trừ sạch tâm thức hư vọng sinh tử, và cảnh giới đều hoàn toàn tịnh, chỉ có A-ma-la thanh tịnh tâm mà thôi.

Thứ 4, nói y xứ chân thật như nói khổ y đế.

Thứ 5, tà hạnh chân thật, là tập đế.

Thứ 6, thanh tịnh chân thật, là diệt đế. Thứ 7, chính hành chân thật, là đạo đế. Bốn đế lược có 3 thứ như đã giải thích riêng. Kinh Giải Tiết nói rõ Phật nói có 7 thứ chân như : 1. Sinh. 2. Tướng. 3. Thức. 4. Y chỉ. 5. Tà hạnh. 6. Thanh tịnh. 7. Chính hạnh. Thứ nhất, sinh chân như, nghĩa là các pháp hữu vi đều không có như. Hai, tướng chân như, là nhân pháp 2 vô ngã. Ba, thức chân như, là tất cả hữu vi là chỉ có thức. Bốn, y chỉ chân như, là như đã nói khổ đế. Năm, tà hạnh chân như, là như đã nói tập đế. Sáu, thanh tịnh chân như, là như đã nói diệt đế. Bảy, chính hành chân như, là như đã nói đạo đế. Bảy thứ chân như này tức đệ nhất nghĩa đế. Đệ nhất nghĩa đế tức gồm trong tính chân thật, cho nên gọi là 7 thứ chân như. Tức trước nói rõ 7 thứ chân thật, như trong Luận Tam Vô Tính giải thích rộng và đầy đủ.

Hỏi: Làm sao biết 7 thứ này đều là đệ nhất nghĩa đế, tức gồm trong tính chân thật?

Đáp: Do 2 nghĩa nên biết 7 thứ này đều tối thắng tối cực. Tức cảnh giới của 2 trí. Nói tối thắng, tức như như đệ nhất nghĩa đế. Đệ nhất nghĩa đế này tức là trí như lý chiếu nên gọi tối thắng. Tối cực, là cảnh giới của nhất thiết trí, tức là tục đế. Tục đế này là trí như lượng chiếu. Trí như lý, tức trí vô phân biệt. Trí như lượng, tức vô phân biệt hậu trí. Lại trí như lý là nhất thiết chủng trí. Trí như lượng tức nhất thiết trí. Duy chỉ một trí thông chân tức có thông tục, tức không, tức chân nghĩa mà lấy tên trí như lý, cũng gọi nhất thiết chủng trí. Nếu tục nghĩa có nghĩa thì lấy tên như lượng trí, cũng gọi như nhất thiết trí, cho nên nói tối thắng tối cực mà là cảnh giới 2 trí. Tức như lý như lượng 2 trí sở tri.

Lại có nghĩa khác biết 7 thứ chân như gồm trong tính chân thật. Bởi vì sao? Nói rõ tất cả pháp chân thật đều lìa vọng tưởng là một là khác. Nghĩa là chẳng phải một chẳng phải khác, vì lìa tứ báng pháp. Nói 7 thứ chân như không thể được, nói khác các tướng cũng không thể nói. Không khác các tướng, nên nói khác các tướng cũng không được nói, không khác các tướng cũng không thể nói cũng khác không khác, chẳng phải khác chẳng phải không khác đều không thể nói. Nói 7 thứ chân như, trong các tướng là không thể nói có cũng không thể nói không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không đều không thể nói, vì lìa tứ báng.

Lại có riêng được tin có. Bởi vì sao? Tức là vì cảnh giới thanh tịnh nên biết là có. Nếu ai có thể tâm duyên pháp này tâm liền thanh tịnh, cho nên phải biết 7 thứ chân như này đều là thường trụ, trong tất cả mọi thời tính không đổi khác. Vì là cảnh giới thanh tịnh cho nên phải biết tính thiện chân thật này do lý này thường là thiện. Cho nên phải biết là lạc đế. Bởi vì sao? Vì thường cho nên lạc, thiện cho nên tịnh. Như thế 7 thứ chân như tức là thể tính của tất cả pháp. Vì là thể tính cho nên nói là ngã. Tức 4 đức thường lạc tịnh ngã đó.

Lại giải thích sở dĩ gọi 7 thứ này là chân như là vì tính chân thật đệ nhất nghĩa đế đồng một mùi vị vậy.

1. Sinh chân như, nghĩa là thể của nhân quả là một mà danh tự có khác. Vì sao gọi là một? Vì đồng là y tha mà có. Nhân đã y tha , quả cũng y tha. Thể của nhân quả này tức 5 ấm. Năm ấm vô ký gọi tên là quả. Năm ấm thiện ác, nghĩa hữu ký, gọi tên là nhân. Lấy năng sinh làm nhân, sở sinh làm quả. Cũng đối trước là quả, đối sau là nhân. Cho nên biết chỉ là một niệm mà 5 ấm có tên là nhân có tên là quả, thể của nó thực sự chưa từng có khác. Cho nên nói nhất thể là danh tự có khác. Nhân này quả này đều y tha thì không có tự tính. Không có tự tính nên thể không chân thật. Cho nên gọi là một mùi vị. Tức đồng là không chân thật nên gọi là sinh chân như. Hai, nói một mùi vị, là sinh chân như này tính đã là y tha, thì không chân thật sinh cho nên gọi là sinh chân như, tức vô sinh tính không. Bởi vô sinh nên tức là một mùi vị. Ba, tính y tha này ắt có tính phân biệt. Tính phân biệt đã là tính vô tướng, tính vô tướng tức là vô tướng chân như, tức vô tướng chân như tức là một mùi vị. Cho nên 3 nghĩa này gọi là sinh chân như.

2. Tướng chân như, nghĩa là để hiển thị pháp thông tướng, cho nên là nhân pháp 2 vô ngã, tức lý 2 không, gọi là nhất thiết pháp thông tướng, tức gọi là tướng chân như.

3. Thức chân như, nghĩa là duy chỉ có thức không có cảnh giới. Cảnh giới bất thành nên thức cũng bất thành. Đây là năng duyên sở duyên. Cả hai đều là tính bất khả đắc nên gọi là thức chân như.

4. Y chỉ chân như, nghĩa là như nói khổ 5 ấm là thể. Năm ấm này là chỗ y chỉ của chúng sinh. Gá mượn nó làm ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, cho nên gọi là y chỉ. Khổ đế có 4 tướng, là khổ, vô thường, không, vô ngã. Cả 4 nghĩa này đều không điên đảo đều gọi là chân thật, tức y chỉ chân như. Dưới đây 4 tướng đều là không vì vô sở hữu nên đều gọi là chân thật, cũng y chỉ vào chân như.

5. Tà hạnh chân như, như nói tập đế. Tập có 2 nghĩa nên gọi là chân như: Một là vô đảo chân như, là nghĩa của năng sinh. Nghĩa này chân thật, tức là tập chân như. Hai là năng sinh sở sinh đều vô sở hữu, vì vô sở hữu nên gọi là tà hạnh chân như.

6. Thanh tịnh chân như, như nói diệt đế. Cũng có 2 nghĩa: Một là vô đảo chân như. Nghĩa là 4 đức đều vô đảo nên gọi là chân như. Hai là diệt đế với sinh tử không có sai biệt, đồng một như như đều vô sở hữu, nên gọi là thanh tịnh chân như.

7. Chính hành chân như, như nói đạo đế. Đạo tức Bát-nhã. Bát-nhã với vô minh thể tính trái nhau. Đạo tức vô đảo. Chân như như đạo và phiền não thể đồng, nên đối với 2 không đều vô sở hữu, cho nên là một mùi vị như như, cho nên gọi là chính hành chân như, cũng gọi là chân như, cũng gọi là như như, cũng gọi là chân thật đều được hết. Mười thắng trí chân thật, là có 10 thứ thắng trí để trừ 10 thứ ngã kiến: 1. Chấp một. 2. Chấp nhân. 3. Chấp thụ giả. 4. Chấp tác giả. 5. Chấp tự tại. 6. Chấp Tăng thượng. 7. Chấp thường. 8. Chấp bất tịnh tịnh. 9. Chấp tu hành. 10. Chấp triền phược giải thoát.

8. Chấp một, nghĩa là tập hợp các pháp lập chung một tên, tức rơi vào đoạn kiến. Bởi vì sao? Như kệ của Luận Thất Nhập có nói ví như bờ đê vỡ không trở lại như cũ, cho đến gò đất không tái lập lại. Chỉ có cảnh giới của căn gọi là chúng sinh. Như thánh giáo nói như có thể thấy dấu chim trên không. Đây là thế nhập ngoại đạo hiển thị chấp một, nói tức thân là người, thân diệt ngã mất nên rơi vào đoạn kiến. Để phá chấp này nên lập 5 ấm. Thắng trí tuy có 3 nghĩa, nghĩa là nhiều tập hợp khác biệt. Sắc tâm 3 đời đều gọi là ấm cho nên gọi là nhiều tập hợp. Sắc tâm 3 đời đều tên là ấm cho nên gọi là tập hợp, sắc tụ khác thụ, thụ tụ khác với tưởng v.v… nên gọi là khác biệt. Đó gọi là 5 ấm. Nếu hiểu rõ 5 ấm có 3 nghĩa này tức không có chấp một. Nói 3 đời là quá khứ đã mất, vị lai chưa có, hiện tại không dừng trụ, mà lấy tất cả các sắc trong ngoài đều gọi là ấm. Lấy 3 nghĩa đối trị 3 thứ vô minh, nghĩa là: một, giả thuyết và tướng tạp. Một, vô minh là như thế nhập ngoại đạo v.v… cho rằng thân là một vật, một vật là ngã. Người không biết chỉ có 3 đời 5 ấm nên rơi vào đoạn kiến. Đây là chấp ấm là ngã, ấm diệt thí ngã mất. Phật vì đó nói 3 đời 5 ấm là nhiều chẳng phải một, tức phá cái chấp một kia vậy. Hai, giả thuyết vô minh, là như ngoại đạo Ưu-lâu-khư v.v… cho rằng thân khác phần, tức chấp có nhân khác pháp. Đây là lìa ấm chấp ngã nên rơi vào thường kiến. Bởi vì sao? Nhân pháp đã khác thì nói ấm diệt ngã còn tồn tại, do không hiểu tập hợp các ấm giả nói là người, chỉ gọi là vô thể. Mê giả thuyết này nên gọi là giả thuyết vô minh. Cho nên Phật vì đó nói tập hợp giả nói là pháp, thể tức là không. Tức phá chấp này nên nói có thể trừ giả thuyết vô minh vậy. Ba, tướng tạp vô minh, là như Nhất thiết hữu bộ chấp cho rằng trong 8 thánh đạo, chính tư , chính kiến đều thuộc trong Bát-nhã. Vì họ không không thể phân biệt 2 cái khác nhau nên sinh chấp này. Cho nên các sư bên Đại thừa kinh bộ nói chính tư nên muốn tìm kiếm lý trước chưa quyết đoán còn thuộc tác ý. Tác ý tức ý nghiệp nên chẳng phải thuộc trong Bát-nhã. Chỉ có chính kiến mới là Bát-nhã. Thông mà luận tất cả tri kiến có thể thông đạt tuyển trạch đều thuộc Bát-nhã. Năm ấm cũng vậy, nếu không thể phân biệt thụ khác tưởng, tưởng khác hành v.v…, nghĩa là tưởng và thụ chỉ là một vật, tức mất thể tính của nó nên gọi là tướng tạp vô minh. Tướng tạp vô minh nên mất chính kiến. Mất chính kiến thì không thể giải thoát được. Cho nên Phật vì đó nói 5 ấm thể không đồng nhau. Phân biệt thụ tưởng v.v… khác để lập 2 tướng thông và biệt. Biệt tướng sinh chứng kiến. Thông tướng sinh tỷ kiến.

Hỏi: Năm ấm làm sao gồm trong chân thật căn bản?

Đáp: Sắc có 3 thứ: 1. Phân biệt sắc. Cũng có nghĩa dài ngắn, lớn nhỏ, vuông tròn v.v… đều thuộc phân biệt giả, là vì không có cái thể riêng biệt. 2. Chủng loại sắc. Nghĩa là có chủng loại riêng, như từ nhân sinh quả, do hỏa sinh làm nhân sinh chủng loại hỏa gia. Chủng loại đã tương tự, tức là thật pháp tương sinh, thuộc y tha giả, do chủng loại y vào nhân được thành, chẳng phải sức của tự tính. 3. Như như sắc. Nếu là phân biệt giả là hoàn toàn vô thể tức là pháp không. Nếu là y tha giả tuy có cái thể, thể đó không phải chân thật, y tha mà có, tức có pháp không. Cái thể của 2 không này đã là chân thật nên gọi là như như sắc. Vì tự tính của sắc như vậy nên lấy sắc nhân nơi như như. Sắc của như như gia như vậy nên nói như như sắc. Lấy ngọn theo gốc làm tên, cũng có thể nói được là lấy gốc đến ngọn. Cái chân thật này gọi là chân thật giả. Thể của giả tức không, nên gọi là chân thật. Giả không tức như như. Tướng chân thật cũng không thể được.

Sắc ấm đã tức là 3 giả, vì gồm trong 3 giả, thụ v.v…4 ấm lý đều tự như vậy. Đều là gồm trong 3 giả, Thụ khổ thụ lạc là phân biệt giả. Thể của phân biệt từ nhân duyên sinh, có nhân có quả tức y tha giả. Như như , gọi là chân thật giả. Nếu có thể phân biệt thông tướng biệt tướng, tâm này là tưởng. Nếu thụ lãnh khổ lạc, không có chấp nào khác thì gọi là thụ.

9. Chấp nhân. Để đoạn chấp này thành 18 thắng trí. Các ngoại đạo đều có cái chấp chung là tất cả pháp nhân nơi ngã được sinh, gọi là chấp nhân. Ngã có 9 pháp là: tri, lạc, khổ, dục, sân, công lực, niệm, pháp, và phi pháp. Ngã đã bản hữu, từ ngã sinh pháp phi pháp. Pháp phi pháp khiến tâm hòa hợp với ngã. Hòa hợp nên có thể có sở tri. Tri nên có lạc. Lạc nên có khổ. Do lạc nên sinh dục. Do khổ sinh sân. Muốn được lạc nên chán khổ mà tu công lực. Công lực nên có chính niệm. Muốn được giải thoát nên phải trừ pháp phi pháp. Pháp phi pháp không sinh thì không có tri. Vì không tri nên không khổ lạc v.v… Nếu cầu giải thoát phải tu 4 pháp: 1. Chân thật ngữ, tức trì giới. 2. Thí. 3. Khổ hành. 4. Định. Nếu có thể tu 4 thứ chính pháp này thì được sinh váo con đường thiện. Con đường thiện được lạc. Lạc có trí tuệ. Trí tuệ thì chán pháp phi pháp. Chán pháp phi pháp thì được giải thoát. Đại thừa phá chấp nói rằng: Nếu nói trước có ngã mà chưa có pháp phi pháp, sau thì không có nhân duyên mà sinh, giải thoát cũng vậy, được giải thoát rồi cũng phải không có nhân duyên lại sinh pháp và phi pháp. Như vậy tức không có khi nào giải thoát. Giới là nghĩa của chủng tử. Chủng loại của tự phần gọi là chủng tử. Chủng tử cũng là một nghĩa, bởi chủng loại đồng nhất. Chỉ phân rộng quả mà thành 18 giới. Chủng tử có 3: 1. Năng chấp. 2. Sở chấp. 3. Chấp. Chủng tử năng chấp của nhãn v.v…6 căn, gọi là tự chủng. Chủng loại tức là năng sinh. Chỉ tùy nhân duyên hơn kém mà có quả dị sinh hơn kém không đồng nhau. Do quá khứ tham, 6 trần sinh nghiệp huân vào thức A-lê-da khiến chủng tử đã đồng là một tham, nên nói chủng tử là một mà có thể được quả khác nhau của 6 căn. Cho nên nói nhân có 6 thứ là vậy. Nói căn năng chấp, là căn đã chẳng phải tâm pháp, thật không thể chấp, chỉ vì ngoại đạo nói trong căn riêng có người, đó là năng chấp, cho nên phương tiện nói căn là năng chấp. Sắc v.v… 6 trần là sở chấp. Chủng tử do tự chủng sinh nên nói do quá khứ tham. Nội căn muốn dùng ngoại trần nên lấy tham căn với tham sinh nơi trần này. Lại do tham 6 trần nên có 6 căn rồi lại lấy tham của tham trần sinh nơi 6 căn. Sáu thức là chấp chủng tử. Giả nói giới này có 3 nghĩa: 1.Năng tác. 2. Sở tác. 3. Tác vi. Phá chấp cho Câu-hi-la khi còn theo ngoại đạo, cho ngã là năng tác mà đến hỏi Phật, Phật phương tiện giả nói nhãn v.v… là năng tác. Cái chấp nhãn v.v… là ngã tác, lại phá chấp một ấm nói rằng lìa ngoài căn ra không có cái ngã riêng biệt. Chỉ là nhãn v.v… từ nhân duyên sinh. Nghĩa là năng tác, thật chẳng phải năng tác. Giả nói 6 trần gọi là sở tác, là để phá chỗ lập 2 thứ thường ngã của ngoại đạo Tăngkhư: Một, bảo là hữu tri ngã là thường ngã. Đã là thường, nên chẳng phải năng tác. Hai, chấp vô tri ngã, tức tất cả pháp là hữu tri ngã dụng. Tự tính thành tựu trí phi sở tác là Phật giả nói 6 trần gọi là sở tác, chẳng phải tính hữu. Đã chẳng phải thật hữu năng tác cho nên biết trần cũng chẳng phải sở tác. Cho nên giả thuyết tác là 6 thức. 1. Phá ngoại đạo, nghĩa là tất cả mọi sự đều do ngã ý. Đây là tăng ích báng. 2. Tà kiến ngoại đạo gọi là ngã thường. Vì ngã thường nên các pháp cũng thường. Hai thứ đều đã là thường, nên không có năng tác và sở tác, tức tổn giảm báng. Để lìa nhị biên này nên giả nói 6 thức là tác, căn trần không tác ý nên không có tác. Nếu lìa căn trần cũng không có thức. Bởi vì sao? Bởi thức phải y vào căn trần mới sinh được. Thế thì không có bất tác, chính là phá ngoại đạo năng tác sở tác v.v… 3 thứ vô minh nên lập 3 nghĩa này. Để làm rõ chủng tử có năng chấp sở chấp v.v… nên lập 18 giới. Nếu hiểu 18 giới từ 4 duyên sinh thì không chấp ngã là năng sinh v.v… Căn gọi là năng tác, nghĩa là năng tác có 2 thứ, một là năng sinh thức, hai là năng làm trần tác duyên. Trần là sở tác, nghĩa là là tác duyên của nhãn, là sở y của thức. Thức là tác giả, nghĩa là tác là sinh khởi, có nghĩa của sự, nghĩa của giới. Theo chân thật căn bản thì nhãn có 3: một là phân biệt nhãn, hai là chủng loại nhãn, ba là như nhãn. Cho đến hành phi hành thắng trí. Thí dụ như giải thích trong 5 ấm. Bốn, để phá chấp tác giả nên nói 12 duyên sinh nhân quả sự. Ba nghĩa không tăng giảm. Nói tăng giảm là trong hành thức v.v… 11 chi lập nhân bất bình đẳng. Bởi vì sao? Bởi pháp vô thường lập thường làm nhân cho nên gọi là bất bình đẳng. Như ngoại đạo Tăng-khư v.v… lập vô tri ngã làm nhân. Cũng như Ưulâu-khư lập thường ngã làm nhân và chấp trời Tự Tại là thường v.v… mà năng tác nghiệp cũng là lập thường làm nhân năng tác vô thường quả. Nhân quả tức không cùng loại với nhau cho nên nói lập nhân bất bình đẳng lý mà làm luận quả của vô thường. Tự bởi có vô minh làm nhân mà kia gọi là nhân hữu thường tức là tăng ích nơi nhân. Nghĩa cũng tổn giảm nhân, nghĩa là như ngoại đạo Nikiền tử v.v…. Nghĩa là các pháp tự nhiên mà có, không có nhân duyên thật hữu nên gọi là không, cho nên nói tổn giảm nhân. Tăng quả, là như nghĩa của Tăng-khư v.v… lập ra. Nghĩa là trong nhân đã có quả. Quả tuy bản hữu, do nhân hiển quả. Đây đã là bản hữu thì không từ nhân sinh, mà lý thì thật do nhân duyên tụ tập mới có quả này, mà chấp nói bản hữu nên gọi là tăng quả. Tổn quả, là như ngoại đạo lập nghĩa đoạn kiến v.v… Nghĩa là tất cả nghiệp đều giảm quả, không có vị lai sinh. Thật hữu cảm thật hữu sinh, mà tà chấp lập là vô, nên gọi là tổn quả. Tăng sự, là như trời Tự Tại chấp.

Nghĩa là tất cả mọi việc đều từ tâm ý ta mà có, như thể của vô minh riêng có tác ý có thể sinh ra hành, mà thể của vô minh thật không riêng có tác ý mà sinh hành. Lại như Ưu-lâu-khư chấp trong pháp thể riêng có sự nghiệp có động chuyển v.v… Sự nghiệp có 5 thứ là trên dưới co duỗi v.v… lấy động chuyển làm thể, lìa thể ra thật không có sự nghiệp nào khác, mà tà chấp cho là có, nên gọi là tăng sự. Tổn sự, là ngoại đạo chấp. Nghĩa là vô minh vô lực có thể sinh hành. Vô minh hoặc tại hoặc bất tại, tự nhiên có hành, cho nên biết vô minh vô lực sinh hành. Nếu hiểu 12 hữu phần lần lượt sinh nhau có thể lìa nhân quả sự v.v… tăng giảm 6 thứ tà chấp. Lược nói nghĩa của 12 hữu phần nhân quả, tự có 3 thứ: 1. Nói vô thường. 2. Nói ý của vô động chuyển. 3. Nói thể tướng của nhân quả. Nếu tâm là thường thì không có nhân quả. Bởi tâm là vô thường nên nghĩa nhân quả lập. Nếu nói riêng có ý động chuyển thì nhân phải tác ý sinh quả. Quả phải tác ý mới từ nhân sinh. Thế là tự tại chẳng phải gọi là y tha, thì sinh nghĩa y tha nhân y quả, quả nhờ nhân thành, phải đợi nhau đều y tha, vì là giả không có thật tính. Nếu không tương tự thì mất nghĩa nhân quả. Như đậu sinh ra lúa mạch, bởi chẳng phải nhân nên không sinh ra nhau. Nếu khiến quả không giống nhân, nhân không giống quả thì làm ác liền được sinh lên trời, làm thiện thì đọa địa ngục. Cho đến hữu lưu phải cảm giải thoát, vô lưu lại thêm sinh tử. Cho nên vô thường sinh vô thường, đó là lý tự nhiên không cần chấp có tác ý. Nhân quả tương tự gọi là 12 hữu phần. Nghĩa này để phá 3 thứ phiền não, nghĩa là tham ái là da, ngã kiến là thịt, vô minh là tâm. Trong thể của 12 duyên này nếu là quả báo phần là thật nếu chán lìa để phá tham ái hiển thị vô nguyện giải thoát môn, nếu là nhân phần thì để phá ngã kiến hiển thị quả do nhân sinh, chẳng phải ngã là thường làm, hiển rõ không giải thoát môn, dùng vô minh trở lại hiển thị vô minh. Nếu có thể hiểu rõ các nghiệp hành từ vô minh sinh, tức vô minh hiển thị cái tâm tối tăm, tức diệt vô minh tức là 4 báng chấp tướng. Phá cái vô minh này để hiển thị vô tướng giải thoát môn đó. Nếu thể 12 hữu phần không tăng không giảm, thì trừ ngã kiến lìa chấp tác giả nên dùng 12 hữu phần chính là phá chấp này vậy. Ba vốn sở nhiếp, nghĩa là vô minh có 3 nghĩa: 1. Phân biệt sở hiển, tức phân biệt giả. 2. Có đạo lý nhân quả, tức y tha giả. Hai cái này đều vô sở hữu, tức chân thật giả. Vô minh một chi đã vậy còn lại các hành v.v… 11 cũng đều như vậy không phải giải thích nữa. Năm, phá chấp Tự Tại, cho nên nói xứ phi xứ thắng trí. Ngoại đạo chấp trời Tự Tại có thể như ý làm thiện được quả báo ác đạo, sinh ác có thể chiêu cảm thiện đạo, tác hữu lưu được giải thoát, tác vô lưu cảm sinh tử. Bởi vì sao? Vì được tự tại. Để phá chấp này nói xứ phi xứ đều là y tha, hoàn toàn không có tự tại. Không tự tại có 3 nghĩa: 1. Y nghiệp xứ phi xứ. 2. Y phiền não xứ phi xứ. 3. Y quả báo xứ phi xứ. Như trong nghĩa thọ lượng giải thích rộng rõ 7 thứ là nghĩa của xứ phi xứ. Y nghiệp xứ phi xứ, nghĩa là y ác nghiệp gọi là ác đạo, gọi là thị xứ, không có sức tự tại nhập vào. Nếu y ác nghiệp không vào ác đạo, gọi là phi xứ, không có chỗ như vậy. Thiện nghiệp cũng vậy. Y phiền não, nghĩa là nếu ai chưa xả bỏ ngũ cái, chưa tu tập thất giác, hoàn toàn không hết được biên giới của khổ. Y phiền não không đến được giải thoát. Cho nên biết không có nghiệp tự tại. Phàm phu y phiền não có thể tạo sát v.v… các nghiệp không có phiền não làm y xứ nên hoàn toàn không có sức tự tại. Y quả báo, nghĩa là một nước không có 2 vua, đời không có 2 Phật. Nếu khiến 2 vua, 2 Phật đồng thời xuất hiện là không có chuyện đó. Như người nữ làm Chuyển luân vương, cũng không có chuyện đó. Tiểu thừa Thanh Văn và Bích-chi-phật được thành Phật cũng không có chuyện đó. Chuyển luân vương và Phật đồng có nghiệp bất cộng. Nghiệp này tối thắng hơn hết tất cả sức quả báo nhân duyên. Tuy lại tác ý muốn đồng một xứ cũng hoàn toàn không theo ý được. Người nữ có 2 nghiệp: 1. Tâm thiện nên cảm được thân người. 2. Do ác nghiệp nên là thân nữ, hằng lệ thuộc nơi người không được tự tại, đều là quả báo y tha đó. Người Nhị thừa thiểu dục tri túc, y nhân nghiệp này nên nay được quả. Đã được quả này, muốn cầu Bồ-tát, không sức tự tại hoàn toàn không thể được. Như nghĩa này, có 2: 1. Y nghiệp. 2. Y quả. Nếu được 7 thứ xứ phi xứ thắng trí thì lìa ngã kiến sau được tự tại như ý có thể được.

Nghĩa thuộc 3 tính căn bản như trên đã giải thích. Khó được thí dụ không ghi thêm nữa./.

TRỌN BỘ MỘT QUYỂN HẾT

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.