Phật Thuyết
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM
THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH GIẢI DIỄN NGHĨA
Hòa thượng Tịnh Không chủ giảng
Ngài Hạ Liên Cư hội tập
Cụ Hoàng Niệm Tổ chú giải
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa chuyển ngữ
Diệu Âm Phổ Hạnh kính ghi và đúc kết
Phật lịch 2563 -2019

 

II. PHÁT ĐẠI THỆ NGUYỆN ĐỆ LỤC
(TT)

KINH VĂN:

Ngã tác Phật thời, quốc trung vô bất thiện danh. Sở hữu chúng sinh sinh ngã quốc giả, giai đồng nhất tâm, trụ ư Định Tụ, vĩnh ly nhiệt não, tâm đắc thanh lương. Sở thọ khoái lạc, do như Lậu Tận tỳ kheo. Nhược khởi tưởng niệm tham kế thân giả, bất thủ Chánh Giác. 

VIỆT DỊCH:

Lúc tôi làm Phật, trong nước không có danh từ bất thiện. Tất cả chúng sinh sinh trong nước tôi đều đồng một tâm, trụ nơi Định Tụ, vĩnh viễn thoát khỏi nhiệt não, tâm được thanh lương, hưởng thọ khoái lạc như là Lậu Tận tỳ kheo. Nếu họ khởi tưởng niệm tham chấp cái thân thì chẳng lấy Chánh Giác.

GIẢNG:

Từ nguyện thứ mười tám đến nguyện thứ hai mươi bảy, tổng cộng có mười nguyện, nói rõ: Nghe danh được công đức thù thắng. Từ nguyện hai mươi tám đến nguyện ba mươi mốt trong chương này là thể hiện công đức thọ dụng của chúng sinh trong cõi Cực Lạc.

Ngã tác Phật thời, quốc trung vô bất thiện danh” (Khi tôi thành Phật, trong nước không có danh từ bất thiện). Đây là nguyện thứ hai mươi tám “quốc vô bất thiện danh”. Ý nói: Cõi Cực Lạc, các danh từ bất thiện như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, bất thiện, tham lam, tật đố, oán hận v.v… đều không có huống là có sự bất thiện.

Kinh Di Đà dạy: “Kỳ Phật quốc độ, thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thực! Thị chư chúng điểu giai thị A Di Đà Phật dục linh pháp âm tuyên lưu biến hóa sở tác” (Cõi nước Phật đó còn không có cái tên ác đạo, huống là thật có! Các loài chim ấy đều do A Di Đà Phật vì muốn khiến cho pháp âm được tuyên lưu nên biến hiện ra). Kinh còn dạy: “Nhữ vật vị thử điểu thực thị tội báo sở sanh” (Ông chớ cho rằng những loài chim ấy thật sự do tội báo sinh ra), đã không phải do tội báo sinh ra thì những tên gọi như bạch hạc, khổng tước, anh võ v.v… chỉ là giả danh. Các loài chim ấy đều từ tánh đức của Như Lai hóa hiện, nên tên gọi của chúng cũng biểu thị tánh đức của Như Lai; đó chính là mỹ hiệu, chớ nên bảo là ác danh.

– Phật A Di Đà vì sao phải biến hóa nhiều thứ đến như vậy?

– Vì Bồ Tát ở thế giới Cực Lạc đều là chúng sinh trong lục đạo từ mười phương thế giới đến, nên tập khí phiền não trong tâm họ vẫn chưa đoạn! Để hóa giải những tập khí, phiền não trong họ, nên Phật A Di Đà mới có nhiều biến hóa tạo tác như vậy. Đây là theo quan điểm của Hòa Thượng Tịnh Không.

Nên nhớ, những biến hóa này, mỗi người tiếp xúc đều không như nhau. Chẳng hạn như khi chúng ta tham quan du lịch, nhiều người cùng ở một nơi, nhưng cảm xúc của mỗi người đều không giống nhau; đấy là do cá tính, trình độ văn hóa, sở thích mỗi người có khác nhau. Trong Phật pháp, gọi đó là căn tánh khác biệt của mỗi cá nhân. Hơn nữa, ở thế giới Cực Lạc, đúng như “Phẩm Phổ Môn” nói: Đáng dùng thân gì để độ thì hiện ra thân đó, mà vì đó nói pháp. Có loại chúng sinh khi nhìn thấy Phật, cảm giác rất bị câu thúc, không dám buông lung, nhất định phải rất qui củ, nếu có thể ngồi dưới bóng cây nghe chim nói pháp, họ có thể được cảm giác rất tự tại mà không bị câu thúc. A Di Đà Phật rất từ bi, mãn cái nguyện này của họ.

Ở thế giới Cực Lạc, Phật nói pháp, Bồ Tát nói pháp, bạn lành nói pháp, bao gồm tất cả hữu tình, vô tình thảy đều nói pháp; không những thế mà còn ngày đêm không gián đoạn. Ở cõi ấy mỗi sắc, mỗi hương, mỗi hạt bụi, mỗi danh từ không thứ nào chẳng là Trung Đạo, đều là toàn thể đại dụng của pháp giới chẳng thể nghĩ bàn! Thế giới Tây Phương Cực Lạc tuổi thọ dài lâu nên một đời nhất định thành tựu.

Chúng ta tu học Phật, dù học bất cứ pháp môn nào, mục tiêu hướng đến vẫn là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh tức là tâm đã hoàn toàn buông bỏ vọng tưởng, phân biệt chấp trước. Trước khi được Phật tiếp dẫn về Tây Phương, chúng ta ngay đây phải triệt để đạt đến tâm thanh tịnh này. “Tùy kỳ tâm tịnh, tức Phật độ tịnh”, nương  vào tâm thanh tịnh này chính là cõi Phật. Phật đó chính là “Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Câu này chớ hiểu lầm cho rằng: Bình thường chúng ta nghĩ thiện, làm thiện, biết niệm Phật là tâm Phật rồi. Xin thưa: Tâm đó chỉ mới là tâm thiện, chưa phải là tâm Phật. Tâm Phật chủ yếu là tâm phải thanh tịnh, trong sạch, không nhiễm một trần.

Người tu hành dù bị người khác vũ nhục, hãm hại, trong tâm chẳng những không oán hận, phiền não, trái lại còn sinh tâm cảm ân. Vì sao? Vì họ tiêu nghiệp cho ta! Ta cảm kích còn không kịp, sao có thể khởi niệm bất thiện đối với người?! Cho nên, người chân thật tu hành, bất luận hoàn cảnh thuận hay nghịch; thiện duyên hay ác duyên đều giúp ta tu tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh rồi thì cảnh giới liền chuyển, sẽ không còn bị ngoại duyên chi phối, chính mình được thiền định, được nhất tâm, đạo nghiệp ngay đời này nhất định thành tựu.

Phải xem thế gian này như một vở kịch dài hiển hiện trên màn hình. Nhân vật và màn hình là một chẳng phải hai. Làm thế nào có thể từ âm thanh sắc tướng của nhân vật đó mà thấy được màn hình, đó chính là thấy được tự tánh. Nếu mãi miết, dong ruỗi theo những âm thanh, sắc tướng trên màn hình mà quên đi màn hình, đó chính là mê!

Thực tế, Ti-vi không phải là thứ xấu, nếu thực sự biết xem, hiểu được đạo lý này, xem truyền hình cũng có thể khai ngộ, trực nhận ra rằng: “Tánh tướng nhất như! Tánh tướng bất nhị!” Cuộc sống hiện thực chính là sắc tướng, là pháp tướng. Pháp tướng đều sinh diệt! Đều là giả tướng! Tắt truyền hình, cảnh tượng tuyệt nhiên biến mất nhưng màn hình vẫn còn, có khác nào như tự tánh là vĩnh hằng bất biến, nó là “năng hiện”; còn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đó là “năng biến”.

Nếu chúng ta buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì tất cả hiện tướng đều sẽ bất biến. Trong cõi Thật Báo Trang Nghiêm bất biến, tuy bất biến nhưng họ đồng thời có thể “hằng thuận chúng sinh, tùy hỉ công đức”, có thể dùng ba mươi hai loại ứng thân khác nhau: Đồng thời đồng xứ; đồng thời dị xứ, đồng xứ dị thời; năng hiện vô lượng vô biên sắc tướng, giúp tất cả chúng sinh phá mê khai ngộ.

Nếu đem cuộc sống hiện thực xem như hình ảnh trên màn hình, thì đây là một phương pháp tu hành rất tốt. Hình ảnh trên màn hình, chúng ta biết: Có thể thưởng thức nhưng không thể nắm bắt được! Cùng một đạo lý, cuộc sống hiện thực, chúng ta có thể thọ dụng, có thể thưởng thức nhưng không nên có ý niệm khống chế hoặc chiếm hữu, vì nó là sát-na sinh diệt, không thể có được! Phải xem nhân sinh, vũ trụ như hình ảnh trên màn hình, đều là giả không phải thật! Thế nào cũng được! Người người đều là người tốt, việc việc đều là việc lành; chỉ cần không phân biệt, không chấp trước. Họ ở đó đóng kịch, diễn vai chánh diện rất hay, rất tốt! Diễn vai phản diện, diễn A Tỳ địa ngục, cũng rất giống, rất hay! Ta đứng ngoài là người xem kịch, không phải người diễn!

– Khi mê thì sao?

– Mê rồi thì chạy đến đó mà diễn kịch! Vậy thì rất khổ! Giác ngộ liền trở thành người xem kịch. Không còn là người diễn kịch nữa.

Cho nên, chư Phật, Bồ Tát là người đứng ngoài xem kịch. Lục đạo chúng sinh là người biểu diễn trên vũ đài! Ngày ngày xem Ti-vi, phải hiểu được nên xem như vậy thì bạn là người biết xem rồi. Biết thì khai ngộ! Không biết thì mê lầm!

Chúng ta đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, tập khí trong ta vẫn chưa đoạn. Tập khí gì vậy? Nghe pháp! Đây là tập khí tốt! Gọi là “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn”, chúng ta đến đó dùng toàn bộ thời gian, tinh lực của mình mà học tập Phật pháp. Nhờ nghe pháp mới có thể đạt đến giác ngộ triệt để. Đây là tùy thuận theo căn tánh của chúng sinh, A Di Đà Phật dùng phương pháp biến hóa này không ngoài mục đích giúp chúng sinh giác ngộ, nâng cao cảnh giới.

Sở hữu chúng sinh, sinh ngã quốc giả, giai đồng nhất tâm trụ ư Định Tụ”. (Tất cả chúng sinh, sinh trong cõi tôi đều đồng một tâm, trụ trong Định Tụ): Đây là nguyện thứ hai mươi chín “trụ Chánh Định Tụ”. Nguyện này là kết quả của nguyện thứ năm “thân vô sai biệt”. Sanh trong cõi ấy, hình mạo đều giống nhau. Hình mạo đã giống, tâm cũng giống hệt. Tâm đã đồng nhất nên cùng trụ trong “Định Tụ”. “Nhất tâm” là nhân, “Định Tụ” là quả. Chúng ta niệm Phật mục đích đạt đến “nhất tâm bất loạn”, đây là yêu cầu của người niệm Phật.

Nhất tâm” có cạn, sâu khác nhau. Công phu sâu là “lý nhất tâm bất loạn”, công phụ cạn là “sự nhất tâm bất loạn”. Không luận là “sự” hay “”; mỗi người có cạn, sâu, đẳng cấp khác nhau. Nói đến “nhất tâm”, có đồng tu e ngại không làm được sẽ không có thành tựu, phải tìm pháp môn khác, vậy là sai lầm! “Nhất tâm” sâu, chúng ta không có hy vọng, nhưng “nhất tâm” cạn rất có hy vọng. “Nhất tâm” cạn là “công phu thành khối”, phải lấy cái này làm tiêu chuẩn, mọi đồng tu niệm Phật đều có thể làm đến được. Vấn đề chỉ e bạn không chịu làm! Nếu chịu làm thì không thể không làm được.

Người niệm Phật ở mọi lúc, mọi nơi, trong tâm luôn có câu A Di Đà Phật, ngoài A Di Đà Phật ra, bất cứ thứ gì cũng không có, đây gọi là “công phu thành khối”, cầu nguyện vãng sinh chắc chắn được sinh. Nếu muốn phút lâm chung nắm chắc được phần, lúc bình thường phải tập buông xả. Đối với thế duyên hay pháp duyên phải tập xem nhẹ, không nên quá chấp trước. Thế nào cũng tốt! Việc tốt rất tốt! Việc không tốt cũng tốt! Người tốt rất tốt! Người không tốt cũng tốt! Tâm bạn mới thanh tịnh. Trong tất cả cảnh duyên, chân thật không khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước mới dễ dàng được “nhất tâm”.

Định Tụ” ở đây là thuật ngữ trong nhà Phật, có nghĩa là “Chánh Định Tụ”, là một trong Tam Tụ. “Tụ” có nghĩa là những gì giống nhau được gom lại.

Cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa đều nói đến Tam Tụ, nhưng có nhiều thuyết:

1.  Thuyết Thứ Nhất

1. Chánh Định Tụ: Gồm những người tâm địa thanh tịnh, nhất định chứng ngộ.
2. Tà Định Tụ: Gồm những kẻ chỉ biết tự tư tự lợi, chỉ vì một tập đoàn, họ hoàn toàn không chứng ngộ.
3. Bất Định Tụ: Thành phần này chiếm đại đa số. Nếu hữu duyên được thân cận thiện tri thức thì họ chứng ngộ. Nếu vô duyên hoặc thân cận tà tri thức, đi theo người sai liền thành Tà Định Tụ thì không chứng ngộ. Cũng thế, nếu giáo dục xã hội tốt, họ sẽ trở thành người tốt; nếu giáo dục xã hội xấu, họ sẽ trở thành người xấu.

– Giáo dục xã hội hiện tại ra sao? Ai là người đóng vai trò?

– Truyền thông đang làm! Mạng Internet, truyền hình, báo chí v.v… đang làm! Họ đăng tải những gì thì bạn đều biết. Đài Loan trước đây đề xướng phục hưng văn hóa truyền thống. Có người hỏi thầy Phương:

– Phải bắt đầu từ đâu?

– Thầy Phương nói: Trước tiên phải đem truyền hình và những truyền bá của vô tuyến điện, tất cả đều phải dừng lại hết, báo chí phải đóng cửa, tạp chí phải ngăn cấm. Họ nói:

– Điều này không làm được! Thầy Phương mỉm cười nói:

– Những thứ này đang ngày ngày phá hoại văn hóa truyền thống. Chỉ cần những thứ này còn, văn hóa truyền thống không thể nào phục hưng được!

Thầy nói rất hay! Bạn ngày ngày xem những thứ này, làm sao không phiền não! Làm sao tâm không loạn! Làm sao được “Chánh Định Tụ”!

2. Thuyết Thứ Hai

Sách Hội Sớ nói: “Định Tụ nói đầy đủ là Chánh Định Tụ, cũng gọi là Bất Thoái Chuyển, tức là Bồ Tát A Bệ Bạt Trí. Vì sao gọi là Chánh Định? Phàm hết thảy chúng sinh tuy căn tánh muôn phần sai khác, nhưng nếu phân loại thì chẳng ngoài ba thứ: Ắt đọa trong sáu đường là Tà Định, nếu thăng trầm tùy duyên thì là Bất Định, quyết định đạt đến Bồ Đề thì gọi là Chánh Định.”.

Hòa Thượng Tịnh Không giải thích thêm phần này như sau: Tà Định nói một cách đơn giản là vì chính mình. Họ chấp trước thân này là ta, đều là tự tư tự lợi, truy cầu danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần, những thứ này trong lục đạo mới có. “Tứ Thánh Pháp giới” đã phá được ngã chấp (phá “Thân kiến” là Tu-đà-hoàn; phá Ngã chấp là A-la-hán), nhưng vẫn còn Pháp chấp, cho nên chưa ra khỏi Thập Pháp giới. Cả hai loại Ngã chấp và Pháp chấp chưa đoạn, nên gọi là Tà Định Tụ. Chánh Định là thú hướng Đại Bồ Đề, thú hướng Đại Niết Bàn. Nếu thật sự là một tâm một ý chuyên cầu thế giới Cực Lạc, tâm này là Chánh Định Tụ. Vì sao? Sinh đến Tây Phương Cực Lạc nhất định chứng được Vô Thượng Chánh Giác, tức là thành Phật.

– Hiện tại tâm chúng ta định con đường nào?

– Cầu sinh Tây Phương Cực Lạc, con đường này là Phật đạo. Chánh Định Tụ hiện tiền chính là chân tín, thật sự muốn vãng sinh, thật niệm câu “A Di Đà Phật”, quyết không có hoài nghi, không có tạp niệm, loại người này thì quá ít. Nếu như không phải ngày ngày đọc kinh, nghe kinh thì làm gì có Chánh Định! Bồ Tát Đại Thế Chí dạy chúng ta “Đô nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục”. “Đô nhiếp sáu căn” chính là ở đây nói Chánh Định Tụ, cũng chính là vạn duyên buông bỏ, trong tâm chỉ duy nhất có A Di Đà Phật.

3. Thuyết Thứ Ba

Khởi Tín Luận cho rằng phàm phu đến hạng chưa đạt bậc Thập Tín, chẳng tin nhân quả là Tà Định. Từ Thập Trụ trở lên là Chánh Định, hạng Thập Tín là Bất Định Tánh. Thuyết này là của Đại Thừa Phật Giáo.

Phẩm hai mươi hai “Quyết chứng cực quả” của kinh này nói: “Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh, giai tất trụ ư Chánh Định chi tụ, quyết định chứng ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân hoặc đã sanh, hoặc sẽ sanh thảy đều trụ trong Chánh Định Tụ (câu này trích từ bản Đường dịch), quyết định chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).

Đây rõ ràng là được sinh về cõi kia liền nhập vào Chánh Định Tụ, ắt chứng quả Đại Niết Bàn hiển thị sự bất khả tư nghị của Di Đà đại nguyện đến mức độ cùng cực. Chẳng những người đã vãng sinh Cực Lạc trụ trong Chánh Định Tụ quyết chứng Vô Thượng Bồ Đề mà hết thảy những người cầu vãng sinh Cực Lạc trong hiện tại hoặc trong tương lai, chỉ cần “phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm” thì sẽ tương ứng với bổn nguyện của Phật A Di Đà, dẫu ở trong cõi uế độ vẫn còn là phàm phu đầy dẫy, nhưng hễ vãng sinh thì ắt trụ trong Chánh Định Tụ, quyết chứng Bồ Đề. Đây thật là điều siêu tình ly kiến, chẳng thể nghĩ bàn, dứt bặt đối đải một cách viên dung, phương tiện rốt ráo.

Sách Bình Giải viết: “Chánh Định Tụ trong cõi này (Sa Bà) là mật ích (lợi ích ngầm), Chánh Định Tụ trong cõi kia là hiển ích (lợi ích hiển nhiên)”. Ngay trong Kinh Tiểu Bổn cũng có đoạn tương hợp với giáo thuyết này, Kinh chép: “Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả, thị chư nhân đẳng, giai đắc Bất Thoái Chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. (Nếu có kẻ đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh cõi A Di Đà Phật thì những người ấy đều đắc Bất Thoái Chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

Rõ ràng đại nguyện “Trụ Chánh Định Tụ” của Phật A Di Đà tạo lợi ích cho cả nhân dân cõi Cực Lạc lẫn chúng sinh cõi Sa Bà, nên ngài Thiện Đạo nói nguyện này còn ẩn tàng mật nghĩa: Ngay trong hiện đời chứng được Bất Thoái. Kinh nói “nhược đương sinh” (hoặc sẽ sinh) là chỉ người đang cầu vãng sinh cũng được nhập Chánh Định Tụ. Đây là một thuyết rất kỳ đặc thật tương đồng với huyền chỉ của đoạn Kinh Vô Lượng Thọ đây. Ngài Thiện Đạo lại nói: “Chẳng đoạn phiền não mà đắc Niết Bàn, điều này thể hiện tánh đức tự nhiên của cõi An Lạc vậy.”

Long Thọ Đại Sĩ cũng nói: “Dùng nhân duyên tin Phật nguyện sinh Tịnh Độ, khởi tâm lập đức, tu các hạnh nghiệp. Do nguyện lực của Phật nên liền vãng sinh. Do Phật lực gìn giữ nên liền nhập Đại Thừa Chánh Định Tụ. Chánh Định Tụ chính là địa vị A Bệ Bạt Trí Bất Thoái vậy”.

Khởi tâm lập đức”: “lập đức” đây chính là “phát tâm Bồ Đề”. Tâm Bồ Đề là tâm giác ngộ. Dùng tâm giác ngộ này “tu các hạnh nghiệp”. Ba nghiệp thân, khẩu, ý đều phải tùy thuận  tánh  đức, đó chính là tu hành. Nói cách khác, ba nghiệp: “thân-khẩu-ý” toàn là A Di Đà Phật: Tâm là A Di Đà Phật, miệng là A Di Đà Phật, hành vi là A Di Đà Phật.

– Điều này phải tu như thế nào?

– Xem tất cả mọi người đều là Phật A Di Đà; nhìn tất cả việc, tất cả vạn vật đều là Phật A Di Đà. Bạn thành công rồi! Tâm bạn đã đạt đến thuần tịnh, thuần thiện rồi!

Cho nên, chúng ta đối với tất cả chúng sinh, đối với sơn hà đại địa đều khởi tâm cung kính, tâm cảm ân, người như vậy chắc chắn được vãng sinh. Ở đây cũng tiết lộ một tin tức cho chúng ta: Người niệm Phật tâm phải Định Trụ, nếu “ba tâm hai ý”, vọng niệm dẫy đầy thời không được, đó là tâm bất định. Tâm bất định cũng có thể vãng sinh, nhưng phải xem nhân duyên lúc bạn lâm chung như thế nào. Nếu lúc lâm chung có người nhắc nhở, niệm cuối cùng của bạn là A Di Đà Phật thì dựa vào điều này. Nếu tự thân mình có Chánh Định Tụ, thì không cần phải nhờ người khác, đây là cách an toàn nhất chỉ dựa vào bản thân, không dựa vào người. Hạng người này có rất nhiều, họ biết trước giờ ra đi, ra đi rất tự tại.

Vĩnh ly nhiệt não, tâm đắc thanh lương. Sở thọ khoái lạc do như Lậu Tận tỳ kheo” (Vĩnh viễn xa lìa nhiệt não, tâm được thanh lương, hưởng thọ khoái lạc như Lậu Tận tỳ kheo), đây chính là nguyện thứ ba mươi “Lạc như Lậu Tận” (Vui như Lậu Tận).

Nhiệt não” nghĩa là thân nhiệt, tâm não. Thân có khổ thọ, bị sự khổ bức bách, tâm có phiền muộn nên gọi là “nhiệt não”. Phẩm Tín Giải của Kinh Pháp Hoa bảo: “Dĩ tam khổ cố, ư sinh tử trung, thọ chư nhiệt não” (Do vì ba khổ nên ở trong sinh tử, chịu các nhiệt não). Nay trong cõi Cực Lạc “vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc” (không có các khổ, chỉ hưởng các điều vui) nên vĩnh viễn xa lìa nhiệt não.

Thanh lương” là thanh tịnh, mát mẽ; trái nghĩa với “nhiệt não”. “Sở thọ khoái lạc”, đây là nói cảm thọ của người vãng sanh đến thế giới Cực Lạc. Cảm thọ này chúng ta không cách chi tưởng tượng ra được. Ngày nay, chúng ta gọi là “lạc” đó chỉ là “lạc” trong “khổ lạc”; cái “vui” trong “khổ vui”, không phải là “chân lạc” (cái vui chân thật). Cái “chân lạc” của người ở thế giới Cực Lạc mới thật là thuần vui, không có sự khổ. Vạn nhất không nên hiểu lầm; thế giới Cực Lạc rất vui, đến đó để hưởng thụ thì bạn sai rồi! Cái “lạc” mà bạn nghĩ vẫn là phiền não! Bạn đem thế giới Cực Lạc xem thành thế giới phàm phu thì thật sai lầm!

Cho nên, câu kế tiếp “do như Lậu Tận tỳ kheo”. Chữ “Lậu” ở đây có nghĩa là rò rỉ, rịn chảy. “Lậu” là tên khác của phiền não. Phiền não hiện hành khiến tâm luôn bị rò rỉ, tiêu tán đi trí tuệ, công đức của chính mình, khác nào như tách nước có lỗ thủng, nước đựng bên trong chắc chắn bị rò rỉ, rịn chảy tiêu mất, tách nước đó không còn hữu dụng. Phiền não giống như lỗ thủng của sáu căn, khiến công đức tự tánh của chúng ta dần dà tiêu hết, đây gọi là “lậu”, chỉ có “vô lậu” là hoàn hảo. Dùng thánh trí để đoạn sạch phiền não, ấy gọi là “Lậu Tận”.

Trong Lục Thông, năm thứ đầu là Hữu Lậu Thông, chỉ riêng Lậu Tận Thông là Vô Lậu Thông. Tỳ kheo đoạn sạch phiền não được xưng là Lậu Tận tỳ kheo hay Vô Lậu tỳ kheo, đây tức là bậc Tiểu thừa A-la-hán.

Theo Hòa Thượng Tịnh Không, trong Phật pháp Đại thừa nói Pháp Thân, Bát Nhã và Giải Thoát là ba đức; A-la-hán chỉ mới chứng được phần Giải Thoát, còn Pháp Thân và Bát Nhã vẫn chưa chứng đắc, nên chỉ là Tiểu thánh. Vô Lậu đề cập ở đây là chỉ cho bậc Đại thánh, tức là Pháp Thân Bồ Tát, bởi họ đã đoạn hết “Kiến Tư phiền não”, “Trần Sa phiền não”, “Vô Minh phiền não”, mới thật là Lậu Tận, thật sự chuyển phiền não thành Bồ Đề.

Trên kinh Đại thừa chúng ta thường thấy danh từ “Đại tỳ kheo”. Đại tỳ kheo là Vô Lậu Đại thừa, địa vị của họ là Bồ Tát Pháp Vân Địa, thông thường chúng ta gọi là Thập Địa Bồ Tát.

Chỗ này Đại Sư Thanh Lương cũng có khai thị, ngài nói: Pháp giới không chướng ngại, đạo lý của vạn sự vạn vật, thế và xuất thế gian hoàn toàn thông đạt, đây là “lý vô ngại”. Đối với sự tướng vô lượng, vô biên của thế và xuất thế gian các ngài đều tường tận viên mãn. Đây là “sự vô ngại”. Vào sâu hơn một tầng là “lý” cùng “sự” đều không có chướng ngại: Lý không ngại sự, sự không ngại lý, đây là “lý, sự vô ngại”. Đạt đến thực tiễn thọ dụng vào trong đời sống, đây chính là “sự sự vô ngại”.

Tứ Thánh: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật trong mười pháp giới chỉ có thể đạt đến “lý, sự vô ngại”, vẫn chưa thể “sự sự vô ngại” nên thọ lạc của các ngài chưa phải là Cực Lạc (cái vui cùng tột); “Sự sự vô ngại” mới là Cực Lạc. Cho nên, Pháp Thân Đại Sĩ đạt đến “Sự sự vô ngại”, cảnh giới của các ngài mới gọi là Cực Lạc, đây là Lậu Tận Tỳ Kheo. Thử hỏi:

– Cảnh giới của Pháp Thân Đại Sĩ, chúng ta một đời có thể đạt đến hay không?

– Đáp án là khẳng định được!

Phật nói pháp không vọng ngữ, như Kinh Kim Cang nói: “Như thị chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuồng ngữ giả.” Dựa vào lời nói này, chúng ta có thể thể hội được: Phàm sự việc nào ở thế gian chúng ta không làm được, chắc chắn Phật không nói. Nếu Phật nói thì đó là cuồng vọng ngữ, chúng ta không làm được! Vấn đề là chúng ta có chịu làm hay không?

– Làm bằng cách nào?

– Y theo giáo huấn trên Kinh Kim Cang mà làm, bạn liền đạt đến được.

Tông chỉ của Kinh Kim Cang là “lìa tướng tu thiện”. Lìa tất cả tướng, tu tất cả thiện, liền đạt đến: “Sự sự vô ngại”, đây đích thật là “chân lạc” của Pháp Thân Đại Sĩ.

Theo chú giải của cụ Hoàng Niệm Tổ: “Pháp Tạng Bồ Tát nguyện chúng sinh trong cõi ngài hưởng vui vô cực, nhưng với những sự vui sướng ấy, tâm chẳng chấp trước, như bậc A-la-hán, nên bảo là “do như Lậu Tận tỳ kheo” (giống như Lậu Tận tỳ kheo). Dùng hình ảnh này để ví họ hưởng thọ các sự vui nhưng không nghĩ là vui”.

Theo Hòa Thượng Tịnh Không: Chúng ta ngày nay cảm thọ khoái lạc là có nhiễm trước nên sinh phiền não. Cổ nhân nói: “Cực lạc sanh bi”. Hưởng thụ của người ở thế giới Cực Lạc không sanh bi, không biến thành bi ai, so với thế giới này của chúng ta điểm này rất khác. Thế giới của chúng ta hưởng lạc quá đà, chắc chắn là bi ai xuất hiện! Ví như bạn ăn cơm, ăn một bát rất vui, còn muốn ăn thêm một bát. Nhưng nếu bảo ăn không ngừng hai mươi bát, ba mươi bát thì bạn khổ rồi! Cho nên “lạc” quá thành bi ai!

Người ở thế giới Cực Lạc, ngày ngày tiếp thu giáo huấn của Phật A Di Đà, cũng tiếp thu sự gia trì của mười phương chư Phật, phước báo này quá lớn! Khiến tâm họ luôn sinh trí tuệ không sinh phiền não; niệm niệm đều tương ứng với tánh đức. Đương nhiên họ biết “phàm có hình tướng đều là hư vọng” nên không chấp trước, không phân biệt; “khổ, lạc” nhị biên đều bất khả đắc, đó mới là “Chân lạc”.

Chuyện “Phật sống Kim Sơn”; lão Pháp sư Lạc Quán, tôi đã từng gặp mặt ngài. Ngài và Phật sống Kim Sơn từng sống với nhau bốn tháng. Có lần dùng cơm chung với mọi người, tín đồ rất nhiệt tâm và rất ngưỡng mộ Phật sống Kim Sơn, mỗi người đơm một bát cơm dâng lên ngài, ngài đều hoan hỉ ăn hết. Trong chốc lát ăn đến hai mươi bát! Pháp sư Lạc Quán ngồi bên cạnh thấy vậy liền nói.

– Quý vị chớ hại Pháp sư, sao có thể để ngài ăn nhiều đến như vậy!

Phật sống nói với Pháp sư Lạc Quán:

– Bất tăng, bất giảm! Không lo việc gì, lo lắng gì chứ! Không sao!

– Ở đây nói lên điều gì?

– Ngài hiểu được đạo lý: Ăn nhiều cũng như không ăn! Mười  ngày nửa tháng không ăn cũng như ăn rồi.

Thật là kỳ diệu! Ngài đã đạt đến cảnh giới này! Phàm phu chúng ta xem thấy rất kinh ngạc, nhưng đối với ngài là việc rất bình thường. Đây chính là “Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh”, ngài không chấp tướng, chúng ta đã chấp tướng rồi!

Không chấp trước, nên nói “lạc như Lậu Tận tỳ kheo” Điều này ví cho “thọ lạc” mà không có “tưởng lạc”; “khổ, lạc” hai bên đều không chấp trước; đây mới là “Chân lạc”. “Khổ, lạc” chỉ là tương đối, nó không phải là “chân lạc”; lìa khỏi tương đối chính là lìa khỏi đối lập, mới thực sự là đắc lực. Cho nên “lạc” của chư Phật, Bồ Tát không phải là “lạc” của “khổ, lạc” thế gian, cũng không phải từ kích thích bên ngoài đến mà do công phu nội chứng. Hỉ duyệt là tánh đức, tánh đức của tự tánh không ngừng tuôn chảy nên thọ lạc không mất.

Đại sư Nghĩa Tịch gọi nguyện này là nguyện “Thọ lạc vô nhiễm” (hưởng vui không nhiễm). Điều này nói rất hay! Thọ khổ thì sao? Cũng vô nhiễm! Không động tâm, không khởi tâm động niệm, đây chính là “Chân lạc”.

Pháp sư Cảnh Hưng gọi là “Thọ lạc vô thất nguyện” (Hưởng vui không lầm lỗi), điều này cũng rất tốt!