Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

VÔ NHẤT ĐẠI SƯ THÍCH THIỀN TÂM MỘT CAO TĂNG CẬN ĐẠI

Soạn Giả: Ưu Bà Di, Bồ Tát Giới BẢO ĐĂNG
Giảo Chánh: Sa môn THÍCH HẢI QUANG
Xuất Bản: Pháp Hoa Tự, Tucson-Arizona

 

PHẦN VII

NHỮNG THỜI-GIAN SAU CÙNG

A. LỜI DI-CHÚC CUỐI

Từ sau năm 1989 tức là năm mà ngài đã báo đáp xong bổn phận làm con đối với thân mẫu rồi thì Hòa thượng bắt đầu lo cho việc hậu sự (ngày sau) của mình.

Bởi vì ngài biết rằng sau đây không bao lâu nữa mình cũng sẽ giã biệt cõi đời này. Ngài lần tay tính lại kể từ khi mình về lại trụ xứ Đại Ninh này cho đến nay, thắm thoát mà đã 21 năm qua rồi(1968-1989). Trong bài kệ tiên tri trước kia, đức Chuẩn Đề Bồ Tát có dạy rằng: Ngọt chua hai bốn chẵn …

Mà nay ta đã trải qua được 21 năm (ngọt chua) rồi, chỉ còn vỏn vẹn lại có thêm 3 năm “cay đắng mùi đời” nữa mà thôi. Từ đó trở đi, hơn bao giờ hết ngài tạ tuyệt tất cả trần duyên, bế quan và nhất tâm niệm Phật. Kể từ đây hàng tăng ni học chúng cùng các môn đồ, pháp quyến không còn được dịp gặp lại “từ dung” nữa, mọi người đều nôn nao, mòn mỏi và hết dạ trông chờ, hy vọng rằng một ngày nào kia không xa lắm sẽ lại tiếp tục được diện kiến và bái yết cha già cùng nghe những lời pháp nhủ đầy đạo vị của ngài dạy dỗ như xưa, sau khi ngài ra thất.

Trong hàng từ chúng vì có nhiều người, nhiều bụng dạ khác nhau nên đương nhiên là cũng có nhiều ý kiến thương ghét bất đồng, hoặc khen, hoặc chê hoặc là phiền trách ở nơi cố Hòa thượng, người khen thì nói rằng: Ông già (danh từ miền Nam dùng để gọi một bậc cha già đáng kính và có tánh cách thân thiện) là một người phi thường, tuyệt diệu, làm một việc mà không ai làm nổi, ấy là bó chân trong một gian thất nhỏ chưa đầy 20 thước vuông suốt mười mấy năm trời, chuyên tâm niệm Phật, không chừng ổng đã chứng được “Niệm Phật tam muội” rồi mà không ai biết đó, ổng dám sanh về Kim đài thượng phẩm lắm chớ không phải chơi đâu …

Người chê thì nói rằng: Ổng trốn tránh trách nhiệm thì có, chỉ biết lo an thân mình mà thôi còn sống chết mặc bây chớ có hay ho gì đâu. Nhập thất giả đó!!

Kẻ phiền trách thì nói: Ổng già chỉ biết lo tu giải thoát cho riêng mình mà thôi, mười mấy năm nay ổng bỏ Phật tử, đệ tử “cù bơ cù bất” sống vất vơ, vất vưởng trong các cảnh khổ sở hiện nay như đàn con mồ côi chết cha, chết mẹ vậy, nghĩ đến thiệt hổng thấy phục ổng chút nào hết!

Các lời khen, chê, phiền trách đại loại như thế rất nhiều không kể xiết được. Nhưng, như một ngọn núi to đứng vững vàng giữa cơn giông tố, thì một bậc đại sư phi thường như cố Hòa thượng vậy đối với các lời khen chê … kia nào có làm cho ngài buồn, vui hay đổi thay chí nguyện bao giờ. Việc ấy đã được chứng minh qua ý của đoạn thơ sau:

Ẩn tu quyết chí gạt trần tình,
Mặc nổi khen chê lẫn bất bình.
Sức yếu phải cam phần kém yếu,
Tình đời ví nhẹ, đạo tâm sinh.
(Ẩn tu ngẩu vịnh)

Lời và ý của ngài thật đã bày tỏ ra rõ ràng như thế bởi một khi đã ẩn tu rồi thì phải quyết tâm gạt bỏ trần tình. Còn nếu không (như vậy), kết quả cũng chỉ là có cái tiếng (ẩn tu) trống không mà thôi, tức là thân thì ở nơi Lan nhã (núi rừng) mà tâm thì vẫn cứ chạy chơi khắp nẻo đông, tây, ruổi dong nơi chốn thế tình của trường đời. Như thế thì dầu cho có ẩn tu đến trọn đời đi chăng nữa, rốt lại cũng chỉ là công “dã tràng xe cát” mà thôi, nào có ích lợi chi đâu cho sự giải thoát của riêng mình. Bởi lẽ nếu như tình đời có nhẹ thì đạo tâm mới được phát sinh – trái lại tức là tình đời quá nặng nề thì đạo tâm phải bị tiêu diệt.

Đó là định luật và cũng là lời dạy răn quý báu của các bậc cổ đức khi xưa để lại cho mình vậy.

Đạo An tổ sư có bài kệ rằng:

Ông đã xuất gia,
Xa lìa mẹ cha.
Cạo tóc hủy hình,
Khoác mảnh áo đà.
Ngày từ thân thuộc,
Lớn nhỏ lệ an.
Diệt tình vui đạo,
Chí cao thiên hà,
Học nghiệp cho mình.
Nếu còn đem tâm,
Theo đường sắc thinh.
Lửng lơ năm tháng,
Đạo nghiệp không thành.
Tu hành như thế,
Luống uổng kiếp sinh.
Ông đã xuất gia,
Nhẹ tình quân thân.
Phải nên cố gắng,
Chí nhìn thanh vân,
Xa bề danh sắc,
Xa thói phong trần.
Vàng ngọc chẳng quý,
Duy đạo là hơn.
Tu đức độ mình,
Độ khắp thế nhân.
Nếu như cải tiết,
Theo lối phong trần.
Ngồi chưa ấm chiếu,
Chạy khắp tây, đông.
Thân như sai dịch,
Danh lợi mê lòng.
Đức hạnh ngày tổn,
Tiếng xấu càng sinh.
Thầy bạn hổ thẹn,
Người tục cười khinh.
Tu hành như thế,
Luống thêm nhục mình.
Ông đã xuất gia,
Tối hoặc thông minh.
Bậc thượng thiền quân,
Bậc trung tụng kinh.
Bậc hạ gieo phước,
Chùa tháp kinh dinh…
Đâu nên hôm sớm,
Một việc không thành,
Tu hành như thế,
Uổng một kiếp sinh.
Mấy lời khuyên nhắn,
Chớ nên phụ mình…

Vì đã biết rõ các lời khuyên nhắc của tổ sư như vậy và vì chí cũng đã quyết tâm cầu giải thoát như vậy cho nên kể từ khi phát tâm tu học (1945) cho đến nay, cố Hòa thượng Thích Thiền Tâm, Vô nhất đại sư, đã hành xử sự nghiệp tu tập của mình hoàn toàn khác biệt với những bạn đồng song, việc này từ lâu trong giới xuất gia, tại gia ai nấy cũng đều thấy rõ, ấy là:

– Trọn đời tu không chính dáng gì đến chính trị …

– Tu hành chỉ cầu giải thoát, ai gọi là cũng được, ai kêu bằng ông đạo cũng xong.

– Không mượn danh Tam bảo để tổ chức làm tiền, quyên góp …

– Dứt cả sắc, tài, danh, lợi, thị phi, mặc ai dèm siểm, đàm tiếu, chê bai.

(Thích Thiền Tâm  Lời di chúc tối hậu  sẽ in đầy đủ ở phần sau).

Do đó cho nên trên đường tu tập lúc nào cố Hòa thượng cũng luôn luôn “Hạ thủ công phu” chớ không chịu để phí thời giờ trôi qua trong tháng ngày quên lãng. (Chính vì vậy mà ngài mới về vùng lan nhã Phú An này hơn 20 năm trước cho đến nay (1989) và cũng kể từ đây 1989) Cho mãi đến khi chấm dứt cuộc đời  1922).

Kinh dạy:

Thân tứ đại vô thường, có sanh tất phải có già, bệnh, chết, không ai tránh khỏi – cho chí đến thân kim cương 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình của đức Thế Tôn mà cũng còn phải ở vào trong cảnh:

“Ta la thọ hạ – Đại bát Niết bàn” thay, huống chi nhục thân máu mạch, xương thịt của chúng sanh và riêng cho Hòa thượng Thích Thiền Tâm ư? Cho nên từ năm giữa 1989 trở đi, thân tứ đại của ngài bắt đầu vương mang ít bệnh, khi đau, khi mạnh, khi ốm, khi gầy. Bởi không như các quý Thầy khác ở chốn thị thành hay chùa to, đình rộng, có đầy đủ Phật tử hầu hạ, hôm sớm phụng cung, mà chỉ là một sơn tăng sống đời khắc khổ, ẩn tu nơi chốn núi rừng, cơm rau đạm bạc, thiếu thốn tứ sự cùng dinh dưỡng, thuốc men, thêm vào đó là vì đã trải qua mười mấy năm bế quan, nhập thất (kín) để tịnh tu, không thường xuyên đi lại bên ngoài, nên bịnh của ngài chỉ dần tăng mà thôi chớ không thấy có mòi thuyên giảm.

Việc thuốc thang điều trị thì phần lớn là do nơi sức tự lực phấn chấn để vượt qua bằng ý chí cương quyết và sức tâm lực của chính ngài – phụ trợ thêm vào đó là một số ít thuốc thang (Tây y) được một người cháu gái (gọi bằng chú ruột) từ bên Pháp gởi về, dựa vào số thuốc đó mà gởi tạm kiếp sống thừa để được nhất tâm tu niệm thêm trong những tháng năm cuối cùng của cuộc đời mình trên cõi thế. Ấy vậy mà ngài vẫn cắn răng, cố gắng khắc phục thân bệnh của mình chớ không tỏ bày ra hay than thở cùng với một ai hết cả.

Thật là cao thưọng vậy thay!

Trưởng tử kiêm thị giả là ni sư Thích nữ Thanh Nguyệt và một số đồ tôn thân cận đã không biết bao nhiêu lần cùng nhau cúi đầu dấu mặt, gạt lệ, khóc thầm, hết lời năn nỉ Hòa thượng xin cho phép đệ tử rước về bệnh viện lớn ở Sài Gòn để điều trị mà ngài vẫn một dạ cương quyết chối từ. Ngài thường bảo:

– Thân tứ đại hôi nhơ, rốt lại cũng về nơi quy tận. Chí của thầy không phải ở việc ham kéo dài mạng sống nơi chốn trần lụy này đâu. Các con phải nên hiểu như vậy.

Và các đệ tử, đồ tôn thân cận chỉ còn có một bề duy nhất là cúi đầu dấu lệ thầm khóc với nhau mà thôi.

Ngày tháng dần trôi qua, từ năm 1990 đến 1991 – bệnh của ngài mỗi lúc càng tăng – cũng như đạo lực của ngài mỗi năm càng tăng thêm tiến vậy. Mặc dù xác thân bị bệnh khổ dày vò, nhưng dung sắc của ngài lúc nào cũng vẫn sáng rực và trí huệ cũng vẫn tăng tiến phi thường.

Có một số ít quý vị tăng, tục duyên may được gặp gỡ cùng ngài vào giai đoạn này, trong khi hầu duyên không một ai dám ngờ và nghĩ rằng ngài đang bị bệnh trầm kha cả. Bởi vì các oai nghi và lễ tiết của ngài lúc nào cũng vẫn điềm đạm, khoan hòa như bình thường. Những lời dạy bảo và khuyên nhắc tu hành của ngài vẫn chí thiết, từ ái như bao giờ, mắt ngài vẫn rực sáng, thần sắc vẫn an nhiên.

Và đây cũng lại là một điều ly kỳ khác nữa của ngài vậy.

Vào khoảng cuối năm 1991 và đầu năm 1992 cơn bệnh của ngài đã có đôi phen nguy cấp, ni sư trưởng tử đã mấy lần lén ngài, cho mời một số bác sĩ từ Đà Lạt xuống và từ Sài Gòn lên (muốn đặt ngài trong thế đã rồi  phải chấp nhận cho bác sĩ khám bệnh), vì đã theo hầu hạ mình (suốt hơn 30 năm) trước sau như một, nên ngài cũng tùy duyên (để cho các bác sĩ khám bệnh) nhưng sau khi khám bệnh xong rồi, tất cả đều đồng thanh nói rằng: không sao tìm ra được căn bệnh của Hòa thượng cả?!?

(Đến đây Bảo Đăng tôi nghĩ rằng chắc có lẽ quý độc giả ai cũng đều tự hỏi hai chữ: Tại sao? Hoặc là: ngài bệnh mà sao bác sĩ lại không tìm ra bệnh?

Ban đầu thì việc này cũng là một thắc mắc của người viết nữa. Sau đó Bảo Đăng tôi có thưa hỏi lên Đại Đức Bổn sư Thích Hải Quang duyên cớ, bởi vì Bảo Đăng nghĩ là thầy có thể sẽ hiểu rõ lý do hơn … và được thầy giải đáp như sau:

– Sở dĩ các bác sĩ khám nhưng không tìm ra được bệnh là vì ngài thường hay dùng sức định lực của chính mình để chế ngự căn bệnh. Trước kia, khi thầy (ĐĐ. Bổn sư) còn ở hầu bên cạnh cố Hòa thượng thì thỉnh thoảng ngài cũng có vương lấy một vài cơn đau nhỏ, lúc đó vì tình trạng thiếu thốn thuốc men nên ngài đã phải tự lực, phấn chấn để đè bẹp cơn đau xuống bằng cách dùng sức mạnh của “tâm lực” . Thí dụ như chỗ nào bị đau thì ngài định thần lại quán chữ “Rãm” màu xanh hiện ra ngay (chỗ đau) đó, từ nơi chữ rãm này, ngài lại quán tiếp nữa là có một tia nước cam lồ cũng màu xanh lưu xuất ra rửa sạch cái căn nguyên làm cho đau nhức ấy đi … và lần nào như thế cũng đều được hiệu nghiệm một cách lạ lùng là sau đó cơn đau bệnh ấy bị tan biến đi mất.

Từ đó về sau, vì tình trạng thiếu thốn thuốc men và dinh dưỡng vẫn mãi kéo dài, cộng thêm vào đó là sự khắc khổ hành trì trong đường tu tập, nên tháng lại, ngày qua … bệnh càng tăng nhiều hơn và cứ mỗi lần thân tứ đại của ngài bị các cơn đau nổi lên hành hạ là ngài lại dùng tâm lực và quán như thế để tự chữa trị.

Qua sức định lực này các cơn đau của ngài có thể được tạm thời ẩn mất trong một thời gian năm ba tuần lễ rồi mới tái phát và ngài cũng lại dùng sức định lực ấy để tiếp tục đè bẹp nó xuống nữa … cứ tiếp tục điều trị như thế  chớ căn bệnh không dứt hẳn được, tựa như lấy đà chặn cỏ thì tạm thời cỏ bị đè nhẹp xuống nhưng không chết hẳn, sau một thời gian rồi cỏ sẽ mọc lên trở lại  bệnh của ngài trong trường hợp này cũng giống như vậy.

Sở dĩ mà các bác sĩ không sao tìm ra được bệnh của ngài là vì nhằm vào trong thời gian (khám bệnh) đó, căn bệnh kia đã bị sức định lực của ngài làm cho tạm thời ẩn mất rồi nên y học và y sĩ không sao hiểu thấu và tìm ra được cả.

Đó là lý do “bệnh” mà xem như “không bệnh” của cố Hòa thượng vậy.

Khi Đại Đức Bổn sư giải đáp đến đây thì Bảo Đăng liền hiểu ngay vì có một vài lần chính Bảo Đăng cũng đã từng thử trị bệnh nhức đầu của mình bằng cách này (qua sự chỉ dẫn của thầy bổn sư) và thấy rất là hữu nghiệm).

Có một vài lần, giữa ni sư trưởng và các bác sĩ đã lén dấu ngài, đồng ý (nghéo tay nhau) ở bên thất của ni sư (cách thất của Hòa thượng trên 100 thước tây) là chích thuốc ngủ cho Hòa thượng (mà nói dối là thuốc khỏe) để làm cho ngài mê đi rồi sau đó khiêng đại ra xe, chở thẳng về bệnh viện Chợ Rẫy ở Sài Gòn cho có đầy đủ tiện nghi để (dễ bề) điều trị hơn. Bàn tính và cụ bị thuốc (ngủ) kim chích v.v… Đâu đó xong xuôi hết rồi mới cùng nhau kéo qua thất của Hòa thượng định bụng rằng sẽ giả bộ xin khám bệnh rồi nói là cần phải chích thuốc bổ để cho Hòa thượng được mau sớm khỏe mạnh. Nhưng khi tất cả bác sĩ vừa mới ngồi xuống, chưa kịp mở lời “mại hơi” thì ngài đã nói trước rằng:

– Các vị đừng nên làm như vậy, chớ gạt chích thuốc ngủ cho thầy mê đi mà đem ra khỏi thất chở về Sài Gòn. Thầy không đi đâu hết, bởi thầy đã nguyện nhập thất tịnh tu trọn đời rồi, thì dầu cho có sống chết gì đi chăng nữa cũng quyết lòng ở lại tại đây mà thôi. Tuy nhiên thầy cũng xin cám ơn lòng hảo tâm của quý vị.

Sau khi nghe Hòa thượng nói xong những lời đó rồi thì ai nấy cũng đều ngạc nhiên và hết hồn cả, không hiểu vì sao mà ngài lại biết rõ ràng cái “âm mưu bí mật” của chúng mình (mới vừa bàn) như vậy?

Sự việc tính toán không thành và sau đó mọi người đều rù rì với nhau là Hòa thượng có thiên nhĩ (lỗ tai thần) đó, nói gạt ổng không xong đâu vì ổng nghe biết hết.

Và đây cũng lại là một sự ly kỳ nữa (trong số rất nhiều việc lạ lùng khác) của cố Hòa thượng vậy…

Ngày tháng trôi qua, Hòa thượng vẫn lặng lẽ cố gắng khắc phục thân bệnh, tinh tấn trì niệm và tu hành nơi tịnh thất. Ngài dư biết thời giờ vãng sanh của mình sẽ không còn bao lâu nữa nên càng chuyên cần niệm Phật nhiều hơn. Ngài trông chờ một “Tin tức” trọng đại nhất sẽ đến với mình như các bậc tổ sư xưa đã từng mong đợi là:

Mảng tưởng ngày về chữa đến ngày,
Bên trời du tử mộng hồn bay.
Tỉnh mơ tiếng nhạn rơi đêm vắng,
“Tin tức” miền Tây chậm vãng lai?
(Sở Thạch lão nhân)

Và:

Đêm dài mộng nhớ về quê cũ,
Năm hết không quên phận lữ hành (1)
Mười vạn ức đường quê Cực Lạc,
Tấc lòng mang – mễnh những thâu canh
(Tư Tế lão nhơn)

Cuộc đời của ngài kể từ khi xuất gia cho đến nay (1945 -1942), đã sắp sửa đến thời điểm quyết định. Gần 48 năm dài trôi qua trong đường đạo, biết bao nhiêu nỗi buồn, vui, vinh, nhục, lên, xuống, bỗng, trầm, ngọt, chua, mặn, lạt chi chi lần lượt trước, sau thảy đều nếm đủ, có đôi lúc ngài mỉm cười như vừa nhớ lại một giấc chiêm bao! Hòa thượng đã gởi ý mình qua bài cổ thi sau đây:

Lữ khách nhớ quê An dưỡng,
Hủ nho ngụ bến sông Tương.
Chẳng quản ngày mai đắc thất,
Chỉ chờ TIN TỨC TÂY PHƯƠNG.
Thất nhỏ tùy duyên an ở,
Cơm rau đạm bạc quen thường.
Trâu ngựa mặc ai kêu gọi,
Trong lòng tuyệt niệm ghét thương.
(Thơ cổ đức)
Vô Nhất Tăng
Thích Thiền Tâm (dịch)

(Đại ý bài thơ này nói rằng: Ngài như người lữ khách (đi chơi xa trong sáu nẻo luân hồi) nhớ đến quê xưa (An dưỡng quốc Cực lạc giới) lại cũng giống như người đồ nhỏ già nơi bến sông Tương (tư) đêm ngày nhớ nhung về miền quê an dưỡng. Ngài chỉ có một niềm mong chờ duy nhất là: “TIN TỨC TÂY PHƯƠNG” tức là được đức A Di Đà Như lai thọ ký cho sanh về nơi Cực lạc mà thôi. Ngoài ra những chuyện khác như: Mất, còn, thương ghét, phỉ báng, rẻ khinh hoặc thậm chí đến cả việc kêu tên trâu, ngựa, chó, mèo ra để hủy  nhục mình, tâm ngài cũng vẫn điềm nhiên không xao động.

Lành vậy thay.)

Và cái TIN TỨC TÂY PHƯƠNG ấy hình như đã có đến ngài rồi, hoặc ít ra cũng đã có lố dạng ở chân trời (TÂY) rồi chăng? Qua ý của bài thơ sau:

Ẩn tu trắc trắc lại bình bình, (2)
Niệm đạt vô tình lẫn hữu tình.
Lầu tuyết rã tan ngàn thế giới,
Chân trời pháp nhãn lộ bình minh

Vô Nhất
Thích Thiền Tâm
(Ẩn tu ngẫu vịnh)

Đến đây, qua bài kệ này, ta nhận thấy rằng sau 24 năm dài tịnh tu nơi miền lan nhã Phú An này (nói chung) và 17 năm bế quan (1975- 1992) để riêng tu môn “Niệm Phật tam muội” câu niệm Phật của ngài nay đã kể lại được thành một khối “nhứt tâm” qua câu: “Niệm đạt vô tình lẫn hữu tình”. Hai chữ NIỆM ĐẠT trên đây đã tiết lộ ít nhiều cho các môn đồ, pháp quyến biết rằng:

– Sau 17 năm chuyên tâm trì niệm, môn tu NIỆM PHẬT TAM MUỘI của ngài đã được đạt thành rồi vậy.

Và vì thế nên nơi phương trời Tây xa xôi diệu vợi kia, cách đây quá mười vạn ức Phật độ, nay đã hiện lên ánh sáng “bình minh” tươi đẹp. Ánh “Tây minh” rực rỡ đã lộ bày, pháp nhãn của ngài đã mở khai, tin tức thời Tây cũng vừa nhận được. Với pháp nhãn ấy ắt hẳn ngài đã thấy được đức A Di Đà từ phụ cùng chư thánh chúng quang lâm đến an ủi và thọ ký cho Tây quy rồi chăng?

Chắc chắn là như vậy, bởi vì qua bài kệ thứ 108 cuối cùng trong tập “ẩn tu ngẫu vịnh” của ngài, đã có tiết lộ ra cái “mật ý” ấy như sau:

Ẩn tu trì niệm tháng năm qua,
Đạp lối sen thanh trở lại nhà.
TIN TỨC NGÀY NAY VỪA THẤY ĐƯỢC,
Tiếng chuông sơn tự bóng trăng tà!

Ôi! Vô Nhất Đại Sư Thích Thiền Tâm sau những tháng, năm dài trôi qua trong sự chuyên tâm trì niệm, nay ngài sắp sửa theo lối sen thanh trở lại quê nhà (2) đã xa cách tự bấy lâu nay rồi, “TIN TỨC” từ nơi Đức cha lành A Di Đà Phật dành riêng cho ngài, nay ngài cũng đã thấy lại được rồi, 68 năm dài nhục vinh trên cõi thế của ngài giờ đây sắp sửa trôi qua, ngước mắt nhìn lên thì bóng thiêm cung đã bắt đầu xế dạng, nơi sơn tự Hương Nghiêm, tiếng đại hồng chung văng vẳng lại, có phải chăng đó là điềm báo trước cho ngày “ứng tận hoàn nguyên” của VÔ NhẤT ĐẠI SƯ, Thích Thiền Tâm Hòa thượng sắp đến hay chăng?

Kính bạch Hòa thượng,

Đàn con đại chúng con rồi sẽ ra sao đây nếu một mai vắng bóng của ngài và nơi đường trần dẫy đầy chông gai, khổ lụy này, ai sẽ là bậc minh sư, thiện hữu, thay thế ngài dìu dắt chúng con đi?

Nam mô từ mẫn cố, đại từ mẫn cố.

Khoảng giữa tháng 7 Âm lịch năm Nhâm Thân (1992) (trước ngày vãng sanh gần 5 tháng) Hòa thượng đã biết chắc chắn rằng ngày quy Tây của mình sẽ không còn bao lâu nữa, vả lại căn bệnh trầm kha từ bấy lâu nay cũng đã làm cho xác thân tứ đại của ngài gần như muốn mỏi mòn rồi.

Do vì như vậy nên ngài muốn dành hết tất cả thời gian còn lại cực lực chuyên tu hơn nữa để riêng cho phần tư lương của mình nơi chín phẩm sen càng tăng được thêm nhiều. Ngài e rằng khoảng thời gian ít oi còn lại này bị lãng phí đi nên khước từ hết mọi tiếp xúc với ngoại duyên, lại thêm e rằng tứ chúng mượn có mãn hạ để đến thỉnh cầu xin được viếng thăm, chúc tụng khánh tuế v.v… Nên từ trong tịnh thất ngài viết ít dòng thư gởi ra cho quyền trụ trì Hương Nghiêm tịnh viện là Thượng tọa TOẠI CHÂU cáo bạch miễn lễ cho đại chúng. Kế tiếp sau đó vào ngày mồng 2 tháng 8 Âl. Ngài vì lòng bi mẫn, xót thương cho các hàng học chúng cùng chư Phật tử đời nay bị cuốn lôi vào trong cảnh:

Ẩn tu uổng tiếc bạn đồng hành,
Nói lý cao huyền, đắm lợi danh.
Già bệnh, đọa sa không phản tỉnh,
Bóng câu mấy nổi thoáng bên mành.

Và:

Ẩn tu xót kẻ học Như lai,
Thiền tịnh, thị phi, chấp trước dày.
Kiên cố, đấu tranh đà hiện rõ,
Đạo, đời phân hóa: cảnh thời nay!

Liên Du Vô Nhất
Thích Thiền Tâm
(Ẩn tu ngẫu vịnh)

Nên một lần nữa và cũng là một lần cuối cùng, từ nơi tịnh thất ngài viết gởi ra (và lưu hậu lai một bức thư cuối cùng cho các hàng môn hạ mà trong đó ngài vừa dạy khuyên, vừa răn nhắc, vừa cảnh tỉnh, vừa sách tấn tu niệm, lời và ý cực kỳ tha thiết, ân cần đến chư đại chúng như sau:

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Kính thưa đại chúng,

Tôi bẩm chất gầy yếu, trong vài năm trở lại đây, tinh thần cùng sức khỏe thật ra đều suy kém. Vì ngại cơn vô thường chợt đến, nên nguyện an thất tịnh dưỡng, trì niệm cho mãn kiếp gởi tạm sống thừa! Trước kỳ tự tứ vừa qua, vào ngày 12 tháng 7 Âl năm Nhâm Thân 1992, Tôi có viết thư cho thầy Minh Tánh và Toại Châu nhờ thầy thay lời, xin đại chúng gồm chư Đại Đức Tăng ni và Phật tử, vui lòng thứ miễn cho việc tiếp xúc cùng làm lễ khánh tuế sau khi mãn hạ. Nhưng khi hỏi lại, thì thầy Toại Châu nói đã đánh mất bức thư ấy, nên chẳng tuyên bố. Do đó mà nhiều người đến thăm không được gặp, nên sanh lòng phiền muộn.

Kỳ Bồ Tát vừa rồi Sư Cô Phương Liên (Thích nữ Thanh Nguyệt) có nhắc qua việc ấy (2-8-1992) nhờ thầy Toại Châu trùng tuyên lại những lời của tôi, mà thầy cũng quên luôn. Trong ngày giỗ Tổ này e đại chúng trách rằng: Tôi bỏ quên, không để tâm nhắc nhở, nên xin có ít lời khuyên tấn, tạm gọi là giữ cho xong phần nào vai trò của người lớn trong đạo. Nhưng vì còn lo thầy Toại Châu đau yếu, rồi quên trước quên sau, nên nhân tiện nhờ Sư Cô Phương Liên (Thích nữ THANH NGUYỆT) là người thân cận (Trưởng tử tôi) thay nhọc chư tăng ni, đọc qua mấy lời phụng khuyến cho đại chúng được rõ:

Thưa chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng Ni, cùng chư quý Phật tử …

Trước tiên, tôi kính thăm tất cả đều được an lành và siêng năng tiến đạo. Thứ đến, xin có đôi lời phụng khuyến:

Từ xưa đến nay, trong nhà chùa vào trong những ngày vía Tổ chư Tăng Ni thường có lời phục nguyện:

“Tông phong vĩnh chấn,
Tổ ấn trùng quang”.

Nói riêng theo pháp môn “NIỆM PHẬT” tức là nguyện cho tông “TỊNH ĐỘ” do chư Tổ tuyên dương, được chấn chỉnh và hưng thạnh phải như thế nào? Tôi xin nêu ra mấy chi tiết. Như trong “Bồ Tát Giới Kinh” đã dạy: “Già chết gần kề. Phật, pháp sắp diệt. Các Phật tử vì muốn đắc đạo phải nên nhứt tâm cần cầu tinh tiến”. Câu kinh này đưa ra ba điều kiện:

  1. Phải nghĩ đến sự già chết gần kề.
  2. Phải thương lo cho Phật pháp suy vong sắp diệt.
  3. Phải siêng năng tinh tiến tu hành.

Giữ được ba điều kiện ấy, tức có thể làm cho: “Tông phong vĩnh chấn  Tổ ấn trùng quang”.

Về điều thứ nhất:

– Kiếp người giả tạm, nào có bao lâu? Trong ấy biết bao nhiêu sự vui buồn, nhục, vinh, lo phiền, nhọc nhằn, già yếu, đau bịnh! Nếu ta không nghĩ đến thân người mong manh nhiều khổ lụy, mà cố gắng tu thiện, cứ mãi tạo nghiệp, để rồi bị chìm đắm, có phải là hờ hững mê lầm chăng?

Về điều thứ hai:

– Đức Phật ra đời và chánh Pháp của ngài rất khó gặp, như hoa “Ưu Đàm Bát La” trong thời kiếp lâu xa, mới nở một lần. Nay đã đi sâu vào buổi mạt pháp, đạo Phật sắp suy tàn rồi ẩn một. Chúng ta là hàng con Phật, phải kính mến thương lo, hộ trì mối đạo và muốn cho đạo pháp trường tồn, phải thương xót nâng đỡ nhau, đừng vì lợi quyền danh vọng, hoặc tài, sắc, mà bôi nhơ, tàn hại lẫn nhau.

Kinh Phạm Võng nói:

“Phật pháp không phải thiên ma, ngoại đạo có thể hủy phá, chỉ có người con Phật, mới phá hoại được mà thôi!”

Đau buồn thay!!

Điều này hiện nay, khắp nơi đã nhan nhãn thấy xuất hiện. Các bậc hữu tâm trong đạo thấy thế chỉ còn biết yên lặng ngậm ngùi!

Nhớ lại thời cận đại ở nước Việt Nam ta, có hai bậc túc nho vừa có tài danh, lẫn đức hạnh. Vì thấy luân thường đảo lộn, nho giáo suy đồi, hai vị ấy, đành cam bề ẩn dật. Nhưng đã có danh đức, tất có nhiều người tìm đến, nên cũng vì thế mà bị người ganh ghét bôi nhơ! Những kẻ làm việc đó, là người trong đạo KHỔNG mà mỉa mai thay! phần đông lại là hàng mô đệ của hai bậc tôn túc nho kia! Sau khi được người thuật lại đầy đủ về việc hủy báng ấy, trong hai bậc lão nho, một vị mĩm cười khẳng khái nói:

“Rắn rết gớm ai lòng độc kia!
Rồng mây phó mặc chuyện huyên thiên”

Còn một vị kia chỉ rơi lệ bảo:

“Việc đời thà khuất đôi con mắt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương”.

Nơi đây, ta nhìn xét thấy hai trạng thái:

“Một nụ cười can đảm, an nhẫn, bất chấp, gác qua mọi chuyện thị phi …

“Và một nét khóc, thương xót ai mê lầm gây tội lỗi mà mình bất lực không thể can ngăn, khuyên bảo, cứu vãn được, chỉ còn biết tự tỉnnh, bền giữ đạo tâm, như gương tròn sáng.

Nụ cười cùng tiếng khóc, của hai bậc lão nho xưa, đã hàm ẩn đầy đủ tinh thần BI – TRÍ – DŨNG của đạo Phật, thật đáng cho hàng Phật tử, chúng ta phải suy gẫm.

Còn về điều thứ ba:

Thì ý kinh, khuyên ta phải siêng tu. Siêng tu đây, không phải chỉ tụng kinh, niệm Phật, để khoe số nhiều, mà tụng niệm với tâm thanh tịnh, an lành, với lòng chí thành trong sáng, mới được diệt tội sanh phước.

Lại chẳng phải chỉ có tụng niệm suông, mà phải giữ tâm niệm, lời nói và hành động, theo điều giới thiện Như thế, mới xứng hợp là người tu Phật. Và tu như thế mới mong có ngày được lên bờ giải thoát.

Trước khi dứt lời, để tóm lược, tôi xin trân trọng nhắc lại cùng đại chúng ba điều trên là:

  1. Phải nghĩ đến sự già, chết, vô thường.
  2. Phải thương mến đạo, biết nâng đỡ nhau.
  3. Và phải biết siêng năng tu tập.

Nếu trái với lời kinh dạy, thì ngôi nhà Phật, Pháp sẽ bị sụp đổ, bởi sự hủy phá của những người mang danh nghĩa là hàng “CON PHẬT”. Những vị chân tu, tự nhiên phải thật hành theo ba điều kiện trên.

Còn trái lại, những kẻ giả tu, muốn nhận diện cũng không khó, quý vị chớ vội nghe lời trau chuốc bên ngoài, hãy xét kỹ, nơi ngôn ngữ… cùng hành động của họ, tự khắc sẽ biết.

Xin Kính chúc chư Thượng Tọa, Đại đức Tăng Ni, chư quý Phật tử, một mùa kỷ niệm Tổ, đầy tình thương và đạo hạnh.

THÍCH THIỀN TÂM

TB: Bức thư này nên tùy phương tiện đọc cho những vị hữu duyên nghe mà thôi!

Những kẻ vô duyên, chắc họ không tỉnh ngộ, trước lời thiết tha khuyên nhắc!!!

Các vị Lão thành xưa thức lượng sâu xa, cũng đều phải cam bề ẩn mình giữ đạo, trước tình thế không thể khuyên ngăn được.

Thầy cũng không hơn nổi những bậc tiền bối ấy đâu.

 

(Trên đây là thủ bút và chính chữ ký của cố Hòa thượng nơi phần cuối thư. Bảo Đăng tôi xin in vào đây để quý đọc giả và riêng cho các hàng môn hạ thấy lại được nét chữ của tôn sư (để mà thêm thương nhớ). Nét bút hơi run của tôn sư ở đây chứng tỏ rằng sức khỏe của ngài trong giai đoạn này đã yếu kém đi nhiều).

Qua bức thư này chúng ta nhận thấy một vài điều quan yếu như sau:

– Lúc nào ngài cũng tha thiết nghĩ thương đến đạo, muốn cho đạo giáo được miên viễn trường tồn.

– Mong sao cho chư tăng ni (nói chung) và các hàng môn đệ phải nên phát tâm chân thật, cố gắng tu hành, cầu chơn giải thoát, lìa bỏ lợi danh.

– Trước tình thế đạo pháp bị hủy phá, tan nát hiện nay do chính những người mang danh nghĩa là “Phật tử”, là “Như lai sứ giả” v.v…, ngài tự lượng sức mình không thể nào khuyên ngăn được nên thà là khuất mình (ở ẩn) để tự giữ tròn đạo hạnh mà thôi.

Và xưa nay các hàng thánh tăng cũng đều làm y theo như vậy.

– Như ngài Ma ha Ca Diếp (tổ thứ nhất) ẩn mình trong núi Kê Đầu (sơn) (Tức là núi Linh Thứu).

– Ngài Tân Đầu Lô Tôn giả – ngài Bồ Đề Đạt Ma (tổ thứ 28) và còn biết bao nhiêu là các bực chân tăng, hiền thánh khác nữa… cũng phải cam chịu ẩn mình nơi rừng sâu, núi vắng, giữ phận tu hành trong thời buổi mạt pháp nói chung và riêng cho giai đoạn “đấu tranh kiên cố” này.

– Tại sao thế?

Bởi vì thế lực của những kẻ bạo ác quá mạnh cho nên thế lực của người hiền đức phải bị lu mờ đi. Đó là lẽ đương nhiên. Từ ngàn xưa vẫn thế.

Cố Hòa thượng đây cũng chẳng còn biết phải làm gì khác hơn là ẩn mình tu tập, cho tròn sự nghiệp giải thoát vậy mà thôi.

TẤN PHONG TRƯỞNG TỬ VÀ DI CHÚC TỐI HẬU

Theo như thông lệ “chúc hậu” từ ngàn xưa đến nay, đời hay đạo chi cũng vậy:

– Nghĩa là một bậc trưởng thượng nào đó, trước khi biết mình sắp sửa cởi hạt quy tiên hay chuẩn bị đáo đầu về nơi tử tận (chết đi) thời thảy đều có tổ chức một buổi lễ tấn phong, và chỉ định cho người xứng đáng sẽ được kế vị mình mà lãnh phần di chúc.

Như ở ngoài đời, cha mẹ trước khi chết thì giao gia sản lại cho con. Vua trước khi băng hà thì chỉ định và tấn phong cho đông cung thái tử. Còn ở trong đạo, như Nho giáo chẳng hạn thì lập đệ tử trưởng tràng để thay quyền mình giáo hóa môn đệ v.v…

Phật giáo ta ắt hẳn cũng phải theo như thông lệ ấy – nghĩa là chỉ định (huyền ký) người kế nhiệm cho mình, như Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn đã huyền ký bổ xứ lại cho ngài TỪ THỊ BỒ TÁT kế tiếp mình thành PHẬT nơi cõi TA BÀ này là DI LẶC PHẬT. Các chư Thế tôn khác trong khắp 10 phương cũng đều đồng hạnh như vậy cả trước khi vào trong biển cả “đại bát niết bàn”.

Ở đây, nơi Hương Nghiêm tịnh viện và Phương Liên tịnh xứ, Mật Tịnh đạo tràng tại thôn Phú An, Đại Ninh này, Mật Tịnh tông chủ: VÔ NHẤT ĐẠI SƯ THÍCH THIỀN TÂM Hòa thượng cũng y theo như thông lệ đó mà chỉ định và tấn phong trưởng tử, giữ phần chúc hậu trước khi ngài viên tịch về cõi vô sanh.

Vì vậy cho nên vào lúc 11 giờ 30 phút trưa ngày 12 tháng 10 dl năm 1992 (tức nhằm ngày 17-9 Âl năm Nhâm Thân) tại Phương Liên Tịnh thất, ngài cho triệu tập các môn đồ, pháp quyến thân cận lại, tổ chức một buổi lễ nhỏ: Tấn phong trưởng tử, tiếp nhiệm chức vụ chưởng môn (nhân) và lãnh tờ chúc hậu.

Suốt bốn mươi tám năm trong đường tu và hơn 30 năm hóa đạo, qua cương vị của một tôn sư, trước sau các hàng đệ tử xuất gia, cầu pháp, y chỉ, học chúng, thế độ v.v… của ngài lên đến số hàng ngàn vạn người ở khắp mọi nơi trong nước, có người đã và đang đảm nhận những chức vụ quan yếu trong giáo hội, hoặc là lãnh đạo các hội đoàn Phật giáo, tọa chủ các chốn già lam, nắm giữ các cơ sở Phật giáo v.v… (trong cũng như ngoài nước và khắp cả năm châu).

Số đệ tử thì thấy đông và nhiều như vậy, mới thoạt nghe qua chắc ai cũng phải nghĩ rằng có lẽ ngài thuộc về loại người: “Nhứt hô bá ứng” (Một tiếng kêu thì có cả trăm tiếng (đệ tử ruột) dạ) nhưng thật ra thì “Thấy vậy mà không phải vậy” đâu.

Trong quyển “Ẩn tu ngẫu vịnh” của ngài, Bảo Đăng tôi có đọc và thấy một bài kệ (số 11) sau đây:

Ẩn tu cửa đạo trải bao năm,
Kinh nghiệm nhiều phen vẫn lạc lầm.
Quen lắm lại càng thêm việc lắm,
Cung đàn, hạt ý mấy tri âm.

Dựa vào ý của bài kệ này mà bàn rộng ra thì chắc có lẽ ngài cũng đã từng bị nếm nhiều “cay đắng mùi đời” từ nơi các bạn cùng tu và các đệ tử lắm rồi thì phải (?) cho nên ngài mới tự than rằng:

Kinh nghiệm nhiều phen vẫn lạc lầm,

và:

Quen lắm lại càng thêm việc lắm…

Ba chữ: “Thêm việc lắm” ở đây, ta phải hiểu là “Thêm rối rắm”, “lộn xộn lắm” … Nay cứ tạm suy phận ta ra (phận người) thì ắt sẽ hiểu được phần của ngài. Như Bảo Đăng tôi đây nhiều khi cũng đã phải “ngậm ngùi cười ra nước mắt” trước các người quen, bạn bè và các bậc đàn anh, đàn chị lắm! Gần 10 năm làm Phật sự, lắm lúc đã từng bị lâm vào cảnh:

Giang hà nhật hạ nhơn giai trược,
Thiên địa lô trung thực hữu tình?

Tạm dịch:

(Nước sông càng đục, người càng xấu,
Trời đất tìm đâu bạn chí trung?)

Hoặc là:

Thôi thà đừng biết cho xong,
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu.

Và:

Chuyện đời thà khuất không nghe biết,
Đóng cửa cài then chẳng muốn trông…

Xưa nay, thế tình (cả đời và đạo chí cũng vậy) vẫn y như rứa, nào khác chi đâu! không riêng gì Bảo Đăng tôi hay là cố Hòa thượng bị khổ sầu thôi. Mà một số các bậc hiền triết, cao minh khi xưa cũng đều than thở giống nhau như thế. Chẳng hạn như hai câu kệ sau đây:

Thùy nhơn hậu bối vô nhơn thuyết,
Na cá nhơn tiền bất thuyết nhơn …

Tạm dịch

Chớ nói ta không người chỉ trích,
Âm thầm chi thiếu kẻ gièm pha.
Trước mặt cúi đầu thưa, dạ, bẩm,
Sau lưng kêu chửi mẹ cùng cha!…

– Thế cho nên: Càng quen biết nhiều bao nhiêu thì phiền não cũng càng theo đó mà “tăng trưởng: và “tiến bộ” thêm bấy nhiêu mà thôi, chớ chẳng được mấy ích lợi gì!

Vậy phải làm thế nào để tránh “Nó” đây?

Thôi thì thà (Noi theo gương của cố Hòa thượng là):

Ẩn tu an tính chốn cao nguyên,
Hoa cảnh, lòng trăng, đẹp diệu huyền.
Mây núi điệp trùng đêm tịch tịnh,
Câu kinh, tiếng Phật lại triền miên.
Thích Thiền Tâm
(Ẩn tu ngẫu vịnh)

phứt cho rồi!

Và như vậy, thế mà xong!

Trở lại việc cố Hòa thượng có ý muốn tuyển chọn trong số các hàng môn đồ thân tín của mình để tìm ra một người xứng đáng hầu tấn phong làm trưởng tử, kế vị chưởng môn.

Sau khi sàng, sải, lọc, lừa khắp trong tất cả các hàng môn đệ gần xa xong rồi, ngài chỉ chấm được có một người duy nhất (độc nhất vô nhị) mà thôi.

Vị được xứng đáng tuyển chọn là: người mà đã từng là đệ tử, thị giả và theo hầu cận bên ngài suốt cả 30 năm qua, đã không biết bao nhiêu lần đem thân của mình ra làm một “cái mộc sống” để “đỡ đạn” cho ngài an bề tu tập và cũng vì ngài mà cam tâm gánh chịu ngàn, muôn cay đắng, khổ sầu, ấy thế mà lòng của người trước sau vẫn an nhiên không hề một lần hé môi than thở. Trong tất cả mọi hoàn cảnh buồn, vui, sướng, khổ, mặn, lạt, chua, cay, bình an, hay hoạn nạn chi chi … người ấy vẫn một lòng, một dạ với thầy trước sau như nhứt.

Đó là:

– Ni sư THÍCH NỮ THANH NGUYỆT

được trúng tuyển một cách oanh liệt, thượng hạng, ngoại hạng, siêu việt ngạch trật thông thường.

Đến đây, kể ra thì chắc có lẽ các nam đệ tử (bên Tăng) cũng cảm thấy buồn, tự ái và bất mãn khi tự hỏi rằng:

– Tại sao Hòa thượng lại không chọn nam (Tăng) mà chọn nữ (Ni) để tấn phong trưởng tử và kế vị “chưởng môn”? Bộ bên Tăng hết người (xài) rồi sao? Nhưng sự thật đã như vậy rồi thì còn biết làm sao hơn bây giờ! (tức là không tìm ra một vị (tăng) nào để chấm đậu được cả).

Thôi thì ngài đành phải hành xử theo câu:

– Vô nam, dụng nữ – Vô tử dụng tôn” vậy.

(Không chọn ra con trai được thì chọn con gái kế truyền, còn như trong hàng con trai, con gái mà không chọn ra được ai hết thì chọn ở trong hàng cháu), thế mà xong.

Là một người có trí, hiểu được việc xa gần, ngài tiên đoán rằng trong tương lai, sau khi ngài mãn phần rồi, thế nào vị “ni sư trưởng tử” này cũng phải bị lâm vào trong cái cảnh:

– Bị phủ nhận, không tin tưởng (là sự thật, là truyền nhân giữ y bát của ngài) từ nơi các hàng tăng, ni đệ tử (ganh tị) khác, hoặc bị vu báng, hoặc bị lâm vào cảnh “ỷ chúng, hiếp cô” hay bị cảnh “chúng khẩu đồng từ, sư ông cũng chết” (Trăm ngàn miệng đồng nói ra một lời giống như nhau thì Sư Ông cũng phải chết) huống hồ chi là một Sư Cô (còn nhỏ tuổi) như ni sư Thích nữ Thanh Nguyệt vậy!!

Vì thế cho nên hôm nay sẵn có đại chúng chứng minh trong buổi lễ “Tấn phong trưởng tử” này nên ngài cho lập ra tờ “Nhân chứng” sau đây (để bảo vệ cho vị liễu bồ nhơn trưởng tử của mình sau này).

TỜ NHÂN CHỨNG TRONG LÚC LẬP DI CHÚC

Chúng tôi đứng tên dưới đây: là những Phật tử thuần hành của Sư Ông Hòa thượng Thích Thiền Tâm đồng chứng kiến sự việc như sau:

Vào lúc 11 giờ 30 phút trưa ngày 12 tháng 10 năm 1992, tại Tịnh thất Phương Liên, nơi Sư Ông Thích Thiền Tâm an thất. Sau giờ thọ thực Ngọ, Hòa thượng cho gọi đại chúng họp mặt để chứng kiến Sư Ông lập tờ Di chúc và ký tên, rồi giao quyền thừa hành tờ di chúc này cho Ni sư Thích nữ Thanh Nguyệt và nhìn nhận rằng: Ni sư Thanh Nguyệt là Trưởng tử của ngài.

Trong lúc lập tờ Di chúc này, chúng tôi thấy sức khỏe Sư Ông hơi kém, nhưng tinh thần rất minh mẫn. Tờ Di chúc lập xong vào lúc 2 giờ chiều cùng ngày.

Chúng tôi cam đoan những vấn đề nêu trên là sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Tịnh thất Phương Liên, Phú Hội ngày 12/10/1992

Đồng ký tên.

  1. Quách Văn Anh, CMND 022882466 cấp ngày 08/10/1991 tại Công an huyện Nhà Bè.
  2. Nguyễn Văn Đáng, Pd: Ngộ Giải, CMND 020349056 cấp ngày 30/8/1978 tại CA Quận 4.
  3. vv…

LỜI PHỤ THÊM: Cũng may là nhờ ngài tiên đoán được trước các sự việc như thế, ấy vậy mà sau những ngày lo hậu sự của cố Hòa thượng xong rồi, vị ni sư trưởng tử này cũng vẫn bị không biết bao nhiêu là búa rìu, bầm dập. Đã có nhiều người đứng ra vỗ ngực xưng tên là truyền nhân, là trưởng tử, là đích tử, là đệ tử thế độ được ngài cưng quý nhất v.v… Thậm chí cả đến việc dối mượn danh nghĩa giáo hội, tụ tập lại, chọn người và tự ý tấn phong trưởng tử cho riêng phe nhóm của họ và lập ra tờ Di chúc (thứ hai)giả mạo, cùng rỉ tai và tuyên truyền khắp cả mọi nơi với mục đích là nhờ dư luận bên ngoài, (vốn không biết rõ về sự việc trong nội bộ) để phủ nhận vị truyền nhân, đích tử chơn thật này của ngài.

Ôi! chẳng qua cũng chỉ vì một chữ “DANH” phù phiếm, hão huyền đó mà thôi! Thật là đáng buồn, đáng tiếc thay cho danh vị của người xuất gia trong thời buổi mạt pháp này!!

TỜ CHÚC THƯ CUỐI CÙNG VÀ CÁC LỜI DI CHÚC TỐI HẬU

Song song với việc nhìn nhận và tấn phong trưởng tử này, cố Hòa thượng cũng đã có cho lưu bố một bản chúc thư tối hậu để làm minh lại những điều tâm nguyện của ngài mà tự bấy lâu nay ngài vẫn chưa hề bày tỏ, cùng với những lời dặn dò, phú chúc hậu sự của các sự việc (sẽ xảy ra) sau ngày mình (Hòa thượng) viên tịch.

Tờ di chúc này gồm có cả thảy:

  1. Bảy điều quan trọng về việc minh xác lập trường của ngài từ khi mới bắt đầu đi tu cho đến lúc sắp sửa mãn phần.
  2. Ba điều dặn dò về các việc hậu sự(mai táng)cho ngài sau khi tạ thế.

Và sau đây là nguyên bản “chúc thư văn” tối hậu của ngài:

LỜI DI CHÚC TẠM

Đề bút:

Tuyền nhiễu sơn hoa thào mộ nhàn,
Huyễn thân hà sự hựu đa đoan?
Ưng tri vô tận trầm luân hải,
Vị xuất luân hồi khổ diệu mang!

Tôi tăng sĩ Thích Thiền Tâm, pháp hiệu Vô Nhất, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, hiện cư ngụ tại tịnh thất Phương Liên I, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Nay tuy tôi thường đau yếu, nhưng tâm não còn minh mẫn sáng suốt, xin viết di chúc tạm gồm mấy điểm để phú chúc lại cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia.

Nói di chúc tạm, vì thấy một số tăng ni cho đến cư sĩ: Kẻ đã có chùa, thất vì uy tín không bằng, nên ganh tỵ cố ý phá hoại dìm xuống cho bản thân được nổi lên, dù đối tượng là bậc Thầy Tổ đã từng dạy dỗ mình. Hoặc người chưa đủ tư cách để làm đệ tử cầu pháp hay xuất gia, vì bị phủ nhận nên cũng sanh tật đố ganh đua. Họ liên kết nhau, tìm đủ cách tố cáo hủy phá, tung ra nhiều tin thất thiệt như: Phá trai, phạm giới, liên hệ với các hàng ngũ chánh trị khác, tuyên truyền mê tín dị đoan, trị bịnh, soi căn, đoán kiếp, nói quá khứ vị lai, thốt ra những lời phá chánh quyền, xúi giục làm loạn.

Tóm lại họ kết họp nhau, tìm đủ cách gài bẩy dìm che sự thật. Nếu không bắt làm bình phong được để thủ lợi họ sẽ liên tục tố cáo nhờ cháh quyền bắt, hoặc có thể ám sát. Vì thế nên mới có mấy lời di chúc bất thường nầy.

Nay tôi xin tỏ bày tâm nguyện, gồm mấy điều đại khái như sau:

I. Trọn đời tu, nguyện không dính dáng đến chánh trị, không để ai lôi cuốn vào chánh trị, bởi sức khỏe suy kém, và đó không phải là khả năng của mình.

II.  Chỉ mong được yên ổn tu hành để cầu giải thoát, ai gọi là Hòa thượng cũng được, ai kêu ông đạo cũng xong.

III. Không mượn danh Tam Bảo để tổ chức làm tiền, hoặc quyên tỏi đóng góp, mỗi ngày được ăn rau luộc cơm thì là đủ.

IV. Dứt cả sắc, tài, danh, lợi, thị phi, mặc ai dèm siễm, đàm tiếu, chê bai, vì những điều đó không liên hệ gì đến sự giải thoát.

V. Không ra làm Phật sự với giáo hội nào nữa, vì mình bẩm sinh gầy yếu, nay đau mai bịnh, không còn đủ sức hoạt động. Vả lại trước kia đã có thời gian dạy dỗ chư tăng, ni diễn dịch kinh sách, khuyên tu để đền đáp sự cúng dường của hàng tín chúng tự nghĩ đã làm Phận sự báo ân tam Bảo rồi.

VI. Sau khi tôi mãn phần, mọi việc hậu sự đều do trưởng tử của tôi là Ni sư Thanh Nguyệt sắp đặt. Chư tăng ni khác hoặc thuộc tịnh viện Hương Nghiêm không được quyền can dự vào lấy cớ đem về tịnh viện xây thất thờ cúng để làm bình phong cầu danh lợi. Bởi họ chỉ: học chúng tạm nương nhờ, không phải là đệ tử thế tôn xuất gia, cũng không phải là đệ tử cầu pháp, vì nếu đệ tử cầu pháp, phải có pháp phái do tôi ký tên chứng nhận. Tôi cất chùa cho họ ở, họ lại nhờ uy tín của tôi mới được sự cúng dường để tu học nên không có quyền mượn danh nghĩa của tôi để bành trướng rồi lần lần chiếm luôn Tịnh viện. Việc xây cất tu viện cả Hòa thượng Bửu Huệ và Bửu Lai chỉ là người hỗ trợ trên danh nghĩa, bởi mỗi vị đã có chùa chiền đệ tử riêng, sau đều xin rút lui giao lại cho tôi, vả lại hai ngài cũng đã viên tịch rồi.

VII. Khi tôi viên tịch, bởi nghĩ mình kiếp trước đã tạo lắm nghiệp duyên, nên nay mới bẩm sanh suy yếu, ý chí muốn theo gương điểu táng ở Tây Tạng.

Tôi xin chia làm tam sách như sau:

1. Thượng sách là đem xác thân để tựa cách rừng hoang bố thí cho loài chim, thú, hoặc treo đá dìm xuống vực sâu bố thí cho loài thủy tộc, để đền trả nghiệp đời trước.

2. Trung sách là bó chiếu chôn sâu, khỏa bằng để chỗ trồng thơm, chuối cũng có lợi cho người.

3. Hạ sách, nếu hàng đệ tử không nỡ làm như vậy, nên đóng sơ mấy tấm gỗ thông, bên trong độn lá chuối, trên để tấm pháp y, xây ngôi mồ cỏ đơn sơ. Trước mộ dựng tấm bia ghi câu lưu niệm:

“Bất huệ nạp tăng, Thích Thiền Tâm hiệu Vô Nhất mai cốt xứ”.

Lời di chúc này phó cho trưởng tử Thanh Nguyệt

Ngày 12-10-1992

Người di chúc: Thích Thiền Tâm

(Dưới đây là nguyên văn bản “Di chúc tạm” (chúc thư) của cố Hòa thượng. Bảo Đăng tôi xin in luôn vào để cho quý đọc giả và các môn đồ pháp quyến thân tín của ngài (đặc biệt là chúng thuộc Phương Liên tịnh xứ) gần cũng như xa, trong cũng như ngoài nước, có dịp nhìn lại được nét chữ của tôn sư để so sánh và kiểm chứng, cũng như để tăng thêm hơn nữa phần thương nhớ ngài qua nét bút, văn từ cùng các ý muốn đơn sơ nhưng cao siêu, thoát tục của người, mà trên đời này ít có ai theo kịp.

Thủ bút và lời văn dưới đây đã được Đại đức bổn sư Thích Hải Quang xác nhận chính thật là của chú ruột thầy – cố Đại Ninh tôn sư Thích Thiền Tâm Hòa thượng – Đã di hậu lại cho đại chúng Phương Liên cùng ni sư trưởng tử Thích nữ Thanh Nguyệt mấy tháng trước khi ngài viên tịch – để theo đó mà lo phần hậu sự cho ngài sau khi ngài giã từ cuộc thế).

NGƯỜI DI CHÚC

Trưởng Giáo kiêm Giám Đốc Phật học viện Huệ Nghiêm (Trước và sau trong thời gian làm việc), Giảng sư Phật học Ni trưởng Dược sư.

Giáo sư về Duy thức học trong đại học Vạn Hạnh.

Phiên dịch viên trong ban Phiên dịch Tam tạng Kinh điển. Viện chủ Hương Nghiêm tu viện.

Thích Thiền Tâm hiệu Vô nhất
Thế danh Nguyễn Nhựt Thăng

Thích nữ Thanh Nguyệt hiệu Phương Liên là đệ tử trưởng do tôi làm lễ xuất gia và thế độ.

Tôi cho y chí với ba vị Ni Trưởng:

Ni trưởng Diệu Ngộ chùa Phổ Đức.
Ni trưởng Đạt Đạo chùa Pháp Quang.
Ni trưởng Huyền Học. Tổng vụ Ni bộ Bắc tông.

NGƯỜI LÃNH NHẬN LỜI PHÚ CHÚC

Thích nữ Thanh Nguyệt hiệu Phương Liên (Theo tên Giáo hội Ni bộ, gọi là Tâm Nguyệt, theo thứ tự sau khi thọ đại giới, lại gọi là Như Nguyệt  chữ Tâm là lấy tên sau của thầy thế độ  chữ Như là thứ tự chung của người sau khi thọ Tỳ kheo ni Bồ tát giới).

Trưởng tử Thích nữ Thanh Nguyệt được toàn quyền quyết định về Am tự, Pháp bảo, đất đai và mọi tài bảo pháp khí của tu viện.

Người lãnh nhận di chúc.

Xin nguyện chấp hành trước Tam Bảo

Thích nữ Thanh Nguyệt,

(Ký tên)

Lược dịch chức vụ của đương sự trong Ni bộ.

  1. Hiệu trưởng trường Bồ đề Văn Lang.
  2. Tổng thơ ký Tổng vụ Ni bộ Bắc tông. Giáo sư về thế pháp hai trường Ni bộ Từ Nghiêm và Dược sư.
  3. Y tá trưởng chùa Ni bộ Từ Nghiêm.






Qua bản “Di chúc tạm” tối hậu này của cố Hòa thượng, tất cả chúng ta sau khi đọc xong, ai mà chẳng cảm thấy lòng mình vừa dâng lên một niềm kính phục và cũng vừa dâng lên một nỗi đau xót, ngậm ngùi. Bởi không như ai khác, ngài không hề có chút lòng tham nào nơi trường thế tục lợi danh, ngay chí đến cả việc hậu sự của ngài mà ngài cũng phó chúc cho chôn cất đơn sơ trong ba điều trối trăn sau chót.

Ai ham cao sang, quyền quý, chùa lớn, đền to, nhà cao, cửa rộng… Vô Nhất đại sư Thích Thiền Tâm Hòa thượng khi còn sanh tiền, trọn kiếp chỉ ưa an vui trong cảnh đạm bạc tu hành, vách đất, lều tranh, như lời kệ của Ngài Ấn Quang đại sư đã dạy:

Cơm rau đỡ dạ đói,
Lều cỏ che gió sương.
Người đời ai biết được,
Phiền não chẳng còn vương.

và khi qua đời rồi, ngài cũng chẳng muốn mồ cao, mả đẹp như người thế tình vẫn thường ưa nói rằng: Sống có cái nhà (đẹp), chết có cái mồ (to). Qua phần di chúc dạy lại về các việc hậu sự sau khi mình chết đi ngài không mong gì hơn là đem xác thân ra bố thí cho cá, rùa, chim, thú hoặc là khỏa bằng nấm mồ rồi trồng lên thơm, chuối để lợi lộc lại cho những lớp người sau. Ôi! những lời dạy đấy nếu chẳng phải là lời dạy của một bậc nhục thân Bồ Tát thì gọi là gì?

Nam mô A DI ĐÀ PHẬT,

Lành vậy thay, lành vậy thay.

Kính bạch cố Hòa thượng tôn sư,

Đệ tử chúng con xin cúi đầu khấu bái và hết lòng tâm phục.

GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG …
BÁO TẬN, HƯỜN NGUYÊN

Như trước đã lượt qua, trong suốt 24 năm ẩn tu của ngài, nhờ vào tâm thanh tịnh và một lòng chí cốt chuyên tu thêm vào đó là vì có lời tiên tri của mình nên cố Hòa thượng, hơn bao giờ hết ngài rất tường tận về thời khắc vãng sanh của mình.

Sau ngày cho công bố bức thư cuối cùng gởi đến các hàng tử chúng và kế đó là phổ biến bản chúc thư tối hậu xong, ngài chuyên tâm nhứt niệm, một lòng quán tưởng để chờ: “TIN TỨC TÂY PHƯƠNG” mà suốt cả một đời tu, ngài hằng luôn tha thiết mong đợi.

Không giống như mọi người khác (đời cũng như đạo) là “Úy (Húy) tử, tham sanh” (ham sống sợ chết),trái lại ngài còn mong sao cho NÓ chóng đến từng ngày – không phải chỉ mới có gần đây thôi đâu – mà ngay từ khi ngài vừa bắt đầu đáo vào năm tuổi hạn (đầu năm Nhâm Thân, 68 tuổi). Trong di cảo của ngài để lại mà Đại đức Bổn sư Thích Hải Quang mới nhận được sau này (gần 4 tháng sau ngày cố Hòa thượng viên tịch) có ghi một đoạn thơ sau đây:

Sáu tám năm qua, sắp đến ngày,
Trời Tây con trẻ mộng hồn bay.
Trong mơ kính lễ cha già hỏi: (4)
Tin tức chừng nao mới đáo lai?
Vô nhất Tăng
(Chờ đợi tin về)
(Nhâm Thân – ngày đầu năm)

Và rồi kịp đến ngày Khánh Đản của Đức Bổn Sư (ngày Phật Đản sanh, rằm tháng tư năm Nhâm Thân, phật lịch 2536), chắc có lẽ là cố Hòa thượng đã nhận được đích xác cái “Tin tức” ấy rồi, (tức là ngài đã dự biết trước được ngày giờ vãng sanh của mình) nhưng theo thông lệ của chư Tổ sư từ xưa là không bao giờ “rêu rao, khoe trước” chi cả, mà chỉ thầm lặng ghi vào trong di cảo để lưu hậu mà thôi.

Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:

– “Không khi nào tự xưng ta thiệt là Bồ tát, thiệt là A La Hán, khinh thị lời nói với kẻ vị học mà làm tiết lộ cơ bí mật của Phật, chỉ trừ lúc mạng chung có di chúc thầm cho biết mà thôi.

(… Chung bất tự ngôn, ngã chơn Bồ tát, chơn A La Hán, tiết Phật mật nhơn, khinh ngôn vi học, duy trù mạng chung ấm hữu di phủ).

Vì đã biết được như vậy, nên cố Hòa thượng không hề hé môi tiết lộ chi hết về ngày quy tịch của mình, ngay chính cả ni sư trưởng tử là người thân cận nhất mà cũng không sao biết được nữa. Ngài chỉ âm thầm ghi vào trong “nhật ký” ngày giờ quy Tây của mình mà sau này khi ngài viên tịch đi rồi, mấy tháng sau mới tìm thấy được (nhơn đọc lại quyển nhật ký của cố Hòa thượng) bấy giờ mới khám phá ra bài kệ: “Quy kỳ vịnh” của ngài như sau:

QUY KỲ VỊNH (5)
Tam thử, Mão thời quy,
Lai, khứ thiểu nhơn tri.
Lục bát trần duyên mãn,
Thân xuất đáo Tây kỳ.
(Khánh đản 2536, 15-4 Âl – Nhâm Thân)
Vô Nhất Tăng– Thích Thiền Tâm
(Di hậu)

Bài vịnh “quy kỳ” bí ẩn này, ý nghĩa của nó lạ lùng và khó hiểu, đọc hoài mà vẫn không biết là ngài “di hậu” lại việc gì. Chỉ biết khái quát là nói về việc viên tịch của ngài mà thôi.

Câu đầu:

– Tam thử, Mão thời quy,

Tức là:

– Ba chuột, giờ Mẹo về,

Thì không biết nghĩa là gì? Mãi cho đến sau này mới khám phá ra ý nghĩa của chữ “Ba con chuột, và một con mèo” là:

Tam thử: 3 con chuột – là chỉ vào đúng ngày viên tịch của cố Hòa thượng – Ngài viên tịch ngày 21 tháng 11 Âl, nhằm vào ngày Giáp TÝ + tháng TÝ (tháng 11) + kiến Nhâm TÝ = 3 con chuột, lúc 6 giờ 15 phút sáng là giờ MẸO (mão thời) – còn chữ Quy kỳ đây là thời kỳ quy tận, quy tịch.

Câu thứ hai:

Lai, khứ thiểu nhơn tri.

Tức là nói về cái việc ĐẾN (nơi cõi đời này) và ĐI (khỏi cõi đời này) của ngài, người thường ít ai hay biết được. Như vậy thì ngài là ai đây? là Bồ tát, A La Hán hay là Tổ sư ứng thế? mang thân phàm này để tu hành, làm gương mô phạm cho hàng tứ chúng và chấn chỉnh cùng hoằng dương về Tịnh Độ tông (nghĩ có lẽ ngài là ứng thân của Ấn Quang Tổ sư – là vị tổ thứ 13, cuối cùng của tông môn Tịnh độ bên Trung Hoa) vì bình sanh ngài rất mến mộ Ấn Quang Đại sư, vả lại việc hóa đạo của ngài cũng lại rất giồng với vị tổ sư này.

Câu thứ ba:

Lục bát trần duyên mãn,

(Sáu tám duyên đời hết)

Cầu này ý nghĩa tương đối rõ ràng hơn là ngài ám chỉ đến năm sáu tám (tức là năm sáu mươi tám tuổi) thì duyên trần của ngài đã mãn, và ngài sẽ ra đi (ứng thân di tận).

Câu thứ tư:

Thân xuất đáo Tây kỳ.

(Bỏ thân trở về Tây)

Chữ Thân xuất đây cũng có nghĩa là năm (Nhâm) THÂN (1992) nữa.

Như vậy thì ngài đã biết được “QUY KỲ” của mình rồi (chữ cuối nơi câu đầu trong bài vịnh và chữ cuối của câu chót  hợp lại thành ra hai chữ “QUY KỲ” (tức là thời kỳ quy tịch). Ngày giờ đó chính là ngày, giờ và tháng, năm mà ngài sẽ thị tịch vãng sanh.

Ấy là:

Giờ Mẹo (6g 15 phút sáng) ngày Giáp Tý (21), tháng Tý (tháng 11 Âl) – Kiến Nhâm Tý, năm (Nhâm)THÂN (1992 dl).

(Tịch ngày 21 tháng 11 Âl năm Nhâm Thân, lúc 6 giờ 15 phút hưởng thọ 68 tuổi đời, 48 tuổi đạo).

Mặc dầu đã biết rõ như vậy nhưng ngài vẫn trầm hậu không nói ra lời hay bày tỏ cử chỉ chi khác lạ, trái lại ngài vẫn sống an điềm như những bình nhật đã qua, ăn uống đạm bạc, tu hành tinh tấn, và nay đau, mai yếu rề rề … Thiệt là con đường đi của một bậc cao tăng, người đời ít ai hay biết được!

Đến ngày 20 tháng 10 Âl (tức ngày 14/11/dl 1992) – một tháng trước khi viên tịch – ngài có lưu lại một bài thơ (áp út) sau đây trong di cảo:

TỰ-CẢM
Sáu tám nhọc nhằn kể xiết chi,
Thăng trầm nhiều nổi chi không đi.
Mài giũa cho thành ra ngọc quý,
Mới hay châu nọ thiệt “Ma ni”.
Một niệm công thuần hai bốn chẵn,
Cõi tạm khứ hồi mấy kẻ tri!
Khỉ đến, mèo kêu, ba chuột chạy,
Trần duyên vĩnh dứt, đoạn sầu bi.
Vô Nhất Tăng – Thích Thiền Tâm
(Tự cảm – 21-10 Âl – Nhâm Thân)

Bảo Đăng xin sơ lược ý của bài thơ này như sau

Câu 1:

Sáu tám nhọc nhằn kể xiết chi,

Là ý ngài nói 68 năm sống ở trên cõi đời này ngài đã chịu nhiều nỗi nhọc nhằn (phiền não) khó mà kể cho xiết (hết) được.

Câu 2:

Thăng trầm nhiều nỗi chi không đi.

Là ý ngài nói mặc dù đã chịu không biết ba nhiêu thăng trầm, vinh nhục rồi nhưng chí nguyện quyết tâm tu hành, cầu giải thoát của ngài vẫn không vì đó mà thay đổi.

Câu 3:

Mài giũa cho thành ra ngọc quý,

Đây là ngài nương theo ý của câu: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhơn bất học bất tri lý”, tức là: Ngọc mà không giũa mài thì không thành ra ngọc quý, người mà không học (đạo) thì không thông lý (đạo), còn cuộc đời của mình cũng thế, nếu như không bị mài giũa, thăng trầm ắt sẽ không thể nào tâm cuơng quyết được.

Sách có câu:

Vô nhơn kiến xúc, đạo quả nan thành.

(Không người xúc não, khó thành đạo quả)

Hoặc là:

Ma vô khảo bất thành đại đạo.

(Không bị ma khảo thì không thành Phật được)

Và lại trong bộ luận “Bảo Vương Tam muội” cũng có dạy rằng:

  1. Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không tật bệnh, vì không tật bệnh thì tham dục dễ sanh.
  2. Ở đời đừng cầu không bị khó khăn vì không bị khó khăn thì kiêu sa nổi dậy.
  3. Cứu xét tâm tánh đừng cầu không khúc mắc vì không bị khúc mắc thì sở học không vượt bực.
  4. Sự nghiệp đừng mong không bị chông gai vì không chông gai thì chí nguyện không kiên cường.
  5. Làm việc đừng mong dễ thành vì quá dễ thành thì thường sanh kiêu ngạo.
  6. Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
  7. Với người thì đừng mong thuận chiều ý mình vì được thuận chiều ý mình thì sanh tự kiêu.
  8. Thi ân đừng cầu đáp trả vì cầu đáp trả là thi ân có mưu tính.
  9. Thấy lợi đừng nhúng tay vào vì nhúng tay vào thì hắc ám tâm trí.
  10. Oan ức không cầu biện bạch, vì biện bạch thì hèn nhát mà trả thù thì oán đối kéo dài…

Chính vì nhờ có các sự MÀI, GIŨA nên ngọc kia mới thành ra quý ngọc được (như viên ngọc bích của họ HÒA trong thời (Đông Châu liệt quốc) vậy. Trường hợp của cố Hòa thượng đây cũng giống y như thế.

Câu 4:

Mới hay châu nọ thiệt “Ma ni”.

Là ý ngài nói nhờ mài, giũa như vậy nên chẳng những nở thành ra ngọc quý mà thôi, mà đó lại chính là ngọc: “Ma ni như ý thần châu” nữa (tức là đạt được đạo mầu giải thoát).

Câu 5:

Một niệm công thuần hai bốn chẵn,

Một niệm đây là nhứt niệm, tức là một câu niệm: A Di Đà Phật – mà ngài đã cố công rèn luyện trong suốt 24 năm trời như vậy, nay công ấy đã thuần rồi, chỉ còn nhờ ngày chuyển thành ra diệu dụng (vãng sanh) mà thôi.

Câu 6:

Cõi tạm khứ hồi mấy kẻ tri!

Là ý ngài nói mình đến ở nơi cõi tạm này và rời khỏi nó để ra đi, người thế gian ít ai biết được (tông tích) cả (Phi tích cao tăng).

Câu 7 và 8:

Khỉ đến, mèo kêu, ba chuột chạy,

Trần duyên vĩnh dứt, đoạn sầu bi.

Là ý ngài nói vào năm Nhâm Thân (năm nay 1992), nội trong ngày Tý, tháng Tý, kiến (nhâm) Tý, lúc giờ Mẹo là ngài vĩnh viễn dứt tuyệt duyên trần, không bao giờ còn bị sầu khổ, bi ai nữa.

Lành vậy thay  Vô Nhất đại sư.

Thời gian từ đây trở đi (cho đến ngày viên tịch) ngài dặn bảo, giao phó và chúc lụy hết tất cả mọi việc tịnh xứ lại cho ni sư trưởng tử Thích Thanh Nguyệt – chỉ dạy cho người cách thức quản chúng và thay thế mình lãnh đạo sư môn dắt dìu đệ tử cùng với các công việc cần thiết khác.

Đã nhiều lần ni sư cùng các môn đồ dập đầu ai thỉnh (khóc mà thỉnh) xin hòa thượng từ bi nán lại thêm ít lâu nữa bởi vì chúng con còn thơ dại (trong cả hai đường đạo lẫn đường đời) và Phật sự thì còn rất đa đoan, chùa chưa cất, tượng (Tỳ Lô giá na cao 15m) vẫn chưa dựng xong, kinh phiên dịch còn đang bỏ dở v.v… thầy ra đi rồi thì ai sẽ là người thay thế thầy để dạy dỗ, dìu dắt chúng con đi trên con đường đạo đầy dẫy chông gai, hiểm nạn này.

Ngài từ ái bảo:

– Chớ có buồn rầu, pháp của chư Phật là phải như thế. Hữu sanh tất hữu tử – lý đó con đã biết rồi. Hãy cố dằn tâm lại mà lo chơn thật, cố gắng chuyên tu. Ta đi trước rồi, các con lần lượt cũng sẽ đi sau. Đó là định luật vô thường, xưa nay vẫn vậy.

Bảy ngày trước khi viên tịch, cố Hòa thượng có dặn ni sư một điều rất quan trọng là:

– Sau khi thầy viên tịch rồi, ngày khai mộ (mở cửa mã) của thầy sẽ có hai vị Kim xà vương đệ tử đến thọ tang, hai vị này sẽ biến hình ra thành hai con “Kim Xà” (rắn vàng) bò đến trước đầu mộ. Con nhớ trông chừng và bảo vệ cho hai vị ấy yên lành trong thời gian họ thọ tang, đừng để cho ai đụng chạm đến nơi thân mình của họ. Phải nhớ đừng quên.

Còn về việc chùa và tượng Tỳ Lô Giá Na thì sau này sẽ có người từ ngoại quốc về giúp con xây dựng, mọi việc rồi cũng sẽ viên thành trong thời gian chừng hai năm trở lại mà thôi.

Ngày 20 tháng 11 Âl năm Nhâm Thân, ngài gọi ni sư trưởng tử vào và dặn bảo thêm các lời di chúc tối hậu. Trong di cảo của ngài để lại, nơi trang chót còn có ghi một bài thơ cuối cùng như sau:

BÀI TỰ CẢM CUỐI CÙNG
Sáu tám năm qua việc đáng kinh,
Thăng trầm vùi dập, lắm tai tinh.
Chẳng qua một giấc mơ dài ấy,
Mà kiếp phù sinh tạm múa hình.
Hai bốn năm ròng chuyên NHỨT NIỆM,
DI ĐÀ sáu chữ phóng quang minh.
Hôm qua tin tức trời TÂY báo,
GIỜ MẸO MAI ĐÂY TẠ THẾ TÌNH.
Vô Nhất Tăng.
Liên Du – Thích Thiền Tâm
(Bài lưu hậu cuối cùng – Năm Nhâm Thân
ngày Quý Hợi 20-11 Âl – (13-12 Dl-1992)

Bảo Đăng xin lược khái quát ý nghĩa của bài thơ này như sau:

Đại ý ngài nói:

– Sáu mươi tám năm qua sống trên cõi thế này, đời ngài đã lãnh chịu không biết bao nhiêu nạn tai và thăng trầm vùi dập… cả một kiếp đời trôi qua như thế, nghĩ lại cũng giống như là một giấc mơ dài (ác mộng) mà thôi. Cái kiếp phù sinh như bào, như ảnh cùng với xác thân tứ đại này đây, chẳng qua cũng giống như một cái hình nộm múa máy tay, chân, … đứt hết giây rồi, té nhào xuống thì thành ra một đống vô dụng (chết).

– 24 năm về ẩn tu tại đây, ngài chỉ ròng rặc chuyên trì nhứt niệm A DI ĐÀ PHẬT, nay công đã thành, quả đã mãn. Hôm qua (19-11 Âl Nhâm Thân), Đức A DI ĐÀ Thế tôn đã có đến báo tin rằng:

– Giờ Mẹo ngày mốt (6 giờ 15 phút sáng ngày 21/11 Âl năm Thâm Thân) là ngài sẽ vĩnh biệt cõi Ta bà này và trực chỉ thẳng về nơi An dưỡng.

Suốt hai hôm sau cùng của Tôn sư trên cõi thế, tất cả đại chúng nơi Phương Liên Tịnh xứ vi thảy đều đau buồn trong cảnh con sắp mất cha nên không một ai chợp mắt được cả. Riêng phần vị sư trưởng tử thì lòng nóng như lửa đốt, tâm trí rất mực bi ai, giả sử như lúc đó nếu có người nào bảo rằng hãy lấy thân mạng của nhà ngươi để chuộc lại sự sống còn cho Hòa thượng, thì chắc chắn là ni sư cũng sẽ chịu liền!

Đêm đó (20 rạng 21) Hòa thượng ngồi trước bàn Phật (ở trên lầu) trì niệm suốt buổi. Đến 3 giờ sáng, ngài biết thời khắc vãng sanh sắp đến nên mở mắt ra, truyền lịnh cho ni sư trưởng tử triệu chúng vào trong tịnh thất hộ niệm. Kế đó Hòa thượng bước xuống lầu rửa mặt, nghiêm chỉnh y hậu xong ngài an tọa vào trên chiếc ghế nơi mà ngài vẫn thường ngồi để tịnh niệm thường nhật, tay trái kết ấn “Di Đà định”, tay mặt lần chuỗi niệm Phật.

Trước mặt Đại sư là ni sư trưởng từ và các đồ chúng nơi Phương Liên tịnh xứ vân tập đầy đủ. Đồ tôn là tỳ kheo Thích nữ Bảo Đàn thỉnh bức tượng tranh của đức A DI ĐÀ Thế tôn đứng trong vị thế tiếp dẫn đặt nơi trước mặt ngài. Các môn đồ, pháp quyến vừa rơi lệ khóc thầm, vừa cất cao tiếng hộ niệm …

Đại sư mỉm cười thốt lời an ủi rằng:

– Hãy bình tâm lại, đừng có khóc nữa. Ta được về Tây là điều hân hạnh, các con hãy theo đó mà cố gắng niệm Phật chuyên cần. Nếu được như vậy, ắt một ngày kia sẽ cùng hội ngộ nhau nơi miền An dưỡng.

Còn các việc thành, bại, vinh hư trên cõi đời này, chẳng phải là chỗ quan tâm đến của ta.

Đoạn ngài đọc bài kệ rằng:

Đời ta chỉ gởi chốn Liên trì,
Trần thế vinh hư sá kể gì.
Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,
Mừng nay được thấy đức A DI.

Tuyên xong lời kệ sau cùng này, ngài ngồi yên trên ghế, nhắm mắt như vào trong định. Đại chúng biết chắc. Đại sư sắp sửa quy Tây, nên đồng cất cao tiếng hộ niệm, mỗi lúc càng thêm khẩn thiết.

Đến 6 giờ 15 phút (giờ Mẹo) Đại sư bỗng mắt ra, chấp tay nói:

TA ĐI ĐÂY – ĐẠI CHÚNG NÊN BẢO TRỌNG

Đoạn nhắm mắt lại, tay trái ngài vẫn kết ấn DI ĐÀ Định, tay mặt buông xuôi xuống, xâu chuỗi từ trên tay ngài rơi xuống chiếu và ngài lặng im, an nhiên thoát hóa ngay trên bản tọa.

Ni sư trưởng tử và các môn đồ pháp quyến cố gắng dằn lòng xúc động, nén nổi bi thương, vẫn để yên di thể ngài ngồi trên bản tọa như vậy và tiếp tục hộ niệm thêm hơn hai giờ đồng hồ nữa. Đến 9 giờ sáng mới cùng nhau nhẹ đỡ pháp thể ngài lên, đặt nằm ngay ngắn trên đơn (của ngài), đắp mền lại kỹ lưỡng trông y như ngài vẫn còn đang ngủ vậy.

Toàn thân của Đại sư vẫn mềm, ấm, dịu dàng và dung sắc vẫn còn hồng hào, tươi nhuận y như còn sống. Đỉnh đầu ngài nóng hực như tưới nước sôi.

Sách có câu:

Đảnh thánh, mắt sanh trời
Bụng nóng ngạ quỷ, tim nóng người.
Bằng sanh thần thức ra đầu gối,
Nóng ở bàn chân, địa ngục thôi.

Chiếu theo các hiện tượng trước và sau khi viên tịch cùng với ý câu đầu của:“Đảnh thánh, mắt sanh trời” trong bài kệ này thì biết chắc rằng:

ĐẠI SƯ ĐÃ ĐẠT XONG NGUYỆN VỌNG CỦA MÌNH VÀ ĐƯỢC VÃNG SANH VỀ NƠI CỰC LẠC.

Đại sư hưởng thọ tuổi đời được 68,tuổi đạo 48 (Tăng lạp 42).

Về phần của các chúng nơi Phương Liên tịnh xứ thì sau khi an pháp thể của Đại sư ở trên đơn xong rồi, đồng nhau khấn đầu lễ tứ bái vĩnh biệt, kế đó đóng cửa thất của ngài lại, cùng bước ra ngoài để chuẩn bị lo tiếp các phần hậu sự.

Đến 9 giờ 30 phút, đại chúng ở ngoài Hương Nghiêm Tịnh viện hay tin, đồng nhau kéo vào, dùng đa số và cường lực phá cửa thất ra “thỉnh ngang” di thể của ngài đưa thằng về chùa.

Lễ di quan, nhập thất hoàn tất vào khoảng 8 giờ sáng ngày 25-11 Âl năm Nhâm Thân (18-12-1992 dl) tại Hương Nghiêm Tịnh viện.

Đại sư là một cao tăng đắc đạo và được vãng sanh Cực lạc duy nhất trong thời buổi cận đại này, ngài là một bậc thạc sư về Phật học, là một vị đại tăng chói rực phần danh đức trong vòm trời Phật giáo Việt Nam và là một đại tôn sư hoằng dương cả hai pháp môn TỊNH ĐỘ cùng MẬT TÔNG lừng lẫy nhứt của Giáo hội từ trước đến giờ.

Sự hoàn nguyên của ngài là một mất mát cực kỳ lớn lao cho Giáo hội và để lại vô vàn nhớ nhung, thương tiếc cho toàn thể tăng, ni, tín đồ Phật giáo Việt Nam khắp nơi trên thế giới.

Đại sư có lưu lại một viên NGŨ SẮC KIM CANG NHA XỈ XÁ LỢI (một răng cắm năm màu còn nguyên vẹn) cứng như kim cương, được bảo toàn kỹ lưỡng.

Ba ngày sau (21/12 dl 1992), trong lễ khai mộ của ngài, tất cả mọi người hiện diện đều trông thấy có một đôi kim xà màu vàng rực rỡ dài khoảng hai thước tây bò đến trước đầu mộ của Đại sư, nằm im một chốc, đoạn cất đầu ngó lên ni sư trưởng tử Thanh Nguyệt, gật đầu ba lượt rồi bò đi vào trong đám cỏ tranh gần đó biến mất. (Các hình ảnh về đôi Kim xà này đều đã được ghi nhận đầy đủ bằng hình chụp và video).

Kim xà Vương thọ tang
(Ảnh chụp vào ngày lễ khai mộ của cố Hòa Thượng)

Khắp nơi trong quốc nội hay được tin Đại sư viên tịch, thảy đều đồng cử phái đoàn về để chịu tang và kính lễ.

Đại lược được ghi nhận như sau (sơ khởi):

– Linh Sơn tự (và phái đoàn tăng ni Phật tử Đà Lạt).

– Đại diện Phật giáo của các tỉnh Đồng Nai, Phan Rang v.v…

– Đơn vị Phật giáo của tất cả các tỉnh miền Trung và miền Nam.

– Viện Nghiên cứu Phật học.

– Các tự viện khắp nơi trong toàn quốc.

– Vĩnh Tràng tự (Mỹ Tho) – Sắc tứ tự (và phái đoàn chùa tổ).

– Các ban giám hiệu, ban giảng huấn của các viện Trung và Cao đẳng Phật học Phan Thiết, Phan Rang, Đồng Nai, Huệ Nghiêm, Thủ Đức, Long An và các trường Phật học khác trong toàn quốc.

– Các Tăng ni sinh đệ tử thuộc các trường Phật học Huệ Nghiêm, Dược sư, Từ Nghiêm v.v…

– Tất cả các môn đồ, pháp quyến khắp nơi trên toàn quốc.

– Phật tử tỉnh Tuyên Đức và các Niệm Phật đường tại Phú An, Đại Ninh, Thiện chí (do ngài sáng lập)v.v…

Ngoài quốc ngoại, các tự viện Việt Nam khắp nơi trên năm châu hay tin cũng đều thành kính cử hành các đại lễ cầu siêu, tưởng niệm … Riêng tại thành phố Tucson, Arizona, Đại Đức Viện chủ kiêm trụ trì PHÁP HÒA tự THÍCH HẢI QUANG là cháu ruột của Đại sư (đã bế quan tịnh tu vô thời hạn hơn ba năm qua tại miền Trung Mỹ) nhận được tin buồn cấp báo cũng liền ra thất và tức tốc trở về chùa để cùng với các môn đồ pháp quyến cùng chư Phật tử tại địa phương cử hành đại lễ chịu tang và truy tiến giác linh cố Đại sư.

Trước tin tức đau buồn này, tất cả các môn đồ, pháp quyến thống thuộc Pháp duệ (dòng pháp) của Đại sư tại PHÁP HOA tự Tucson, Arizona đã cho phổ biến một bản “Ai tín văn” đến các bổn đạo, Phật tử của ngài hiện diện khắp nơi trên toàn quốc để thông báo sau.

AI TÍN

Toàn thể Phật giáo đồ tiểu bang Arizona và riêng các môn đệ tại thành phố Tucson vô cùng đau đớn báo tin:

Sư tổ: VÔ NHẤT ĐẠI SƯ
Hòa thượng THÍCH THIỀN TÂM

Viện chủ Hương Nghiêm Tịnh viện, Pháp chủ Phương Liên Tịnh xứ Mật Tịnh đạo tràng, tại Đại Ninh, ấp Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng VN.

Đã an lành thị tịch vãng sanh vào lúc 6g15 sáng ngày 21-11 Âl năm Nhâm Thân. (Nhằm ngày thứ hai 14-12 dl năm 1992) Hưởng thọ: 68 tuổi.

Ngài là một vị Đại tăng chói rực phần danh đức, được xem như là một thánh tăng đương kim và là con mắt của Phật giáo Việt Nam trong hiện tại.

Sự “Hoàn nguyên” của ngài là một mất mát vô cùng to lớn cho toàn thể Phật giáo đồ và Phật giáo Việt Nam trong quốc nội cũng như quốc ngoại.

Chúng con xin thành kính cúi lạy trước kim quan và nguyện Giác linh ngài được vãng sanh về ngôi kim đài thượng phẩm nơi miền Tây Phương An Lạc quốc.

Ưu bà di BẢO ĐĂNG

Hội trưởng, trưởng ban hoằng pháp, nghi lễ.

Pháp Hoa Tự – Tucson, Arizona. Đồ tôn Pháp duệ. Cùng tất cả đồ tôn thuộc các dòng pháp: HIỀN, TÂM, MINH, CHƠN, TỊNH, BẢO, HẠNH, VIÊN.

Đồng khóc báo.

Song song với bản “Ai Tín văn” này, chùa Pháp Hoa Tucson, Arizona đồng thời cũng đã cho phổ biến một bản “CẢM TẠ văn” của Ni sư trưởng tử Thích nữ THANH NGUYỆT và cháu ruột kiêm đệ tử của cố Đại sư là Đại Đức Viện chủ kiêm trụ trì PHÁP HOA tự THÍCH HẢI QUANG để bày tỏ lòng tri ân đến chư Hòa thượng, thượng tọa, Đại đức Tăng ni v.v… khắp nơi (quốc nội và quốc ngoại) đã có lòng tưởng nghĩ đến cố Hòa thượng qua các đại lễ tưởng niệm được cử hành, như sau:

CẢM TẠ

Chúng con xin thành tâm đê đầu đảnh lễ, ngưỡng tạ công đức của quý chư Tôn:

Hòa thượng  Thượng tọa  Đại Đức Tăng Ni.

Viện chủ  Pháp chủ, thống lãnh các Phật tự, Tịnh xá, trung tâm cùng các khuôn hội Phật giáo trong cũng như ngoài nước, đã cử hành các đại lễ cầu siêu, truy tiến, tưởng niệm và đưa tiễn đến nơi an nghỉ cuối cùng cho thầy bổn sư, thế độ của chúng con là:

Hòa thượng THÍCH THIỀN TÂM
Viện chủ Hương Nghiêm Tịnh viện,
Pháp chủ Phương Liên Tịnh xứ Mật Tịnh đạo tràng

Viên tịch vào lúc 6g15 sáng ngày thứ hai 14-12 dl năm 1992, tức ngày 21-11 Âl năm Nhâm Thân, tại Phương Liên Tịnh xứ, Đại Ninh, ấp Phú An, xã Phú Hội, quận Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Việt Nam.

Hưởng thọ 68 tuổi đời  48 tuổi đạo.

Trong pháp sự rộn ràng, nếu có sơ sót điều chi, xin chư tôn đức từ bi miễn thứ cho.

VIỆT NAM QUỐC: Ni sư Thích nữ THANH NGUYỆT đệ tử, thị giả, trưởng pháp tử, hậu duệ, pháp duệ, chánh văn phòng tại Phương Liên Tịnh xứ, Đại Ninh – Phú An, Phú Hội, Đức Trọng – Lâm Đồng.

HOA KỲ QUỐC: Đại đức THÍCH HẢI QUANG, Viện chủ  trụ trì Pháp Hoa Tự, Tucson, Arizona. Cháu đích tôn, đệ tử, hậu duệ, pháp duệ.

Cùng tất cả các đệ tử xuất gia, tại gia trong quốc nội, ngoài quốc ngoại. Đồng khấu bái.

Kế tiếp đó, cũng cùng một lý do tương tự (như trên), chùa cũng đã cho đăng phổ biến một bản CẢM TẠ khác nữa từ nơi đại gia đình (thế gia) của cố Đại sư – tức là bên Nội của Đại Đức Bổn sư THÍCH HẢI QUANG ở tại xã Bình Xuân, quận Hòa Đông, tỉnh Gò Công như sau:

CẢM TẠ

Chúng tôi, toàn thể đại gia đình họ Nguyễn, Bình Xuân, Gò Công, xin thành kính nghiêng mình cảm tạ quý chư tôn:

Hòa thượng  Thượng tọa  Đại Đức Tăng Ni, cùng tất cả chư liệt vị Phật tử khắp nơi trong quốc nội và quốc ngoại. Đã cử hành các lễ: Truy tiến, cầu siêu, phân ưu, tưởng niệm và đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng cho Đại sư và cũng là anh em, bác, chú, cậu ruột của chúng tôi là:

Đại sư – Hòa thượng THÍCH THIỀN TÂM

(Húy danh Nguyễn Nhựt Thăng) sanh năm Ất Sửu 1925 tại làng Bình Xuân, quận Hòa Đồng, Gò Công.

Viên tịch vào lúc 6g15 sáng, ngày thứ hai 14-12 dl 1992 (nhằm ngày 21-11 Âl năm Nhâm Thân) tại Phương Liên Tịnh xứ đạo tràng, Đại Ninh, ấp Phú An, xã Phú Hội, quận Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Việt Nam. Hưởng thọ 68 tuổi.

Vì đường sá xa xôi, tang quyến đạm bạc. Nếu có điều chi sơ sót xin quý vị từ bi miễn thứ cho.

Thay mặt toàn thể đại gia đình,

NGUYỄN VĂN THẮNG  Vợ và các con

Bình Xuân – Hòa Đồng – Gò Công VN

Em trai út.

Đồng cúi lạy, và cảm tạ

Những bản văn Ai Tín, Cảm Tạ này đều đã được gởi đăng trên các nhật báo, Tuần báo, Bán nguyệt san, Nguyệt san… phổ thông khắp nơi trên nội địa Hoa Kỳ.

Gần 5 tháng sau, nhân có chút duyên sự về bên quê nhà, người viết – Bảo Đăng tôi – đã dành ra rất nhiều thời giờ và cố công đi sưu tìm các tài liệu có liên quan đến cuộc đời của cố Đại sư để (quyết tâm)biên soạn thành một quyển sách, tựa đề:

VÔ NHẤT ĐẠI SƯ
THÍCH THIỀN TÂM.
MỘT CAO TĂNG CẬN ĐẠI.

tức là quyển sách mà quý đạo hữu đang có ở trên tay đây. Sau gần một năm cặm cụi và đơn thân biên soạn, đánh máy, trang trí, trình bày v.v… xong. Tôi có trình bạch lên Đại Đức Bổn sư THÍCH HẢI QUANG duyệt khán, xin thầy cho phép được in ra để ẤN TỐNG và được Đại Đức chuẩn y bằng một THÔNG BẠCH như sau:

Phật lịch 2537/DL 14/8/1993

THÔNG BẠCH

Trích yếu: Về việc in Ấn tống quyển sách:

“VÔ NHẤT ĐẠI SƯ THÍCH THIỀN TÂM,MỘT CAO TĂNG CẬN ĐẠI”.

Nam mô Bổn sư THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Kính thưa quý Phật tử.

Như quý Phật tử đã biết, vào ngày 21 tháng 11 Âl năm Nhâm Thân 1992 vừa qua, một vị danh đức Đại Tăng của Phật giáo Việt Nam, Cố Hòa Thượng Đại Ninh THÍCH THIỀN TÂM, Viện chủ Hương Nghiêm (Vĩnh Minh) Tịnh viện, Pháp chủ Phương Liên Tịnh xứ Mật Tịnh Đạo tràng ở Đại Ninh, ấp Phú An, xã Phú Hội, quận Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (Đà Lạt), đã an nhiên thị tịch ngay trên bản tọa giữa tiếng niệm Phật vang rền của các môn đồ, pháp quyến hộ niệm nơi Phương Liên Tịnh xứ, huởng thọ 68 tuổi đời, 48 tuổi đạo.

Sự viên tịch với đầy đủ thoại tướng vãng sanh của ngài là một chứng tin oai hùng cho pháp môn Tịnh độ mà Cố Hòa Thượng đã khổ công hoằng dương suốt cả một cuộc đời tu tập của mình, làm cho toàn thể Tăng tín đồ Phật giáo Việt Nam khắp nơi đã và đang tu theo Tịnh Độ pháp môn càng tăng thêm lòng tin sâu chắc nơi lời dạy của đức Bổn sư và sự tiếp dẫn vãng sanh của đức A DI ĐÀ Thế tôn về An lạc quốc của riêng pháp môn này.

Để tỏ lòng biết ơn và cũng để muốn hiến dương lên phần nào danh đức của một bậc tôn sư đáng kính, lại thêm vào đó với tư cách của một đồ tôn (đệ tử cháu) đối với sư ông của hệ phái Tịnh Độ Đại Ninh Phương Liên Mật Tịnh Đạo tràng. Đương kim Hội trưởng kiêm trưởng ban Hoằng pháp và Nghi lễ của chùa Pháp Hoa, Tucson  Arizona là Ưu bà di BẢO ĐĂNG sau hai lần về Việt Nam thâu nhặt tài liệu để viết thành một quyển sách ghi lại cuộc đời của cố Hòa Thượng tựa đề là:

“VÔ NHẤT ĐẠI SƯ – THÍCH THIỀN TÂM, MỘT CAO TĂNG CẬN ĐẠI”.

để cho các Phật tử trẻ tuổi cùng các người học Phật và tu hành theo phương pháp “Mật Tịnh pháp môn” của hệ phái Tịnh Độ Đại Ninh sau này có nơi y cứ vững chắc mà phát triển lòng tin nơi pháp môn Tịnh Độ, nay đã hoàn tất sau gần một năm dài biên soạn.

Sách dài 500 trang, bài vở được sưu khảo và biên soạn công phu sẽ được in để ẤN TỐNG vào tháng 12 dl 1993 tới đây (có thể sẽ trễ hơn vài tháng sau).

Vì thế nên tôi kính gởi bức Thông bạch này đến quý đạo hữu, Phật tử, nhất là những ai đã từng quen biết, học hỏi, y chỉ, cầu pháp hoặc là các đệ tử, đồ tôn, hoặc là các Phật tử của cố Hòa Thượng Đại Ninh THÍCH THIỀN TÂM lời kêu gọi phát tâm tùy hỷ đa thiểu vào việc ấn tống quyển sách đầu tiên, đặc biệt, duy nhất và cực kỳ giá trị này cho sớm được hoàn tất vào ngày giỗ giáp năm của cố Hòa Thượng sắp tới đây, lấy đó để làm một “Tấm lòng thành” dâng lên cúng dường và báo đền ơn đức hóa độ trước giác linh của Hòa Thượng.

Số lượng sách dự trù in từ 5.000 quyển hay hơn nữa.

Chi phiếu tùy hỷ vào việc pháp sự này xin gởi về

CHÙA PHÁP HOA
PT. BẢO ĐĂNG / Ban ẤN TỐNG Kinh sách
1107 E.32nd St.Tucson – Arizona 85713
Phone: 602-623.8409

Sách này sẽ được “Ấn tống” đến quý đạo hữu ngay sau khi việc ấn loát được hoàn tất.

Nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho quý đạo hữu, Phật tử được một may lành, bền lòng Tín, Hạnh, nguyện nơi pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật tu hành trong hiện tại và được sanh về Cực lạc Tịnh độ ở tương lai để khỏi phụ ơn của đức THÍCH TÔN và A DI ĐÀ Như Lai từ phụ cùng sự hoằng dương hóa độ của Hòa Thượng Đại Ninh tôn sư.

Trân trọng.

B. PHẦN CHUNG KẾT

Bắt đầu từ nơi phần dẫn nhập của quyển sách này…

Quý đạo hữu, chư độc giả cũng đã xem qua và thấy lại được (ít, nhiều về) cuộc đời của cố Hòa Thượng Đại Ninh THÍCH THIỀN TÂM – một bậc vãng sanh cao tăng hiện đại – từ lúc ngài ứng thế vào năm Ất Sửu 1925 nơi xã Bình Xuân, quận Hòa Đồng, tỉnh Gò Công rồi lớn lên, xuất gia, kế tiếp là trên bước đường tu học cùng hoằng dương đạo pháp, bềnh bồng phiêu dạt trong cõi tạm này, từ nơi nọ đến chỗ kia… Ẩn tu, nhập thất v.v… CHO ĐẾN ĐÂY – nơi phần chung kết này – là những giờ phút cuối cùng của ngài – của một đời người trên cõi thế. Như những dòng thơ lưu hậu sau rốt của ngài còn để lại:

Chẳng qua một giấc mơ dài ấy,
Mà kiếp phù sinh tạm múa hình.

Trong tất cả chúng ta: những người con Phật với một nguyện tâm chân chính, học đạo, tu hành cầu chơn giải thoát – cũng như cố Đại sư vậy – ai mà chẳng thấy lòng dâng lên một mối cảm khái, u hoài cho thân phận của thế nhân ư!

Kinh dạy:

… “Này A Nan, Phàm có sanh thảy đều có tử chớ chẳng được thường còn. Dầu cho uống thuốc trường sinh kéo dài năm tuổi (thọ) chung quy rồi cũng chẳng thoát khỏi tử thần giết chết đưa qua đất trống.

… Phải biết, sanh sống không đáng vui ưa. Tư lương đời sau phải nên chứa họp, chớ có buông lung, gắng siêng tu phạm hạnh chẳng nên lười nhát. Đối với các công đức lành (6) phải thường tích lập. Hằng luôn quán sát chính ở nơi mình, nơi lòng phải luôn ghi nhớ hai nghiệp THIỆN, ÁC đừng quên, chớ nên để về sau phải nói ăn năn, lúc ấy tất cả những vật sở hữu mến ưa đều rời lìa mà theo nghiệp thiện ác đi vào đời sau.

Này Nan Đà! Thọ mạng trăm năm có mười vị (giai đoạn):

– Tối sơ là anh nhi hạnh, vị này còn nằm trong nôi.

– Thứ hai gọi là đồng tử, làm trẻ nít vui đùa.

– Thứ ba gọi là thiếu niên, thọ các thứ dục lạc (vui thích).

– Thứ tư gọi là thiếu tráng dũng kiện ca lực (thiếu niên mạnh khỏe đầy đủ sức lực).

– Thứ năm gọi là thanh niên, có trí đàm luận (chuyện trò, bàn bạc)

– Thứ sáu gọi là thành tựu, hay khéo suy lường, giỏi về mưu kế, sách lược, mọi việc hơn thua.

– Thứ bảy gọi là lần suy (7) giỏi dắn kinh nghiệm, pháp thức.

– Thứ tám gọi là hủ mại, các căn đều suy nhược, yếu già.

– Thứ chín gọi là Cực lão, qua tuổi thọ không còn làm được bất cứ chuyện gì được nữa.

– Thứ mười gọi là trăm tuổi, đúng vào (mùi) vị chết.

Này Nan Đà!

Khái quát đời người lược nói có 10 vị như vậy. Nếu cứ tính bốn tháng làm một mùa, một năm có 3 mùa, thì đời người trăm tuổi, sống được 300 mùa – 100 mùa xuân, 100 mùa hạ và 100 mùa đông.

– Một năm có 12 tháng, đời người trăm tuổi sống được 1.200 tháng.

– Lấy mỗi nửa tháng (15 ngày) làm số thì được tất cả 2.400 lần nửa tháng.

– Nếu lấy ngày để tính ra, thì cuộc sống trăm năm có được ba vạn sáu ngàn ngày (36.000 ngày).

– Mỗi ngày ăn (hoặc bú sữa mẹ đều kể luôn cả) hai bữa (cơm) thì được bảy vạn hai ngàn bữa ăn(72.000).

Mạng người sống lâu năm tuổi được bao nhiêu đó, nay đã nói đủ: năm, tháng, ngày đêm và số uống ăn, các ông phải nên sanh tâm nhàm chán.

Này Nan Đà, thân ấy từ khi mới sanh ra cho đến lúc khôn lớn, trưởng thành có nhiều bịnh hoạn, như là các bệnh đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi, răng, cổ họng, ngực, bụng, tay, chân, cùi, hủi, điên cuồng, sưng thủng, ho suyển, bịnh phong, hoàng nhiệt, đàm ấm, gân cốt thịt xương đau nhức … Thân người có nhiều bệnh khổ như vậy. Lại còn có thêm 101 thứ bệnh phong, 101 thứ bệnh hoàng nhiệt, 101 thứ bệnh tổng hợp. Cộng lại là 404 thứ bệnh từ trong nội thân phát ra.

Này NAN ĐÀ! Thân thể này như ung nhọt, các bịnh hợp thành, không tạm thời dừng, niệm niệm chẳng ở lại. Thể chất của nó là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã, là pháp bại hoại (hư hỏng) gần nơi chết mất chẳng thể nào cưng yêu hay bảo tồn mãi được.

Này NAN ĐÀ! Các chúng sanh khi sống còn có những sự đau khổ khác nữa như là bị chặt tay, chân, đầu, bị móc mắt, thẻo tai, lắt mũi …ngục tù, gông cùm, nóng, mưa tuyết, muỗi mòng, kiến rận, ác thú, độc trùng, nhiều thứ bức não, khổ sở vô lượng, vô biên khó kể hết được… mà các chúng sanh ở giữa những sự thống khổ như vậy lại đam mê, vui thích.

Bao nhiêu các thứ dục lạc đều lấy KHỔ làm căn bản mà chúng sanh chẳng chịu rời bỏ lại cứ mãi đi tìm cầu, ngày đêm bị nung nấu thân tâm, nhiễu não, nội tâm cháy nóng hừng hực không lúc nào nghỉ.

Các khổ như là sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán thù hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ uẩn thọ khổ, đi, đứng, ngồi, nằm, thảy đều khổ cả, đi lâu, đứng lâu, ngồi lâu, nằm lâu thảy đều phát sanh ra đau khổ, nếu có tạm thời thay đổi oai nghi (như có đứng rồi có ngồi, nằm, đi v.v… thì cho rằng vui sướng chớ kỳ thiệt ra chẳng phải là vui sướng).

Này NAN ĐÀ, chúng sanh ấy đều là bỏ khổ này để đi tìm khổ khác, là pháp biến hoại chẳng bảo tồn được, phải cần biết đủ, phải biết chán lìa, phải siêng cầu giải thoát.

Lại này nữa Nan Đà!

– Không có một sắc pháp nào là đáng được mến ưa và không bị biến hoại, không có một sắc pháp nào mà chẳng phát sanh ra sầu, não, ai bi.

– Này Nan Đà!

Sắc ấy là thường hay là vô thường?

– Bạch Thế tôn, sắc ấy là vô thường.

– Này Nan Đà! đã là vô thường thì nó có khổ chăng?

– Bạch Thế tôn, thiệt là rất khổ.

– Này Nan Đà! đã là vô thường, là khổ, là biến hoại, như vậy thì các đệ tử đa văn (có học hiểu giáo lý)của Phật có cho rằng sắc là Ngã chăng, sắc là ngã sở chăng?

– Bạch Thế tôn, không. Trong sắc không có ngã cũng không có ngã sở. (8)

– Này Nan Đà! Sắc đã là vô thường, vậy Thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?

– Bạch Thế tôn, bốn ấm ấy cũng đều vô thường, đều là khổ não.

Phật dạy:

Ai là người có trí mà lại mến thích sanh tử như vậy (Đại Bảo Tích kinh  nhập thai tạng phẩm).

Trên đây Bảo Đăng tôi đã vì quý bổn đạo và chư Phật tử mà lược thuật lại lời kinh của Phật dạy để làm duyên cho hết thảy mọi người thấy rõ rằng đời là khổ, thân ngũ ấm, lục nhập này là nguồn gốc của tất cả khổ v.v… mà phát tâm chán bỏ, nhàm lìa, lập nguyện chí thiết, chân thật tu hành, niệm Phật cho thuần, không phải chỉ niệm được trong một vài ngày, một đôi tháng, một đôi năm hay năm, mười năm mà cho là đủ.

Phải niệm cho lâu bền, chuyên nhất cũng như cố Hòa Thượng tôn sư THÍCH THIỀN TÂM đây vậy.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm, (9)
Mừng nay được thấy đức A DI.

Một câu niệm Nam mô A DI ĐÀ Phật ấy, một đức Phật DI ĐÀ ấy mà ngài đã chuyên tâm lễ niệm suốt bốn mươi tám năm dài mới được vãng sanh.

Còn chúng ta thì niệm như thế nào đây?

Hỏi tức là đã trả lời rồi vậy.

Đến đây, trước khi kết thúc quyển sách này, BẢO ĐĂNG tôi một lần nữa xin cúi đầu thành kính dâng lên lời khấn nguyện rằng:

– Nguyện cho các đồng nhơn tu học, từ đây về sau và mãi mãi nên phát tâm cần cầu giải thoát bằng cách nương vào nơi pháp môn Tịnh độ và 48 nguyện lực của đức A DI Đà Thế tôn rồi chuyên tâm trì niệm sáu chữ hồng danh: Nam mô A DI ĐÀ PHẬT cho cực tinh thuần như Sư Tổ VÔ NHẤT Đại sư ta, để được hiện đời đới nghiệp vãng sanh về nơi Cực lạc, được bất thối chuyển cho đến ngày thành Phật.

Như vậy há chẳng là quý hơn sao?

Kính bạch Sư Tổ, BẢO ĐĂNG con và tất cả các môn đồ, pháp quyến của ngài ở khắp cả các nơi, nhất tâm đảnh lễ, dâng lên ngài lời chúc tụng thù ân sau đây:

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

Nam mô Hoằng dương môn Tịnh độ, Đại Ninh Hương Nghiêm cập Phương Liên đạo tràng – VÔ NHẤT Đại sư, THÍCH THIỀN TÂM Hòa Thượng.

Tác đại chứng minh (Tam xưng, tam bái).

LỜI TRẦN BẠCH,…….

Nam mô A DI ĐÀ PHẬT.

Kính bạch,

Hòa thượng giác linh Tôn sư:

Quyển sách này đã gói trọn tất cả tấm lòng thành kính và những sự quý mến sâu xa nhất của con kính dâng lên cúng dường ngài. Tuy rằng chưa được duyên may gặp gỡ, diện kiến và trực tiếp thọ pháp nơi ngài lần nào, nhưng qua Đại Đức Bổn sư Thích Hải Quang là cháu ruột của ngài, con cũng tự xem như mình đã được gián tiếp theo học từ nơi ngài vậy.

Việc biên soạn nên quyển sách này, qua lời dạy của ĐĐ. Bổn sư, con cũng biết có thể là một việc làm trái với tâm nguyện của Ngài, vì đã từ lâu ngài không có ý định muốn cho ai biết rõ về cuộc đời của mình cả.

Nhưng vì để lưu hậu, vì để nêu gương sáng cho các hàng hậu học sau này nên dù biết là như vậy mà con cũng vẫn mạn phép ngài biên soạn thành sách và in quảng bá ra, với ước nguyện duy nhất là mong sao cho các hữu duyên nhơn khi xem đến rồi ít nhiều đều phát khởi nguyện tâm, tu học theo hạnh của ngài để một ngày kia, trong buổi tương lai cũng được như ngài đồng nhau bước về nơi chín phẩm.

Trong niềm quý kính sâu xa dâng lên ngài và với những lý do như vừa trình bạch, một lần nữa con xin đê đầu đảnh lễ và ngưỡng mong ngài mở lòng từ ái mà lượng thứ cho.

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

Nam mô Hoằng dương môn Tịnh độ – Đại Ninh, Hương Nghiêm cập Phương Liên Tông chủ, Mật Tịnh đạo tràng VÔ NHẤT ĐẠI SƯ, THÍCH THIỀN TÂM Hòa thượng giác linh, tác đại chứng minh.

Viết xong tại chùa Pháp Hoa
(The Dharma Flower Temple)
Tucson, Arizona vào Tiết Trọng Đông,
Năm Quý Dậu, ngày 31-12 dl 1993
(Nhằm ngày 19-11 Âl)
Đồ tôn Ưu bà di BẢO ĐĂNG.
Bái Bạch.

LỜI KỆ SAU CÙNG CỦA NGƯỜI BIÊN SOẠN

Nương theo bút, cảo (10) biên soạn thành,
THIỀN TÂM Hòa Thượng yếu lược lục.
LIÊN DU, VÔ NHẤT Đại sư tăng,
Chi tiết cuộc đời ngài còn nhiều.
Chỉ ghi một ít lên lưu hậu,
Mong sao người đọc đều phát tâm.
Theo hạnh Hòa thượng gắng tu hành,
Để nêu gương sáng hàng hậu học.
Phật huyền ký trong đời mạt pháp,
Ức kẻ tu hành chỉ lý suông.
Nên cố giải thoát đời nay tựa:
Lông rùa, sừng thỏ kiếm sao ra!
Nhưng nếu noi theo nơi gương của,
THÍCH THIỀN TÂM – VÔ NHẤT ĐẠI SƯ.
Tất chẳng luống uổng kiếp tu hành,
Kết cuộc sẽ sanh về CỰC LẠC.
Xin đem công đức biên soạn này,
Hồi hướng khắp môn đồ, pháp quyến.
Nguyện y theo hạnh TÔN SƯ ta,
Câu đáo Tây phương lên thượng phẩm.
Phổ nguyện pháp giới khắp chúng sanh,
Tứ ân, tam hữu gắng hành trì.
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo.

Nam mô A DI ĐÀ PHẬT.

Pháp Hoa Tự Tucson, Arizona
Ưu bà di BẢO ĐĂNG
(Kính bái)

CHÚ THÍCH:

(1) Lữ hành: Là khách đi chơi xa (trong sáu nẻo luân hồi) – đây là dụ cho chúng sanh cứ mãi bị trầm luân trong ba cõi, sáu đường.

(2) Câu này ý nói khi có được ít thời giờ rỗi rảnh thì làm thơ (đường luật) để bày tỏ ý mình, hoặc khuyên tu, dạy đạo v.v… cho các hàng môn hạ.

(3) Quê nhà đây là cõi Tây phương Cực lạc, nơi mà người tu Tịnh Độ hằng luôn mong mỏi được sanh về.

(4) Cha già đây là Đức A Di Đà Phật, con trẻ là cố Hòa thượng.

(5) Quy kỳ vịnh là bài thơ ngắn nói về việc vãng sanh của mình.

(6) Công đức lành gồm có các hành như sau: Lợi hành (hành động có ích lợi cho việc giải thoát), Pháp hành, công đức hành, thuần thiện hành v.v..

(7) Lần suy đây có hai nghĩa

1- Lần lần biết suy tính thiệt, hơn v.v… để tranh danh, đoạt lợi.

2- Lần lần suy nhược không còn đẹp đẽ, mạnh khỏe v.v… như xưa.

(8) Ngã sở: Là những vật của ta, chúng sanh cứ tưởng rằng thân này là của ta, của cải này là của ta, cho nên cứ nắm giữ, mê chấp nó hoài, không chịu buông bỏ để cầu giải thoát.

(9) Đức A Di Đà Thế tôn có 48 lời đại nguyện; Vô Nhất đại sư THÍCH THIỀN TÂM tu suốt 48 năm dài và được vãng sanh về Cực lạc.

(10) Tây Liên bút lục. Nhật Thăng Tu sĩ di cảo

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.