09. Luận Tọa Thiền

09. Luận Tọa Thiền

HƯ HƯ LỤC GIẢNG GIẢI
Hòa Thượng Thích Thanh Từ

 

Luận Tọa Thiền

Dịch

Phàm người học đạo chỉ cầu kiến tánh. Tuy thọ được tất cả tịnh giới, mà không tọa thiền thì định lực chẳng sanh; định lực chẳng sanh thì vọng niệm không diệt, muốn được kiến tánh, thật là khó vậy. Đức Phật Thích-ca vào núi Tuyết, ngồi ngay thẳng sáu năm, chim cáp làm tổ trên đầu, cỏ tranh mọc xuyên qua bắp vế, mà thân tâm thản nhiên. Tử Cơ ngồi tựa ghế, thân như cây khô, tâm tợ tro tàn. Nhan Hồi ngồi quên, tay chân rời rã. Đuổi thông minh, lìa ngu trí, đồng với đại đạo. Đó là các bậc Thánh Hiền trong tam giáo ngày xưa, đã từng ngồi định.

Song đi đứng nằm ngồi đều là thiền, không phải chỉ riêng ngồi. Nhưng vì đi thì cất bước, đứng thì nhọc nhằn, nằm thì mờ mịt mà yên tĩnh, yên tĩnh thì cái nghĩ sanh, nghĩ sanh thì niệm khởi. Muốn dứt các niệm, nên tập ngồi thiền định. Nếu khi ngồi không dứt các niệm, tâm khỉ đua nhảy, ý vượn chạy rong, hoặc vọng tưởng mà biết tiền trần, hoặc vô ký mà quên tự tánh. Tựa giường, dựa vách, nhắm mắt che tròng ngủ gục, nước miếng chảy, đầu cúi, xương sống cong. Tuy giả danh là tọa thiền, mà ngồi dưới núi đen, trong hang quỉ. Cho nên Thiền sư Hoài Nhượng nói: “mài gạch muốn làm gương” là nói về người này vậy.

Vả lại, thiền có bốn thứ: 1. Tạo kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Ngoại đạo thiền”. 2. Chánh tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Phàm phu thiền”. 3. Rõ lý sanh (nhân) không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi là “Tiểu giáo thiền”. 4. Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là “Đại giáo thiền”.

Nay, người hậu học, cần lấy “Đại giáo thiền” làm chánh. Nơi đây tập tọa thiền dứt niệm, chớ sanh kiến giải.

Giảng

Phàm người học đạo chỉ cầu kiến tánh.

Đã nói về giới rồi phải nói đến định. Định tức là tọa thiền. Ngài nói người học đạo phải cầu kiến tánh, tức nhận ra bản tánh thanh tịnh sáng suốt của mình, gọi là kiến tánh.

Tuy thọ được tất cả tịnh giới, mà không tọa thiền thì định lực chẳng sanh.

Nghĩa là mình có được giới trong sạch là có phước, là tránh được phiền não, nhưng không tọa thiền thì sức định không mạnh.

Định lực chẳng sanh thì vọng niệm không diệt.

Không có sức định thì vọng niệm không diệt, nó cứ lăng xăng làm cho tâm mình rối loạn không an. Bởi vậy có giới rồi kế đó phải tọa thiền để tâm được định. Tâm được định thì vọng tưởng mới dừng.

Muốn được kiến tánh, thật là khó vậy.

Nếu vọng niệm chưa hết mà muốn được kiến tánh thật là khó. Bởi vì nếu tâm chưa dừng lặng mà muốn nhận ra được bản tánh thật là điều khó, không thể được. Cho nên đầu tiên là Giới, kế đó là Định. Định là nhờ sức tọa thiền. Nhờ tọa thiền tâm mới lặng. Tâm lặng thì tánh giác mới hiện tiền.

Đây dẫn chứng:

Đức Phật Thích-ca vào núi Tuyết, ngồi ngay thẳng sáu năm, chim cáp làm tổ trên đầu, cỏ tranh mọc xuyên qua bắp vế, mà thân tâm thản nhiên.

Đây là chỉ lúc đức Phật tu khổ hạnh sáu năm, chim làm tổ trên đầu, cỏ mọc qua bắp vế, mà Ngài vẫn ngồi yên thiền định.

Tử Cơ ngồi tựa ghế, thân như cây khô, tâm tợ tro tàn.

Tử Cơ là người học đạo tiên. Người tu tiên cũng ngồi thiền định cho tâm yên lặng, khô kiệt không còn rối loạn nữa.

Nhan Hồi ngồi quên, tay chân rời rã.

Nhan Hồi là người tu theo Nho vẫn ngồi quên cả thân thể, buông thõng tay chân. Đây để chỉ tu theo Phật, Lão, Khổng đều phải nhờ thiền định.

Đuổi thông minh, lìa ngu trí, đồng với đại đạo.

Đại đạo là chỉ tánh giác thanh tịnh. Muốn được tánh giác thanh tịnh thì đừng giữ thông minh, ngu trí. Thông minh là cái suy nghĩ lanh lợi, bén nhạy của thế gian, trong nhà Phật gọi là Thế trí biện thông tức là trí thế gian, chưa phải là chỗ chân thật, chỗ giác ngộ. Vì vậy nên nói đuổi thông minh, lìa ngu trí mới đồng với đại đạo. Không nên phân biệt trí ngu, chỉ khi nào tâm thản nhiên thanh tịnh, lúc đó mới sống được với đại đạo.

Đó là các bậc Thánh Hiền trong tam giáo ngày xưa, đã từng ngồi định.

Như vậy những bậc Thánh, bậc Hiền trong Phật giáo, Khổng và Lão vẫn ngồi thiền cho tâm được an định. Vì ngồi thiền mới có sức mạnh kềm chế được vọng tưởng, nếu không thì e không có khả năng chinh phục được nó.

Song đi đứng nằm ngồi đều là thiền, không phải chỉ riêng ngồi.

Tuy Ngài đề cao ngồi thiền, nhưng bây giờ Ngài nói lại, trong nhà thiền không phải chỉ ngồi mới thiền, mà đi đứng nằm ngồi đều là thiền.

Nhưng vì đi thì cất bước, đứng thì nhọc nhằn, nằm thì mờ mịt mà yên tĩnh, yên tĩnh thì cái nghĩ sanh, nghĩ sanh thì niệm khởi.

Ở đây nói mọi hành động đều là thiền, nhưng khi đi phải cất bước, cất bước thì có lăng xăng có động, mà động thì khó định. Đứng thì đứng lâu mỏi chân, cũng khó định. Nằm thì mờ mịt vì buồn ngủ, mà mờ mịt thì không có sức mạnh. Tuy nó hơi yên nhưng yên thì cái nghĩ dễ sanh, mà nghĩ sanh thì niệm khởi. Như vậy tuy đi đứng nằm đều được, nhưng không phải là thế ưu.

Muốn dứt các niệm nên tập ngồi thiền định.

Ngồi thiền là ưu hơn hết, bởi vậy bắt quí vị ngồi hai giờ là cái lý của tôi. Có ngồi nhiều rồi quí vị mới thấy kinh nghiệm tôi không sai. Nếu ngồi một giờ thì nửa giờ đầu rối bời, lúc hơi yên là hết giờ. Ngồi một giờ rưỡi thì nửa giờ đầu rối, nửa giờ kế hơi yên yên, nửa giờ sau vừa mới yên thì hết giờ. Ngồi hai giờ thì bỏ giờ đầu, còn giờ sau là giờ yên. Yên là sức mạnh. Ngoại trừ những người mới ngồi thì giờ sau là giờ chịu đựng, nhưng có chịu đựng rồi sẽ thắng. Còn người ngồi được lâu thì giờ sau mới yên, yên rồi sẽ thấy sức mạnh của thiền. Sức mạnh đó mới thắng được vọng tưởng, nếu không thì vọng tưởng cứ ào ào tuôn ra dừng không nổi. Bởi vậy, tu cần phải cố gắng chịu đựng mới thắng được, chớ không phải dễ dàng.

Nếu khi ngồi không dứt các niệm, tâm khỉ đua nhảy, ý vượn chạy rong, hoặc vọng tưởng mà biết tiền trần, hoặc vô ký mà quên tự tánh.

Ở đây Ngài nói, khi ngồi cốt dứt vọng niệm, mà vọng niệm không dứt thì tâm, ý chạy lăng xăng loạn động. Như đang ngồi ở Thiền đường Trúc Lâm mà đi dạo chợ Đà Lạt, có khi chạy xuống Thường Chiếu, chạy khắp mọi nơi. Đó là tâm khỉ đua nhảy, ý vượn chạy rong.

Hoặc vọng tưởng mà biết tiền trần, hoặc vô ký mà quên tự tánh. Vọng tưởng và vô ký là hai bệnh của người ngồi thiền. Vọng tưởng nhớ lại cảnh này cảnh nọ, hoặc hình ảnh của những ngày qua, biết là biết theo cái bóng của những việc đã qua. Vô ký là chuẩn bị hôn trầm. Nếu ngồi mà tỉnh sáng, thì không lìa tánh giác. Có nhiều người không hiểu, ngồi cứ cầu cho thấy tánh. Cần thấy tánh làm gì? Chỉ cần tỉnh sáng không vọng tưởng là đủ rồi. Sao vậy? Vì tánh hiện đó chớ đâu, còn cầu thấy chỉ là bệnh. Cho nên vô ký quên tự tánh là khi mờ mờ mịt mịt quên cái tỉnh sáng của mình.

Đây nói những bệnh:

Tựa giường, dựa vách, nhắm mắt che tròng ngủ gục, nước miếng chảy, đầu cúi, xương sống cong.

Đó là những bệnh của người ngồi thiền còn lôi thôi. Ngồi thiền mà ngồi trong mùng tựa giường, vừa mỏi muốn dựa vách cho đỡ mỏi, hoặc nhắm mắt một hồi rồi gục lên gục xuống, hoặc ngồi đầu cúi, nước miếng chảy xuống, xương sống cong. Người tập tu thiền có những bệnh ở trên đây cần phải ráng sửa.

Tuy giả danh là tọa thiền, mà ngồi dưới núi đen, trong hang quỉ.

Ngồi như vậy là giả danh ngồi thiền, vì bị mờ mờ mịt mịt đâu có thấy gì, mà quỉ thì ở trong bóng tối, nên nói là ngồi dưới núi đen, trong hang quỉ, chớ không phải ngồi trong nhà Phật, trong nhà thiền. Như vậy ngồi thiền phải ngồi cho ngay thẳng, không nương dựa vào vật gì, mắt mở nhỏ, không nên nhắm, đầu đừng cúi quá, không cho nước miếng chảy, xương sống thẳng, đó mới đúng cách tọa thiền.

Cho nên Thiền sư Hoài Nhượng nói: “mài gạch muốn làm gương” là nói về người này vậy.

Thiền sư Hoài Nhượng ở núi Nam Nhạc, một hôm Ngài đi dạo núi chơi, thấy một vị Sư ngồi thiền nghiêm chỉnh trên tảng đá, Ngài liền đến hỏi: Ông làm gì đây? Đáp: Dạ, con ngồi thiền. Hỏi: Ngồi thiền cầu làm gì? Đáp: Cầu thành Phật. Ngài im lặng trở về. Hôm sau Ngài trở lại, đến bên tảng đá vị Sư kia ngồi (vị Sư này sau là Mã Tổ Đạo Nhất), lấy một viên gạch ngồi mài. Vị Sư thấy lạ hỏi: Hòa thượng mài gạch để làm gì? Ngài đáp: Ta mài gạch để làm gương. Vị Sư thắc mắc hỏi: Mài gạch sao thành gương được? Đáp: Nếu mài gạch không thành gương được thì ngồi thiền đâu thể thành Phật được? Vị Sư giật mình hỏi lại: Ngồi thiền sao không thành Phật? Ngài giải thích: Ông học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất định. Nếu ông chấp ngồi là Phật tức là giết Phật. Như vậy Phật không phải chỉ ngồi mới có. Nếu ngồi mới gọi là Phật, thì lúc đi, đứng là ai? Vì Phật đâu phải chỉ ngồi, có khi Phật đi khất thực, không ngồi thì không phải Phật sao? Ngài nói như vậy để đánh thức vị Sư. Lại nữa, Phật là giác ngộ mà giác ngộ không phải chỉ riêng ở trạng thái ngồi mà cả trong bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi). Nếu chấp ngồi mới là Phật, đó là bệnh. Ở đây Ngài muốn nói nếu tu thiền mà cố chấp ngồi để thành Phật, rồi ngồi gục lên gục xuống, không tỉnh, không sáng, thì chẳng khác nào mài gạch muốn thành gương vậy!

Vả lại, thiền có bốn thứ: 1. Tạo kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Ngoại đạo thiền”. 2. Chánh tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Phàm phu thiền”. 3. Rõ lý sanh (nhân) không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi là “Tiểu giáo thiền”. 4. Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là “Đại giáo thiền”.

Ở chỗ khác theo lời giải của ngài Tông Mật có thêm cái thứ năm nữa là Tối thượng thừa thiền, đó là Thiền tông.

Tạo kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là ‘Ngoại đạo thiền’. Tức là ưa ngồi thiền để có một cái gì bên ngoài tựa vào mình để được thành Thánh thành Thần; hoặc ngồi thiền để mong cầu có một sức mạnh thiêng liêng nào ở bên ngoài tựa vào mình, dầu sức mạnh đó có điện lực gì cũng thuộc về ngoại đạo thiền.

Chánh tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là ‘Phàm phu thiền’. Nghĩa là nghe trong kinh Phật dạy, người tu được Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền,Tứ thiền thì được sanh trên các cõi trời Sắc giới… Vì ham sanh ở các cõi trời Sắc giới mà tu để chứng các thứ thiền đó, nên gọi là Phàm phu thiền. Tuy có tin nhân quả, nhưng kết quả chỉ sanh lên các cõi trời Sắc giới thôi.

Rõ lý sanh không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi là ‘Tiểu giáo thiền’. Sanh không là rõ về thân con người không có ngã. Sanh không chỉ do cái nhân con người phá được ngã chấp, mà tu thiền chứng được đạo thì gọi là Tiểu thừa thiền hay Tiểu giáo thiền. Đây chứng được quả A-la-hán, giải thoát sanh tử.

Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là ‘Đại giáo thiền’. Người tu phá được chấp ngã chấp pháp, cả hai đều không mà tu thì gọi là Đại giáo thiền hay Đại thừa thiền.

Nay người hậu học, cần lấy Đại giáo thiền làm chánh. Nơi đây tập tọa thiền dứt niệm, chớ sanh kiến giải.

Ngài khuyên người thời nay tu hành nên theo Đại giáo thiền, là thiền không còn chấp ngã, chấp pháp. Ngã là chỉ cho mình cho người, pháp là chỉ cho sự vật chung quanh. Cả hai đều không chấp gọi là Đại giáo thiền, cũng gọi là thiền Đại thừa. Pháp tu này mới giải thoát sanh tử cho mình và phát đại bi tâm cứu độ mọi người. Vì vậy Ngài khuyên chúng ta nên học theo Đại giáo thiền này mà tu dứt niệm, không nên sanh kiến giải.

error: