Phật nói Kinh Tam muội Luật Pháp
(Phật thuyết Pháp luật Tam muội Kinh)
Hán dịch: Ngô Nguyệt Chi Quốc Cư Sĩ Chi Khiêm
Việt dịch: Phật Tử Bùi Đức Huề dịch 2/2015

 

Phật nói Kinh Tam muội Luật Pháp

Nghe như thế. Một thời Phật đi tới Nước Ma Kiệt Đề. Cùng với chúng Tì Kheo lớn nhất đi theo. Và các Bồ Tát, bốn bộ Đệ Tử. Người Trời, Rồng Thần, tất cả hội lớn.

Phật bảo chúng hội. Có Tam muội Luật Pháp. Bồ Tát học tập, đang dùng điều chỉnh thuận hòa tính tình của họ. Nhập sâu vào vi diệu, không được coi thường. Sở dĩ thế nào ?

Người chưa nhập vào. Không biết công Đức của ba học dày mỏng. Hoặc do phóng túng, mất ý vốn có của họ. Đang biết các người đó, có mười hai việc. Tự rơi xuống tội lớn, cuối cùng không thể hối hận. Thế nào gọi là mười hai ?

Có người học Đạo. Không được Thầy sáng suốt, nghe thấy chưa rộng, mà tự công cao, muốn cầu tên chữ. Chê Pháp Bồ Tát, cho là không chủ yếu. Ảo tạo ra nói càn dỡ, nói rằng : Thầy của ta đã nói, đã tự rơi xuống, lại rơi xuống người khác. Như Khỉ nhỏ này, dụ dỗ của canh độc, chỉ muốn làm hại. Nó không biết, trở lại tự giết hại. Đó là tự thiêu thứ nhất.

Có người học tạng Pháp Bồ Tát, được nghe Kinh sâu. Chưa từng hỏi Thầy, không biết hướng nghĩa. Tùy ý tự sử dụng và coi thường thành công Bồ Tát. Đó là tự thiêu thứ hai.

Có người đã học Kinh sâu. Đệ Tử học tập liền rơi xuống Đạo trung bình. Cười chê Đạo lớn, lấy làm lẽ đúng. Đó là tự thiêu thứ ba.

Có người học, không nhập vào sâu. Chỉ muốn dựa vào Đạo, bảo toàn mệnh của họ. Không hiểu lý Đạo, chuyên thực hành chê trách Pháp lớn, Kinh sâu. Đó là tự thiêu thứ tư.

Có người tuy học, không có ý chí. Chỉ muốn dung thân, tự có thể giả ảo. Được lời hay của Kinh, với người đó sai trái. Làm cho người được thấy, ý siểm nịnh nhăn nhó. Lấy làm không tự nhiên, tụ ngang bằng xương cốt giả. Làm ra chê sai sót, muốn hi vọng ca ngợi họ. Đó là tự thiêu thứ năm.

Có người ngu tối, ghen tị hiền tài. Tâm thường nhớ ác, hướng về người giảng Pháp. Không suy nghĩ Đạo Đức, chỉ tham lợi dưỡng. Đó là tự thiêu thứ sáu.

Có mới vào học, từ Thầy sáng suốt được quyết định. Không nhớ ơn Đức, trái lại có người thợ khéo. Nói rằng : Tôi đã tự biết, không tự tháo ra. Cũng không đồng ý trở lại, hỏi Kinh từ Thầy. Không có trái lại này, tội không nhẹ vậy. Đó là tự thiêu thứ bảy.

Nếu đã phát ý Bồ Tát. Muốn học Đạo Kinh Phật, thuận theo Thầy không lâu. Lễ tiết chưa quen, Thầy Thanh Văn nói. Có Phương tiện quyền biến : Phương tiện Biến hóa, chưa thông suốt hướng tới đó. Từ ngữ ảo giả, hiểu Pháp sai. Lại dùng ý nhỏ, xem hạnh của Thầy. Tự sử dụng làm như thế. Bèn mất Trí tuệ quyền biến, nhập vào lưới Ma. Đó là tự thiêu thứ tám.

Học có bỏ ven bờ. Thế nào gọi là bỏ ven bờ ? Gọi là từ Thầy sáng suốt, được hiểu Trí tuệ quyền biến. Thấy người nhập vào sâu, không tính thăm hỏi. Đạo trung bình lười nhác, thêm tâm nhớ ác. Nhớ lỗi của Thầy, đã rơi xuống Pháp sai. Không tự hiểu biết, mất Trí tuệ ngược lại Đạo. Gọi là bỏ ven bờ. Đó là tự thiêu thứ chín.

Có người do hiểu Trí tuệ quyền biến vi diệu. Mà lại không cung kính, tội nhẹ bỏ Kinh. Vì nói phụ giúp, ở bình phong nói rằng : Thầy không đâu biết. Tôi đã theo học, nói đó đều sai. Từ nay không cần trở lại, cùng với theo việc. Làm cho người không biết, tin dùng lời nói đó. Họ đã tự uống độc hại. Lại uống độc hại của người khác. Đó là tự thiêu thứ mười.

Có người học Đạo. Theo Thầy sáng suốt, được Kinh sâu. Có Bồ Tát tin, chí tâm thực hành. Muốn theo cầu học, cắt dứt hết không ban cho. Kêu là không tốt hơn, giữ lấy chỉ là Thanh Văn. Chưa từng thấy Kinh, chưa thiết lập tin Giới hạnh. Người này tìm Kinh, làm trái lại cấp cho. Liền dùng lời thô tục, so sánh giảng giải. Chuyển nhau dạy sai, làm cho Đạo chân thực phai nhạt. Tự cầm lấy tội lớn, lại mê hoặc người khác. Đó là tự thiêu thứ mười một.

Có người tuy học, không có chí tin. Không biết thực giả, không sợ bị tội. Quanh co cương cường, không hiểu Đạo. Thuận theo phá hỏng Pháp Phật, chê Tì Kheo Tăng. Người này đã tự rơi xuống tám nạn. Lại tăng thêm thành người có tội. Đó là tự thiêu thứ mười hai.

Người phạm tội này, không thể hối hận trừ bỏ. Từ Địa ngục Quỷ đói Súc sinh ra ngoài, chắc là có hi vọng. Mười hai loại người như thế, khó được độ thoát.

Phật bảo A Nan. Cho nên Ta nói Tam muội Luật Pháp đó. Ngài vì người nói, đang giúp cho biết rõ. Giúp đỡ hạnh ý của họ, chớ làm Phúc nhỏ. Mà phạm lỗi như một sợi lông. Tội lớn như núi Tu Di vậy. Mất Phật Pháp Tăng lâu dài. Từ giã Đạo ác, hết tận không còn. Chỉ ngồi tham yêu được giây phút. Mà đem tới bi kịch đau khổ, khó nói như thế vậy.

Khi Phật nói như thế, đều cùng cảm thấy xấu hổ. Người học đều nhập vào bậc Đạo thứ sáu. Hội chúng đều đứng lên, cùng âm thanh ca ngợi nói rằng : Phật vì chúng con và người học đời sau. Mở hiện ra sáng suốt lớn nhất, giúp cho được mắt Trí tuệ. Đều ở phía trước phục đỉnh lễ, nguyện làm đỉnh lễ nhận.

Phật nói rằng : Hãy nghe ! Lại tới thời xa xưa. Có Bồ Tát tên là Hữu Đạo Chí. Cùng với mười bốn vạn người đi theo. Theo Vi La Đề Phật phát ý Bồ Tát.

Trong số người đó có một người tài cao nhất, tên là Hiền Hạnh. Khi tôn thờ Hữu Đạo Chí, dùng làm Thầy. Đuổi theo nhiều Kiếp không mất ý này. Vững thực hành Tinh tiến, sau được làm Phật. Bao bọc tên chữ Thế gian là hàng đầu. Mà Hữu Đạo Chí bèn quyết theo nhận. Người khác đều thoái lui, rơi xuống làm Đệ Tử. Tới nay ở trong năm Đạo. Còn chưa được ra ngoài.

A Nan hỏi nói rằng : Người đời trước thời đó theo thấy Phật. Về sau lại được Kinh sâu phải không ?

Phật nói rằng : Đều được. Chỉ không hết sức học. Không hỏi Trí tuệ ở giữa. Không kính theo Thầy, coi thường Pháp Nhân gian.

A Nan lại hỏi. Đã phát ý lớn nhất, vì sao bị rơi xuống ?

Phật nói rằng : Do sử dụng bốn Việc.

Một là học vốn do không biết Phương tiện quyền biến thiện. Coi thường Thầy bạn, không có nhất tâm. Ý họ tính luân chuyển.

Hai là học không Tinh tiến, không có lực Đạo. Chỉ tham danh dự, hi vọng người kính trọng tiếp đón. Ba là học tôn thờ Thầy, không nghĩ nhớ siêng khổ. Đang được thành công ảo giả, công cao, không có chí tâm.

Bốn là thích học ngoài Đạo, học tập người thấy sai. Trái lại giữ lấy Pháp thuật khác lạ, so sánh với Kinh sâu của Phật, nói Đạo bằng nhau.

Thời mười bốn vạn người, do đều sử dụng ý đó. Đời sau chuyển lui, rời xa Đạo lớn nhất. Một mình Hữu Đạo Chí, chí lớn tâm kiên cường. Theo tôn thờ Hiền Hạnh, quyết theo nhận lấy, tới được quả Phật đó.

Khi đang nói như thế. Một trăm mười vạn người Trời, đều phát ý Bồ Tát.

Người Hiền A Nan nói rằng : Như được Phật nói, cần cung kính học. Trái lại do tự phóng túng, mất gốc rễ Đạo lớn nhất. Đáng không cẩn thận sao ! Người từ nay mới học, muốn nhập vào Pháp. Chắc chắn hay phân biệt thiện ác. Không mất Thầy bạn thiện, được đủ hết vậy !

Phật nói rằng : Giữ lấy mà nghe ít. Phần nhiều theo ý bản thân, không thể cảm hóa.

A Nan lại hỏi. Người Phàm thường nói ác. Chắc tự biết ác phải không ?

Phật nói rằng : Người ngu của Thiên hạ chỉ thấy người ác, không tự biết ác. Chỉ tự thấy thiện, không thấy người thiện. Người nói Trí tuệ của mình, đều cũng là Trí tuệ sai. Tự ở trong sáng suốt, họ rất biết như vậy.

Nói rằng : Tôi biết Kinh cũng do nghi hoặc vậy. Nói biết Pháp lớn nhất, mà không tôn thờ Thầy. Không thể tin vậy.

Trí tuệ Phật rộng lớn, không thể đo lường. Nghe thấy chút ít, tự lấy làm đủ. Dùng tự công cao. Người Trí tuệ ra sao ! Chỉ có được học, nhập sâu vào Chí Sĩ. Thân thiết Thầy thiện, mới là Trí tuệ sáng.

Người ngu yên tâm, biết đời có người Trí sáng. Lại phân biệt có ngu hiền vậy. Người Phàm ngu si đã thấy người công cao. Không tự biết công cao, họ tự thấy tội cũ, có thể cùng nói việc thiện.

Người tự thấy thiện, không thể cùng nói bàn. Vì sao thời đều tự như thế. Người khó có thể hiểu, có thể cùng nói Đạo. Không như thế, chỉ tăng kiêu mạn của họ.

Người tự được không được, mà nói việc Nhẫn nhịn, đều không thể nhận. Người hiểu ý Đạo, không cho là đủ. Có thể cùng nhau nói yếu lĩnh Kinh sâu. Không như thế, biết đều bó buộc.

Vi diệu nhập sâu vào, có thể cùng nhau nói, việc không có manh mối, không như thế, do nghi ngờ nói rằng : Tôi biết Pháp Bồ Tát, phát ra nói có tham nương nhờ. Nói rằng : Tôi nhập vào Thanh tịnh.

Không tự biết bẩn đục. Hợp mới muốn ban cho, liền nói đã biết rõ.

Hay hiểu việc Ma, không biết đều ở trong lưới võng Ma. Như tằm nhả tơ, tự quấn lấy thân.

Muốn cùng hiểu biết, phân biệt bên trong ngoài, ý chí sâu cạn. Cần hỏi học lâu dài, thành công Bồ Tát. Gần Thầy thiện, mới có thể hiểu biết rõ việc Ma vậy.

Phật nói rằng : Học không thể không xét kĩ, làm không thể không giúp đỡ. Mất ý vốn có của họ, rơi xuống Pháp sai. Do đều ngồi, tự sử dụng theo tâm sai. Các việc không thể làm không cần làm. Phạm lỗi nhẹ tội lớn, rơi xuống Đạo ác. Đều do chuyên lừa dối, không dựa theo Pháp tốt. Được trong nơi ở của Ma, đem tới tội không nhỏ.

Lúc đó người Hiền Xá Lợi Phất báo cáo Phật nói rằng : Người mới phát ý, nên chân thực tự giúp đỡ. Ngồi được ý nhỏ mà mất lớn. Không ít như thế vậy. Xưa kia Con ở đời trước, do có ý đó. Mất lớn được nhỏ. Tuy muốn hối hận, không trở lại cũng vậy.

Phật nói rằng : Tâm vốn dĩ không hiểu, đều có như thế.

Xá Lợi Phất hỏi Phật. Thế nào gọi là căn bản của người. Gốc rễ của năm Uẩn : Năm bóng tối. Gốc rễ của sáu Nhập vào. Gốc rễ của phát ra mười hai Nhân duyên. Và được nhập vào gốc rễ của chín mươi sáu loại Đạo. Thế nào gọi là gốc rễ của bốn Chân lý. Căn bản của Đệ Tử. Căn bản của các Phật. Căn bản của Như Lai. Biết ra sao. Từng nghe Phật nói rằng : Không hiểu vốn dĩ không có, cho nên rơi xuống Đạo nhỏ. Nguyện vì mới học, phân biệt nói nó.

Phật nói rằng : Thiện thay ! Do hỏi rất sắc, phần nhiều do mở phát ra, muốn lắng nghe.

Khi đó trong hội đều nói rằng : Nhận lấy dạy bảo.

Phật nói rằng : Căn bản của người không theo sinh ra, không đâu nhận lấy. Không làm ra, không có chủ. Không có Sắc thân, không Biết, không Sinh, không diệt mất. Biết vốn dĩ như thế. Mất là ly rời vốn có. Gốc rễ của năm Bóng tối, không có nơi ở. Thuận theo nương nhờ, liền là Bóng tối. Thành bại như ảo, tất cả không có sức mạnh. Người biết như thế, tính kế không có Bóng tối. Gốc rễ của sáu Nhập vào, giống như rỗng vậy. Do vì thay đổi vui sướng, gọi là Nhập vào. Nhập vào khoảng không đó, nơi tích chứa không có.

Người biết vốn dĩ Thanh tịnh, tính kế không đâu Nhập vào. Gốc rễ của phát ra mười hai Duyên, không có manh mối. Không đâu theo tới, đi không đâu đến.

Ngu không thể thấy, do Duyên không có giới hạn. Đến lúc già chết, như mơ chân thực sai. Như không phát ra Pháp nhẫn, là gốc rễ của biết vậy. Được nhập vào gốc rễ của chín mươi sáu loại Đạo.

Đều từ tham muốn. Vứt bỏ bên trong, cầm lấy bên ngoài của sáu mươi hai thấy.

Thế nào gọi là Vứt bỏ bên trong, cầm lấy bên ngoài ? Thân làm biến hóa loại ảo, mà chân thực sai. Cầu có vạn loại, không thể vứt bỏ tham. Muốn bảo toàn yên ổn lâu dài. Mà chủ yếu phá hỏng, không dứt hết sinh chết.

Gốc rễ của bốn Chân lý, cũng không có gốc thân. Khổ Tập Tận Đạo, đều hiểu do quan sát. Thấy sạch rỗng, là biết gốc rễ của Chân lý.

Căn bản của Đệ Tử, mới đầu quan sát Có của Thế gian. Không hiểu vốn dĩ Không có. Chán ghét khổ sinh chết, hút lấy ý quan sát Pháp. Cắt bỏ năm Bóng tối, bảo vệ rỗng, thực hành Thanh tịnh.

Mất tưởng nhớ, hết Phiền não, liền được Giải thoát. Đó là căn bản của La Hán.

Do nhập vào căn bản của các Phật. Học làm công Đức, không hiểu khi thành. Nghe biết có Phật, muốn được tên hiệu tôn quý. Không có Đại Bi, không hiểu thiện khéo. Nói là có bản thân, giữ tưởng nhớ trông thấy Phật. Thích Thanh tịnh coi giữ Đạo, không thân bạn thiện. Tuy tích chứa công Đức, như cát sông ngòi. Do không có ích lợi với không nhập vào Trí tuệ quyền biến. Không tu lợi ích và Tướng Hảo. Không đủ nửa hạnh. Do hiểu Nhân duyên, liền được thành Phật. Đó là căn bản của các Phật.

Do nhập vào căn bản của Như Lai. Theo ý phát ra, tới thấy thân đều rỗng, các Pháp Thanh tịnh. Hiểu ơn Đức vốn có của chúng sinh. Do nhập vào Bóng tối, nhập vào chủng loài, giữ tất cả vốn dĩ không có. Hiểu các công Đức, được nhập vào khi thành. Như thiết lập vốn có, như có Trí tuệ. Không sinh ra, không diệt mất, không qua không lại. Không ở Thanh tịnh Niết Bàn, không ly rời vốn dĩ không có. Như khoảng không và không thể di động. Đó là được nhập vào căn bản của Như Lai.

Xá Lợi Phất nói rằng : Ý Phật thực vi diệu, các La Hán sai. Biết của các Phật, Con các vị trước mới học. Đều theo buộc nương nhờ, chí nhỏ học nông cạn. Dựa vào Phật được độ thoát, căn tâm đã diệt mất. Tuy nghe Đạo lớn, ý không trở lại học.

Ví như người hoang dã nghe việc của Con Trời. Tạm vui sướng tai họ, cuối cùng không thể hiệu nghiệm. Tuy người lâu dài ở Địa ngục Quỷ đói Súc sinh. Ra ngoài học Đạo lớn, có thể được làm Phật. Như Con, La Hán tâm trở lại không có vậy. Làm Bồ Tát chí thành vui vô lượng. Đã phát ý lớn, nhập sâu vào rộng lớn. Chỉ cần Tinh tiến xét kĩ giúp làm vậy.

Khi đó có Bồ Tát, tên là Dũng Thanh. Báo cáo Phật nói rằng : Đạo lớn rất hay. Biết tài năng sáng Thế gian đó sai. Chỉ nhập sâu vào, mới thông suốt hay của nó. Hoảng sợ sau ba học, mới phát ý Bồ Tát. Và làm Đệ Tử, người thực hành của các Phật. Ngu tối chưa hiểu, không phân biệt nông sâu. Nghe thấy ít nhỏ, tự lấy làm sáng. Tranh cãi cầm lấy thắng, thay đổi do cùng nghi hoặc.

Chỉ Phật tăng thương xót, vì bỏ nghi hoặc lớn. Các người học đó, đều cùng thực hành Thiền được Đạo. Sử dụng cái gì, biết phân biệt các khác lạ. Các Phật Bồ Tát Đệ Tử. Pháp Bậc Phật và các học bên ngoài. Người Tiên năm Thần thông. Ý Thiền ra sao ?

Phật nói rằng : Thiện thay, thiện thay ! Đại Sĩ. Muốn giúp đỡ tất cả, mới sử dụng hỏi này. Tuy đều thực hành Thiền, ý hướng khác nhau.

Đệ Tử người học, nghe có bốn bậc Thiền. Hạn chế mong cầu, tâm ngay thẳng, có thể nhanh được Đạo. Không bằng biết Pháp lớn hay sâu khác.

Sợ khổ chán ghét thân, nhất tâm suy nghĩ. Cầm lấy muốn tự độ thoát, không nghĩ nhớ chúng sinh. Chỉ giữ lấy diệt mất làm, thế nào như là diệt mất ? Do làm Phúc Đức, giữ Giới Tinh tiến, muốn hi vọng Thanh tịnh Niết Bàn. Không biết Đại Từ của Phật, được ra vào Thanh tịnh Niết Bàn.

Nói rằng : Một lần tới Thanh tịnh Niết Bàn, thông suốt bốn bậc Thiền được ba sống. Cắt đứt sinh chết đã vượt qua Thế gian. Đó là nhập vào Thiền của La Hán.

Các người học Phật. Theo phát ý tới, không liên quan tới bạn thiện. Nói rằng : Thực hành của họ thường nương nhờ Có của Thế gian. Thế nào như là nương nhờ ?

Do làm công Đức, hi vọng muốn được Phật. Nói rằng : Đạo Thiền như không sử dụng hạnh khác. Cũng không biết hướng về ý Thiền của Phật.

Thiền của Như Lai không có ý, không có tưởng nhớ, không thấy, không được, không quen hiểu biết rõ, ý liên hệ trong giây phút, giữ lấy sạch, Không có làm, không hiểu ý Pháp Trí tuệ quyền biến. Do thành được Thiền, thấy Nhân duyên rỗng, hiểu liền được Đạo.

Sáng hơn La Hán mà không bằng Phật, không có mười loại lực, bốn Không đâu sợ và mười tám Pháp không dứt hết. Đó là nhập vào Thiền của các Phật.

Thiền của Bồ Tát tới theo ý phát ra, không ly rời Thầy sáng suốt. Học rộng Trí tuệ sâu, hiểu biết rõ gốc rễ của Thiền.

Thế nào gọi là hiểu biết rõ gốc rễ của Thiền ? Pháp tâm vốn dĩ không có Đạo, cũng không có gốc rễ. Không nương nhờ, không bó buộc, không tháo ra, không làm. Không ra không vào, không bỏ không cầm lấy, hiện ra Trí tuệ lớn, thực hành quyền biến thiện.

Không cắt đứt gốc rễ Đức và ý Đại Bi. Tu Tướng Hảo, trang nghiêm Nước Phật. Đủ mười lực, bốn không đâu sợ, và mười tám Pháp không dứt hết. Tất cả thấy, tất cả biết, không đâu không biết : Đều cùng biết. Cho nên tên hiệu là Phật.

Do Phật sử dụng ý loạn tham nhiều của Thế gian. Ở dưới cây nhắm mắt mà ngồi, được hiện ra Pháp Thiền. Muốn giúp cho người hiểu, dùng ý buộc lấy Đạo. Cũng thuận theo được vui sướng, đều được nơi ở của họ. Đó là nhập vào Thiền căn bản của Như Lai.

Các học nhỏ bên ngoài, người Thiền  năm Thông suốt. Học quý trọng Không có làm, không hiểu được cốt yếu. Lánh xa đời yên ổn xong, giữ tưởng nhớ, coi giữ là nhất. Nhắm mắt buông thả thân thể, quan sát khắp tạng bên trong. Còn hơi thở của Đạo Thần nuôi dưỡng tính, cầu bay lên. Ác tiêu tan, Phúc lớn mạnh, suy nghĩ đem tới năm Thông suốt. Thọ mệnh lâu dài tên là người Tiên. Thực hành mệt mỏi với việc này, không biết Thanh tịnh Niết Bàn. Sau đó hết Phúc, không dứt hết sinh chết. Đó là Thiền định năm Thông suốt của ngoài Đạo.

Phật nói rằng : Như các Phật Đệ Tử. Tuy được Thanh tịnh Niết Bàn vì không biết gốc rễ. Sở dĩ thế nào ? Học này vốn dĩ coi là Thế gian có Đạo, vô cớ phá hỏng năm Bóng tối, mà cầm lấy tạ thế.

Chỉ Như Lai là biết gốc rễ của Thanh tịnh Niết Bàn. Sở dĩ thế nào ? Biết các Pháp đời tục và Đạo vốn dĩ rỗng. Như vốn dĩ không dừng ở, không sinh ra, không diệt mất. Đó là Thanh tịnh Niết Bàn.

Ý Phật như thế. Cho nên nói là Như Lai.

Các Như Lai Đệ Tử, tên là Diệt mất hết. Bồ Tát cần hiểu Pháp lớn sâu hay. Nhận học kĩ sáng suốt. Tuy ly rời Thầy sáng suốt. Tâm cần Thanh tịnh, không được phóng túng.

Lúc đó Dũng Thanh chắp tay, bắt chéo ngón hai bàn tay, báo cáo Phật nói rằng : Được gặp ngay Phật là khó có vậy. Thánh lớn Đại Từ được Pháp tới Niết Bàn. Nay được ơn Phật, không đâu trở lại nghi ngờ. Người muốn học nó, cần nhận dạy bảo của Phật. Chớ làm hạnh ác. Khiến cho Ma được Phương tiện của họ. Như được Phật nói, cuối cùng không có khác. Quyến thuộc quan quân Ma Trời, không thể phá hỏng người thực hành Thanh tịnh đó.

Nói rằng : Đã liền ở trước phục đỉnh lễ chân Phật. Khi đó có hai trăm mười vạn các Trời và người. Đều nguyện vui thích thiết lập với Pháp nhẫn không đâu theo sinh.

Người Hiền A Nan báo cáo Phật nói rằng : Luật Pháp này là nghĩa ra sao ?

Phật nói rằng : Đó là quyết mở ra ý Đạo, người thấm nhuận gốc rễ, được nhập vào Đức Trí tuệ. Phân biệt làm, được ý học của các Phật Bồ Tát, Đệ Tử. Biết xét kĩ biết không xét kĩ. Chủ yếu lớn nhất, tên là Tam muội Luật Pháp.

Phật nói rằng : A Nan. Nếu có người tin hiểu Kinh Pháp đó. Đều đã ở nơi ở của Phật mười phương nghe thiện khéo.

Phật nói Kinh xong. Các người tới hội đều vui mừng, đều ở phía trước vì Phật làm lễ mà đi.

Phật nói Kinh Tam muội Luật Pháp.