Phật nói Kinh Luật Thanh tịnh của Văn Thù Sư Lợi
(Phật thuyết Văn Thù Sư Lợi Tịnh Luật Kinh)
Hán dịch: Tây Tấn Nguyệt Thị Quốc Tam Tạng Trúc Pháp Hộ
Việt dịch: Phật Tử Bùi Đức Huề dịch 2/2015

 

Phật nói Kinh Luật Thanh tịnh của Văn Thù Sư Lợi

 

Thứ nhất Phẩm Nghĩa Chân lý

Tôi nghe như thế. Một thời Phật tới ở trong núi Kì Xà Quật nơi La Duyệt Kì. Cùng với chúng Tì Kheo lớn nhất đi theo. Một nghìn hai trăm năm mươi Tì Kheo. Ba vạn hai nghìn Bồ Tát.

Khi đó Thế Tôn cùng với rất nhiều vô số trăm nghìn chúng, quyến thuộc vây quanh mà vì nói Kinh.

Thời có Con Trời, tên là Tịch Thuận Luật Âm ngồi ở trong hội. Liền từ ngồi đứng lên, lại chỉnh sửa quần áo. Quỳ lâu chắp tay bắt chéo ngón hai bàn tay, báo cáo Phật nói rằng : Văn Thù Sư Lợi nay ở nơi ở. Chúng sinh bốn Bộ : Nam Tì Kheo, nữ Tì kheo, nam Phật Tử, nữ Phật Tử của tất cả các hội. Trời Rồng Quỷ Thần, Thích Phạm bốn Vua Trời, đều cùng khát ngưỡng. Muốn thấy Chính Sĩ thăm hỏi, giảng từ ngữ vi diệu, nghe nhận nghĩa Kinh.

Phật nói rằng : Phương Đông đi tới vạn Đất nước Phật này, tên Thế giới là Bảo Thị. Tên hiệu Phật là Bảo Anh Như Lai, Hiểu đúng Bình đẳng không đâu nương nhờ. Nay Hiện tại diễn thuyết giáo lý Đạo. Văn Thù ở nơi đó. Vì các Bậc Bồ Tát Đại Sĩ nói tỏ rõ không theo kịp.

Con Trời báo cáo Phật. Chỉ nguyện Thánh lớn thêm thương xót, rủ lòng giảm uy Thần. Văn Thù Sư Lợi nay tự khuất phục tới nơi này. Sở dĩ thế nào ? Kinh Pháp được Văn Thù Sư Lợi nói. Mở ra kết buộc trở ngại, đều cùng nhanh tan. Vượt qua lên trên Thanh Văn Duyên Giác. Văn Thù Sư Lợi nếu nói Pháp lớn. Tất cả chúng Ma đều bị hàng phục. Các sai trái mê hoặc không được Phương tiện của người. Các ngoài Đạo khác đều cùng mệnh trở về. Người công cao này không nhớ tự đại. Người chưa phát ý, đều phát tâm Đạo. Đã phát tâm Đạo, thiết lập Không chuyển lui. Do đang nhận lấy, đều cùng đỉnh lễ. Do đang giữ điều khiển, đều cùng nhận giữ.

Như Lai rất chân thực, đều cùng khuyên ca ngợi. Do giáo lý của Thánh này, lại giúp cho Pháp đúng được tồn tại lâu dài. Tự rời bỏ Như Lai. Chưa có tài hùng biện Trí tuệ tôn quý khác, ban bố răn bảo Kinh điển, như Văn Thù vậy.

Vì vậy Thế Tôn thấy báo cáo giải bày của Con Trời Tịch Thuận Luật Âm. Do vì tất cả thời phát ra thương xót lớn. Bày ra quang sáng tướng giữa hai lông mi. Quang sáng này rộng chiếu sáng các Đất Phật của Ba nghìn Đại thiên. Thông suốt vòng quanh một vạn Đất Phật. Quang lớn chiếu sáng tỏ Thế giới Bảo Thị.

Thời các chúng Bồ Tát của Đất Phật đó. Trước tiên hỏi Phật kia. Là cảm ứng gì, trước tiên hiện ra điềm này. Bảo Anh Như Lai bảo các Bồ Tát. Phương Tây đi tới qua vạn Nước Phật này. Có Thế giới, tên là Nhẫn : Tên gọi khác của Diêm Phù Đề. Tên hiệu Phật đó là Năng Nhân Như Lai : Tên gọi khác của Thích Ca Mâu Ni Phật, đạt tới Hiểu đúng Bình đẳng chân thực. Nay Hiện tại giảng Pháp diễn ra quang sáng giữa mi. Chiếu sáng vạn Đất Phật, rộng sáng tỏ Nước này.

Bồ Tát hỏi nói rằng : Tuy nhiên Thế Tôn. Vì cớ gì phóng quang ?

Phật nói rằng : Rất nhiều vô số trăm triệu trăm nghìn Bồ Tát tập hợp ở Đất Phật đó. Thích Phạm giữ Thế gian và bốn Bộ chúng. Đều cùng kính mong Văn Thù Sư Lợi. Muốn được kính gần thăm hỏi giảng Kinh Pháp. Đều cùng báo cáo Phật. Dùng Quang sáng này, từ xa mời Văn Thù.

Bảo Anh Như Lai bảo Văn Thù nói rằng : Ngài đi tới Đất đó, Năng Nhân Như Lai mong ngóng cùng tiếp đón. Chúng hội đều cùng nhớ mong. Cùng thấy phục lễ nghĩ nghe, muốn nghe vâng nhận.

Văn Thù báo cáo Phật. Con cũng tìm biết ưng theo điềm quang sáng này. Lúc đó Văn Thù cùng với vạn Bồ Tát lễ Bảo Anh Phật, vòng quanh sang phải ba lượt. Giống như tráng sĩ duỗi thẳng chân tay. Ở Nước Bảo Thị bỗng nhiên không hiện ra. Đứng ở đất Nhẫn ở trong khoảng không. Không hiện ra thân họ. Đều rắc xuống hoa Trời, đầy khắp hội Đại chúng. Hoa tới đầu gối.

Thời người các hội lạ chưa từng có. Đều báo cáo Phật nói rằng : Đây là điềm báo trước gì, mà rắc xuống hoa Trời.

Phật bảo các con họ tộc. Văn Thù Sư Lợi này cùng với vạn Bồ Tát, ưng theo mệnh lệnh cùng tới. Ở trong khoảng không rắc xuống các hoa. Dùng cúng dưỡng hội chúng Phật. Đều nói rằng : Nguyện thấy Văn Thù và các Bồ Tát. Nếu có thể thân thiết Chính Sĩ như thế. Rất là vui mừng khó trực tiếp khó gặp. Nói như thế chưa xong.

Văn Thù Sư Lợi và vạn Bồ Tát. Liền tức thời hiện ra thân, đỉnh lễ chân Phật, vòng sang phải bảy lượt. Đều do uy lực Thần thông biến hóa. Làm ra hoa Sen lớn, tự ở trên nó.

Con Trời Tịch Thuận Luật Âm báo cáo Phật. Nguyện phát ra giáo lý của Thánh. Giúp cho Văn Thù Sư Lợi, mở ra cảm hóa Đạo. Chúng hội kì lạ muốn nghe dạy bảo.

Phật bảo Con Trời. Tự tâm Ngài thăm hỏi, liền có thể đỉnh lễ hỏi.

Tịch Thuận Luật Âm thời báo cáo Văn Thù. Đất Phật Bảo Anh có đặc biệt gì, vượt qua Đức khác. Đến sai khiến người Hiền, đi tới vui ở nơi đó.

Văn Thù bảo rằng : Không nổi lên tham muốn cũng không diệt mất. Không phát ra thù giận cũng không đâu hết. Không thấy ngu si cũng không đâu trừ bỏ. Không tạo ra Phiền não cũng không đâu phá hỏng. Sở dĩ thế nào ? Không đâu sinh ra Pháp, cũng không đâu hết.

Lại hỏi. Phật đó nói Pháp. Nổi lên ra sao, vì sao bỏ mất ?

Trả lời nói rằng : Nó vốn dĩ Thanh tịnh. Do không sinh mất, không do hết sinh. Sở dĩ thế nào ? Chúng sinh đất đó biết nghĩa Chân lý, dùng làm hàng đầu. Không dùng Duyên hòa hợp, làm hàng đầu vậy.

Lại hỏi. Chân lý nào làm hàng đầu ? Duyên hòa hợp thế nào, dùng làm bậc nhất ?

Trả lời nói rằng : Với nghĩa không phát ra, cũng không đâu hỏng. Không có ở hình tướng, cũng đều có hình tướng. Cũng một hình tướng sai, cùng với không ly rời hình tướng, cũng không hiện ra hình tướng. Không trông thấy nó, cũng đều trông thấy, cùng không thấy rõ. Cũng không có hết, không thể hết vậy. Đã không đâu hết, không thể hết vậy. Đó là nghĩa Chân lý. Nghĩa như thế, Con Trời. Gọi là không có tâm vậy, tâm vốn dĩ không có. Không dạy người khác, không làm bỏ này. Không tới bờ đó, không ở trong giòng chảy. Đó là nghĩa Chân lý. Nghĩa như thế, Con Trời. Gọi là không có văn chương chữ viết, mới là chân lý của bậc Thánh. Sở dĩ thế nào ? Như Phật nói rằng : Tất cả âm thanh đều là hư ảo.

Con Trời lại hỏi. Được Như Lai nói sẽ không có lừa dối chăng !

Văn Thù trả lời nói rằng : Được Như Lai nói, không thành thực không lừa dối. Sở dĩ thế nào ? Như Lai với hai tâm, không đâu dừng ở. Mà với Pháp Có làm, Không có làm, không có lời nói chữ viết. Do vì như thế không thành thực, không lừa dối. Với Con Trời ý hướng thế nào ? Cảm hóa của Như Lai nếu có được nói. Là thực hay giả. Trả lời nói rằng : Không thành thực, không lừa dối. Sở dĩ thế nào ? Cảm hóa của Như Lai không có bốn Lớn, cũng không thành thực.

Văn Thù trả lời nói rằng : Như thế Con Trời. Tất cả các Pháp, đều cũng như hóa ra, thực hành tự nhiên. Như Lai do hiểu, không đâu thành công, cũng không đâu dừng ở. Do vì như thế. Do nói giảng Pháp, không thành thực không lừa dối, trở về không có hai.

Lại hỏi. Vì sao nói, Như Lai nói nghĩa Chân lý ?

Văn Thù trả lời nói rằng : Nghĩa Chân lý là Không thể nói giảng. Sở dĩ thế nào ? Hướng nghĩa đó như thế. Không nói không giảng, cũng không thể được.

Khi nói nghĩa Chân lý như thế. Năm trăm Tì Kheo hiểu ý hết Phiền não. Vô số người Trời rời xa Phiền não, với các Pháp mắt Pháp Thanh tịnh. Vạn hai nghìn Bồ Tát bắt được Pháp Nhẫn không đâu theo sinh.

 

Thứ hai Phẩm Chân lý của bậc Thánh.

Tịch Thuận Luật Âm hỏi Văn Thù Sư Lợi. Nghĩa Chân lý đó rất là khó hiểu.

Văn Thù trả lời nói rằng : Như thế, Con Trời. Người keo kiệt lười nhác với nghĩa Chân lý, rất là khó hiểu. Lại hỏi. Vì sao Tì Kheo Tinh tiến.

Trả lời nói rằng : Không đâu cắt mất, cũng không đâu trừ bỏ. Mà không tu hành, cũng không cầm lấy chứng nghiệm. Đó là Tì Kheo kính thực hành nghĩa đúng. Sở dĩ thế nào ? Tự nghĩ nhớ nói rằng : Cắt mất, trừ bỏ như thế. Nếu tu hành cầm lấy chứng nghiệm này. Chắc là phá hỏng phóng túng đảo lộn tưởng nhớ, các việc đều hòa hợp. Lại tính kế Tinh tiến đúng sai.

Lại hỏi. Tinh tiến đúng là thế nào vậy ?

Trả lời nói rằng : Bình đẳng vốn dĩ không có, cùng với các Cõi Pháp. Với năm nghịch Đạo cũng lại như thế. Như Bình đẳng vốn dĩ không có, cùng với Cõi Pháp. Với sáu mươi hai thấy sai. Cũng như Pháp của người Phàm. Học Pháp, không học Pháp Thanh Văn. Theo một Pháp hiểu Pháp Phật. Cũng không động như Pháp Phật Bình đẳng. Pháp sinh chết, Pháp Thanh tịnh Niết Bàn đó. Yêu tham muốn Phiền não tranh cãi đảo lộn, cũng lại như thế. Tì Kheo nếu thêm thực hành Tinh tiến. Lại Tinh tiến đúng.

Lại hỏi. Thế nào nói là thực hành Bình đẳng, như Pháp Phật Bình đẳng ? Cùng với yêu tham muốn, nghĩa Phiền não cũng Bình đẳng. Việc đảo lộn tranh cãi.

Văn Thù trả lời nói rằng : Do sử dụng Rỗng, không có hình tướng, Bình đẳng không có nguyện. Sở dĩ thế nào ? Rỗng, không phân biệt không đâu bao nhiêu. Giống như Con Trời, ngói mộc, bên trong đồ gốm Rỗng. Cùng với bên trong đồ quý Rỗng giả. Đều cùng Rỗng Bình đẳng, không có bao nhiêu. Không thể nói hai. Như thế, Con Trời. Yêu tham muốn Rỗng, cùng với đảo lộn tranh cãi Rỗng, bên trên tới Đạo Rỗng. Chắc là cùng Rỗng đó, không có bao nhiêu. Không thể tên là hai.

Con Trời lại hỏi. Thế nào nói là Bồ Tát tu hành Chân lý của bậc Thánh.

Văn Thù trả lời nói rằng : Nếu như Bồ Tát không thực hành Chân lý. Nguyên nhân nào đang vì Thanh Văn nói Pháp. Sở dĩ thế nào ? Bồ Tát thực hành Chân lý, phần nhiều được giúp xem xét. Thanh Văn không có giúp. Bồ Tát thực hành Chân lý, rộng lớn khó giới hạn. Thanh Văn lệch co thành cục.

Bồ Tát thực hành Chân lý, sẽ giúp chúng sinh. Mà với giới hạn vốn có, không đâu tạo ra chứng nghiệm. Bồ Tát thực hành Chân lý, quyền Phương tiện khéo. Không bỏ sinh chết, môn Thanh tịnh Niết Bàn. Bồ Tát thực hành Chân lý, rộng quan sát tất cả các Pháp Phật. Giống như Con Trời có một Sĩ phu. Nếu bỏ Thầy lớn, nhanh phóng túng bỏ chạy. Độc thân không có bạn, tâm nhớ hoảng sợ. Vượt qua đường hoang vắng, không dám trở lại. Thanh Văn ý nhớ hoảng sợ như thế. Sợ hãi sinh chết, không giúp chúng sinh. Không thể chịu nhận đi tới, độ thoát tất cả đầu cuối hoạn nạn. Một mình tự thực hành Chân lý, không giúp Pháp Phật. Ly rời quyền Phương tiện, không có bạn Trí tuệ. Không cùng như thế. Giống như Con Trời vì Thầy lớn đó, phần lớn nhận nhiều lợi. Đem vô lượng vật báu, châu báu quý khác lạ. Cho các người mua, vượt qua núi hiểm trở hoang dã.

Bồ Tát như thế. Cũng như Thầy lớn, tích chứa thực hành vô lượng Đạo Báu, không có giới hạn. Tu với Đại Từ, hết sức thương xót. Chân lý Trí tuệ Thánh lợi ích tất cả. Vô số Trí tuệ tài hùng biện, lấy làm nhiều kiêu ngạo. Đi tới một Nước Phật, lại tới một Nước. Sáu Pháp tới Niết Bàn hút làm bốn ân. Dùng cứu giúp nguy ách, thương xót cứu chúng sinh. Trở về nhập vào sinh chết. Quyền Phương tiện khéo, tu hành Chân lý bậc Thánh. Độ các chưa độ thoát, giải các chưa Giải thoát. Vòng quanh Ba Cõi, đi bộ một mình không có bạn. Khai hóa chưa nghe, khiến nhập vào Pháp Bậc Phật. Giống như áo bẩn ô uế của Con Trời. Do nghĩ hoa dại, tua hoa vàng trắng mà dùng ướp thơm. Khí hương không lâu bèn liền hết tận.

Thanh Văn Duyên Giác thực hành Chân lý mỏng ít. Cũng lại như thế. Liền ở trong tạ thế, không tu thệ nguyện. Không được với hương độ thoát, Giải thoát việc thấy biết, Giới Định Tuệ của Phật. Cũng lại không thể hàng phục trở ngại tham muốn Phiền não. Giống như áo đẹp nhỏ mềm của Con Trời, nó giá trị trăm nghìn. Dùng các hoa châu báu đặc biệt trên Trời. Trăm nghìn vạn năm ướp thơm áo tốt này. Áo đó thường thơm, khí hương rộng lưu chuyển. Cao lớn thơm phức, chưa từng có tan hết. Người đời các Trời đều được yêu thích.

Bồ Tát như thế. Từ vô số Kiếp thực hành Chân lý, hương Pháp không đủ. Do nguyện chưa đáng tạ thế. Mà thường diễn xuất hương thơm Giải thoát thấy biết, Giới Định Tuệ Đạo Bình Đẳng của Phật. Hàng phục trở ngại tham muốn Phiền não, đi tới trên Trời và tới Nhân gian. Trời Rồng Quỷ Thần, các A Tu La. Quân tử dân thường đều cùng cung kính. Mà muốn thấy họ, thường cứu giúp lớn.

Con Trời  Tịch Thuận Luật Âm lại hỏi Văn Thù. Bảo Anh Như Lai đó đạt tới Đất Phật thực. Chúng Thanh Văn làm như thế nào vậy ?

Văn Thù trả lời nói rằng : Không điều khiển dốc lòng tin, không theo dạy của người khác. Không thực hành với Pháp, không phá hỏng Cõi Pháp. Cũng không tám Bình đẳng, ly rời với tám sai. Không Tu Đà Hoàn, đều độ thoát tất cả hoảng sợ hướng tới ác. Tư Đà Hàm sai, tới cảm hóa chúng sinh. A Na Hàm sai, với tất cả Pháp không đâu đi tới. A La Hán sai, mà đều nhận lấy lợi cúng dưỡng ở Ba nghìn Thế giới. Không ly rời với tham muốn, cũng không dùng tham muốn, mà thấy hoạn nạn.

Không ly rời thù giận, không dùng tức giận mà thấy cháy sém. Không với chúng sinh mà tâm nhớ làm hại, cũng không đâu lo buồn. Không ly rời với ngu si, không dùng ngu ngốc mà bị nguy nan. Diệt trừ tối sâu và tất cả Pháp. Không ly rời Phiền não, ân cần Tinh tiến. Cảm hóa bỏ yêu tham muốn của tất cả chúng sinh, bắt được giảm cao. Không đâu theo sinh, mà tới hiện ra sinh. Với các tưởng nhớ khai hóa chúng sinh. Không tính kế tôi ta, cùng với thọ mệnh của người. Đều không đâu nhận, cũng không đâu bỏ. Chỉ mong tất cả nhân dân, do Bố thí Đức của các Có. Không có ý nghĩ, không có nghĩ nhớ, do tu dừng lại ý nghĩ. Vâng cắt đứt bốn ý nghĩ, không phát ra không mất. Thực hành bốn Thần biến, thân ý Vắng lặng. Tuân theo năm Căn, hiểu rõ nguồn ngọn của tất cả chúng sinh. Thực hành với năm Lực, hàng phục Phiền não. Nghĩ nhớ với ý hiểu, hiểu Trí tuệ Bình đẳng. Thanh tịnh tu giáo lý Đạo, vứt bỏ lối đi sai. Chứng nghiệm huấn luyện Đạo, không được Không có làm. Hướng tới Vắng lặng, mà thực hành giới hạn vốn có. Quan sát với xem được, đều nhập vào Cõi Pháp. Diệt mất với Ngu tối, hết tận ngu si. Nổi lên chân chính Bình Đẳng Trí tuệ Thánh. Mà trừ bỏ với ba phẩm Giải thoát. Chắc là dùng mắt thịt, đều thấy chúng sinh. Tất cả Đất Phật, nhân dân được các Phật Thế Tôn cảm hóa. Chắc là dùng mắt Trời trông thấy năm hướng tới, sinh chết qua lại vòng quanh nhân dân. Bọ gậy sâu lúa, loài sâu bò mềm động, đi thở ngắn gấp, sinh trở về loài vật có hình.

Chắc là dùng mắt Trí tuệ xem xét, biết tâm làm nghĩ nhớ, Nghiệp truyền đời của tất cả chúng sinh. Chắc là dùng mắt Pháp trông thấy Ba Cõi : Cõi Tham muốn, Cõi có Sắc thân, Cõi không có Sắc thân. Ba Đời : Đời Quá khứ, Hiện tại, Tương lai.

Tất cả nhân dân, chúng sinh do có thể thực hành. Chắc là dùng mắt Phật, đều sử dụng sáng quan sát tất cả các Pháp. Tạng Pháp chiếu sáng tỏ Kinh điển bí mật. Chắc là dùng tai Trời từ xa nghe Kinh Pháp được các Phật đọc nói. Dùng Trí tuệ không nghĩ nhớ, nghĩ nhớ biết trải qua rất nhiều vô số Kiếp Quá khứ. Mà dùng Thần biến đi tới vô lượng các Đất nước Phật, đều cùng vòng quanh. Hết các Phiền não, không đến không thừa, cũng tu Giải thoát. Mà hiện ra hình của họ, không có Sắc thân. Có được nói giảng, không diễn ra văn chương chữ viết. Có được suy nghĩ, không có tâm tưởng nhớ nương nhờ. Tỏ ra rõ nhan sắc dáng vẻ đoan chính. Dùng tướng mạo trang sức bao nhiêu diện mạo đẹp. Mà dùng công Đức, tự trang nghiêm thân thể họ. Uy Thần tuyệt diệu không thể ngăn che. Gọi tên là Rộng lưu chuyển công trạng mở ra khắp nơi. Thông suốt Ba Đời không đâu ngăn trở. Dùng Trí tuệ hơi thở mà làm hương thơm, tự hun đúc thân họ. Chắc là với Pháp Thế gian, mà không đâu nương nhờ. Không bị Phiền não, mà thấy ô nhiễm. Miệng ác từ thô thiển không thể hủy hoại. Chắc là dùng Thần thông mà tự vui đùa. Nghe rộng không chán, ban bố tài hùng biện, làm Sư tử gầm. Dùng Quang sáng Trí tuệ, đều cùng chiếu sáng khắp, thông tỏ sáng suốt của Thánh. Mà làm sấm động, trừ diệt bế tắc ẩn tối ngu si. Do nói vô tận, thông hiểu Nhận giữ ghi nhớ không quên Phật. Do quan sát không biết nơi của Thanh Văn Duyên Giác. Thường thấy ý hiểu như biển của các Phật. Yên định Tam muội như núi Tu Di. Nhẫn nhịn mềm mại bằng phẳng như đất. Lực dũng mãnh hàng phục quan quân quyến thuộc Ma, vứt bỏ các ngoài Đạo, Tự do yên vui như Ngọc Hoàng Đế Thích. Ví như tâm Trời Phạm, được do đã dùng không có xứng đôi. Cầu so sánh khó so sánh, mà không ngang bằng. Cũng như khoảng không, không thể làm ví dụ. Đều cùng vòng quanh khắp, không đâu không nhập vào.

Con Trời. Muốn biết Đất nước được Bảo Anh Như Lai sinh ra. Hun đúc công Đức đó của Chúng Thanh Văn. Lại vượt qua việc này. Như được Ta ca ngợi, không thể tính so lường.

Khi Văn Thù Sư Lợi nói lời như thế. Năm trăm nam Tì Kheo, năm trăm nữ Tì Kheo. Năm trăm nam Phật Tử, năm trăm nữ Phật Tử. Năm trăm Con Trời chưa được phát tâm chứng Đạo. Báo cáo Phật Thế Tôn. Chúng con nguyện sinh ở Đất Phật Bảo Anh đó. Được làm Thanh Văn.

Văn Thù trả lời nói rằng : Các con họ tộc. Không thể dùng tâm nhớ Thanh Văn sinh Đất Phật đó. Các Ngài cần phát tâm Đạo lớn nhất, mới đem tới Đất đó. Theo thời nhận dạy bảo, đều phát tâm ý Đạo chân chính Bình Đẳng. Phật đều nhớ nói, đang sinh Đất đó.

 

Thứ ba Phẩm Hiểu luật.

Con Trời Tịch Thuận Luật Âm lại hỏi Văn Thù. Thế nào là luật Thanh Văn ? Thế nào là luật Bồ Tát ?

Trả lời nói rằng : Nhận dạy bảo, sợ Ba Cõi, khó chán ghét bệnh vội vàng. Luật của Thanh Văn.

Giúp đỡ xoay tròn vô lượng sinh chết. Khuyên yên ổn tất cả nhân dân, loài sâu bò mềm động, hơi thở gấp ngắn. Mở hướng dẫn Ba Cõi, bỏ lưới nghi nương nhờ các tưởng nhớ của họ. Đó là luật Bồ Tát.

Chán ghét ác, tích lũy công Đức, để dùng bỏ tham tiếc, không thể tự tiến lên. Đó là luật Thanh Văn.

Nổi lên việc làm công Đức, không chán ghét các hạnh. Do vì lợi ích chúng sinh, mà được cứu giúp. Đó là luật Bồ Tát.

Bỏ mất tất cả tham muốn Phiền não, ác của bản thân. Đó là luật Thanh Văn.

Đánh phạt nương nhờ ân ái Phiền não của tất cả chúng sinh. Đó là luật Bồ Tát.

Không trông thấy các Trời, tâm làm nghĩ nhớ được ý chí khác nhau. Đó là luật Thanh Văn.

Mắt thấy Đất nước Phật của Ba nghìn Đại thiên, Căn tâm được trở về. Đó là luật Bồ Tát.

Chỉ hay xét kĩ làm được của tâm mình. Đó là luật Thanh Văn.

Rộng thấy nơi ở của các Phật mười phương, tâm nghĩ nhớ chúng sinh. Đó là luật Bồ Tát.

Chỉ chiếu sáng tính ý chí, được hướng tới của thân mình. Đó là luật Thanh Văn.

Quang sáng tất cả hạnh nhân dân, tâm nghĩ nhớ loài thân mềm động bọ gậy, sâu cắn lúa. Suy nghĩ nơi ở Ba Cõi, đều có ngọn nguồn. Đó là luật Bồ Tát.

Sẽ khó vì giúp đỡ tất cả chúng Ma. Đó là luật Thanh Văn.

Hàng hóa các quan quân quyến thuộc Ma, ở tất cả Ba nghìn Đại thiên Thế giới. Phá hỏng các hạnh Ma, hay nhận lấy Pháp đúng. Đó là luật Bồ Tát.

Như phá nát đồ dùng gạch đá, không thể trở về hòa hợp. Đức ý chí nhỏ tạ thế, chân chính không tiến lên như thế. Đó là luật Thanh Văn.

Giống như kim khí tuy bị phá hỏng, cuối cùng không bỏ quên. Liền có thể hòa hợp, dùng làm đồ quý báu. Đại Sĩ hiện ra mất thân Pháp Trí tuệ sâu. Vĩnh còn không hỏng, không tăng không giảm, liên tục hiện ra Ba Cõi. Đó là luật Bồ Tát.

Nếu lửa lớn đốt thiêu cây cỏ rừng núi. Đều cùng nướng cháy, chim thú chạy trốn. Nếu ích thêm ý chí nhỏ. Sợ nạn Ba Cõi, ẩn trốn trong Thanh tịnh Niết Bàn. Đó là luật Thanh Văn.

Vui với sinh chết, một mình đi bộ trong Ba Cõi, ý không khiếp nhược. Tâm hân hoan vui sướng, vui thích Pháp Đạo, khuyên cảm hóa chúng sinh. Cũng như vườn thú, đi chơi xem vườn. Hoa quả tươi tốt được nhiều vui mừng. Đó là luật Bồ Tát.

Không thể cắt bỏ trở ngại, khó kết thành Niết Bàn. Mà có nơi ở. Đó là luật Thanh Văn.

Mòn mất tất cả hoạn nạn che phủ. Vĩnh không có nơi dừng lại. Đó là luật Bồ Tát.

Cầm lấy lời chủ yếu, mà có giới hạn kiềm chế. Tự buộc chặt thân, do Đức có hạn. Mà thấy thành công việc Giải thoát thấy biết, Giới Định Tuệ. Không thể đầy đủ Đạo lớn vô hạn. Đó là luật Thanh Văn.

Do thấy huyền diệu xa xôi, ý chí như khoảng không, công Đức vô lượng. Phẩm bậc Giới Định Tuệ Giải thoát thấy biết, không thể nói ghi. Đó là luật Bồ Tát.

Khi đó Thế Tôn khen ngợi Văn Thù Sư Lợi nói rằng : Thiện thay, thiện thay ! Nhanh nói hiểu việc này. Các luật Bồ Tát. Văn Thù lắng nghe. Ta hướng dẫn hiểu việc quan trọng. Giúp cho nghĩa đó trở về, thành quả rộng khắp. Giống như hai người. Một người khen ngợi nước vũng chân trâu. Một người đứng lên than thở việc tích chứa nước của biển lớn. Ý này thế nào ? Người đó ca ngợi nước vũng chân Trâu, có thể lâu dài như thế chăng.

Trả lời nói rằng : Nước vũng chân Trâu rất là quá ít, không đủ nói ca ngợi.

Phật nói với Văn Thù. Luật Thanh Văn thấy được uy Thần, cũng lại thêm ích như nước vũng chân Trâu. Không đủ nói khen ngợi. Người kia đứng lên kêu ca biển lớn, có thể như thế nào vậy.

Trả lời nói rằng : Rất nhiều, rất nhiều, Thiên Trung Thiên. Biển lớn đó không có giới hạn. Không thể giới hạn, sâu rộng khó tính toán.

Phật nói rằng : Luật Bồ Tát, cần làm quan sát như thế. Giống như sông biển, không thể so lường.

Khi Phật nói như thế. Hai vạn hai nghìn người bắt được Pháp Nhẫn không đâu theo sinh. Khác người cùng âm thanh, đều cùng ca ngợi nói rằng : Thế Tôn, chúng con. Đang học với luật Bồ Tát này. Mở hướng dẫn phát ra rất nhiều vô số người.

Con Trời Tịch Thuận Luật Âm lại hỏi Văn Thù Sư Lợi. Văn Thù. Là học luật gì ? Là tu hành luật Thanh Văn Duyên Giác. Hay luật Bồ Tát.

Văn Thù trả lời nói rằng : Với ý của Con Trời, được ý chí ra sao ? Biển lớn đó. Là nhận lấy nước gì, vứt bỏ nước gì ?

Trả lời nói rằng : Biển lớn đó không có nước, không nhận.

Bảo nói rằng : Con Trời như thế. Luật Bồ Tát giống như biển lớn, không ngược lại nhiễm bẩn. Các luật mười phương đều cùng trở về. Thanh Văn Duyên Giác, tất cả chúng sinh khai hóa thực hành luật, mà đi tới khắp cả.

Con Trời lại hỏi. Văn Thù Sư Lợi. Luật được nói, gọi là cái gì vậy ?

Trả lời nói rằng : Luật được nói. Mở hướng dẫn Phiền não ân ái. Cho nên nói là luật. Hiểu rõ tham muốn. Cho nên nói là luật.

Con Trời lại hỏi. Thế nào gọi là mở hướng dẫn Phiền não ân ái ? Thế nào gọi là hiểu rõ với tham muốn ?

Trả lời nói rằng : Các nghĩ nhớ tưởng nhớ, tính kế có tôi ta. Ở trong các thấy, không vứt bỏ đảo lộn.

Không vứt bỏ không sáng gốc rễ ngu si. Thực hành với hai việc, nổi lên Phiền não. Phân biệt điều này. Gọi là hiểu rõ tham muốn vậy. Họ nếu tu hành nghĩ nhớ không tham. Thuận theo Đạo Thanh tịnh, không tính kế tôi ta. Không dừng ở các thấy, vứt bỏ đảo lộn, bỏ mất Ngu tối, tối đen ngu si. Không làm hai hạnh, Phiền não không nổi lên, cũng không tranh cãi loạn. Đã không tranh cãi loạn thành quả vĩnh yên ổn. Đó gọi là luật khai hóa Phiền não.

Ví như Con Trời có thầy ảo thuật đó. Biết sáng hay hiểu chủng loại rắn hổ mang độc. Liền dùng chú thuật bỏ đi độc hại. Người học nếu thêm ích lợi. Nếu có thể phân biệt nguồn ngọn của Phiền não, không có nguồn gốc. Chắc là có thể tiêu diệt ân ái Phiền não.

Con Trời lại hỏi. Thế nào gọi là luật khai hóa nguồn ngọn của Phiền não ?

Trả lời nói rằng : Với các tưởng nhớ, làm được nguồn ngọn. Không có tưởng nhớ, chắc là không nổi lên tranh cãi. Đã không nổi lên tranh cãi, chắc là không đâu nương nhờ. Đã không đâu nương nhờ, chắc là không đâu ỷ lại. Đã không đâu ỷ lại, chắc là không đâu dừng ở. Đã không đâu dừng ở, chắc là không có nóng Phiền não. Đã không có nóng Phiền não, thành quả được dạy bảo, mà được độ thoát. Đây gọi là luật.

Giả sử Con Trời. Dùng Trí tuệ của Thánh Hiền, Trí tuệ huyền diệu. Hiểu rõ gốc rễ của ân ái Phiền não. Ảo vọng Rỗng không có. Không đâu còn đó. Không có chủ bình thường, cũng không đâu phụ thuộc. Không đâu theo tới, không đâu theo đi. Không có nơi ở, cũng không có phương hướng. Không bên trong không bên ngoài, cũng không ở giữa hai. Cũng không tích tụ, không có sắc thân, không có hình tượng, không có hình ảnh. Đó là hiểu rõ gốc rễ ân ái Phiền não.

Con Trời lại hỏi. Phiền não thế nào mà được độ thoát ? Là thực hay ảo.

Trả lời nói rằng : Giống như có người nằm sinh ra trong mơ. Rắn độc cắn họ. Người đó nếu đau không thể chịu nhận. Theo thời liền uống thuốc trừ bỏ chất độc. Độc đó liền mất, đau vội vàng ngưng nghỉ. Với ý Con Trời được hướng tới ra sao ? Người đó xem kĩ bị rắn độc cắn. Là việc ảo chăng.

Trả lời nói rằng : Là ảo không thể nói thực.

Lại hỏi. Giả sử ảo đó. Cớ gì bị độc mà được thuốc trừ bỏ.

Trả lời nói rằng : Như mộng ảo vọng. Ảo mộng không thực mà bị với độc. Trừ bỏ độc cũng như thế, cũng không đâu trừ bỏ.

Văn Thù trả lời nói rằng : Các Thánh hiểu rỗng. Khai hóa tất cả ân ái Phiền não. Cũng lại như thế. Như Con Trời hỏi. Thế nào gọi là khai hóa ân ái Phiền não, là thực hay ảo ? Muốn biết nghĩa này. Như thân của ta, tính kế không có thân. Ân ái Phiền não thực không có ân ái, cũng lại nếu như thế. Giả sử thân ta là thân chân thực. Ân ái Phiền não cũng đang thường còn sở dĩ Phiền não. Không có Phiền não, dùng thân của bản thân ta, do không có thân. Do vì như thế. Không có thể được khai hóa Phiền não. Sở dĩ thế nào ?

Tất cả các Pháp, đều là Vắng lặng, mà do không sinh. Các Pháp hoảng sợ do không thể nhận giữ. Các Pháp Tĩnh lặng do không hướng trở về. Các Pháp đều hết do không tích tụ. Các Pháp không hết do không đâu sinh. Các Pháp không sinh cho nên không đâu thành. Các Pháp không thành do không tạo ra sử dụng. Các Pháp không làm do không đâu làm. Các Pháp Không có làm cho nên do không có bản thân sử dụng. Các Pháp không có bản thân cho nên không có chủ. Các Pháp không có chủ cho nên như khoảng không. Các Pháp không tới do không đâu nương nhờ. Các Pháp không tới cho nên tự không dừng ở. Các Pháp không dừng ở cho nên không đâu nhận. Các Pháp không nhận cho nên không đâu nương nhờ.

Vì thế Con Trời. Thành quả được cảm hóa. Thành là luật Pháp cũng không đâu cảm hóa.

 

Thứ tư Phẩm môn Đạo.

Con Trời lại hỏi. Tất cả các Pháp lấy cái gì làm hàng đầu của môn học vậy ?

Trả lời nói rằng : Không có nghĩ nhớ, thuận theo dùng làm đứng đầu môn học. Nghĩ nhớ nghĩa thuận theo sinh chết xoay tròn. Là Thanh tịnh Niết Bàn vậy. Không thực hành Tinh tiến là môn trở ngại.

Hạnh Tinh tiến là môn phẩm Đạo. Hạnh hoài nghi là môn che Uẩn. Siêng tu Giải thoát là môn không trở ngại. Nghĩ nhớ các nương nhờ là môn Phiền não. Không đâu nghĩ nhớ, không có ảo vọng là môn không có ân ái. Nhiều các chúng nghĩ nhớ loạn là môn ảo tưởng. Hạnh Vắng lặng là môn sợ lặng lẽ. Sáu mươi hai thấy là môn kiêu mạn. Tu với Rỗng, không có là môn tự đại. Thuận theo bạn thân ác là môn tội ác. Theo bạn thân thiện là môn Pháp thiện. Các việc thấy sai là môn hoạn nạn vội vàng. Nghĩa thấy đúng là môn yên ổn. Việc tham tiếc là môn nghèo thiếu. Nghĩa Bố thí là môn giàu lớn. Hỏng vi phạm Giới liền là môn đang trở về hướng tới Đạo ác. Kính tu Giới cấm là môn đang trở về nơi thiện của tất cả chúng sinh. Vui mừng tranh cãi là môn Pháp sai mất.

Nếu Nhẫn nhịn là môn được đặc biệt trở về, vượt qua khác lạ. Làm lười nhác là môn tâm cáu bẩn. Tuần hành Tinh tiến là môn không bẩn. Việc phóng túng là môn ý loạn. Việc nhất tâm là môn ý Yên định. Thực hành Trí tuệ ác là môn nghi hoặc ngu si như bò dê. Tu Trí tuệ ba mươi bảy phẩm. Là môn Đạo Pháp Sư tử trước kia. Mà đều thực hành đầy đủ tâm Từ là môn không đâu làm hại. Thực hành bi thương là môn ý chí hòa nhã. Tính do mềm hòa là môn không siểm nịnh. Và thực hành vui vẻ là môn vui thích Pháp. Tu hành giúp đỡ là môn không đâu thích lớn, không tăng giảm. Thực hành dừng lại bốn ý không mất Đức đời trước, là môn được các Phúc. Cắt đứt bốn ý là môn thuận theo Bình đẳng. Bốn Thần biến hóa là môn thân tâm nhẹ. Thực hành năm Căn, nghĩa dốc lòng tin là môn hàng đầu. Thực hành năm lực không bị Phiền não và các tham yêu là môn bị nhiễm uế. Bảy ý hiểu đều đã hiểu rõ là môn Trí tuệ Bình đẳng. Thực hành tám Đạo là môn vứt bỏ tất cả mê hoặc, các lối đi sai khác.

Lại nữa Con Trời. Tính kế được Bồ Tát là môn hàng đầu của các Pháp Phật. Do sẽ giúp đỡ các Pháp là môn Pháp Tự do. Quyền Phương tiện thiện là môn Pháp hiểu rõ khắp nơi, không có nơi. Do thông suốt Trí tuệ Pháp tới Niết Bàn, biết nghĩ nhớ, nơi nghĩ nhớ trong tâm của tất cả chúng sinh, là môn thuận theo tới Niết Bàn. Do sáu Pháp tới Niết Bàn hút lấy sáu tham muốn, giúp cho không đâu ở là môn Pháp Bậc Phật. Do quan sát cầu với Ba Cõi rỗng, như hóa ra đầu cuối như mơ, là môn Trí tuệ sáng.

Tất cả các Pháp đều là Nhẫn không sinh, vốn dĩ không có Pháp. Sáng tỏ tự nhiên không đâu không biết rõ. Do Trí tuệ đó không dựa vào sáng khác.

Con Trời lại hỏi. Văn Thù Sư Lợi. Thế nào gọi là môn Cõi Pháp vậy ?

Trả lời nói rằng : Cõi Pháp đó chắc là môn rộng khắp.

Lại hỏi. Cõi Pháp đó là Cõi thế nào ?

Trả lời nói rằng : Cõi của tất cả chúng sinh. Tên là Cõi Pháp.

Lại hỏi. Cõi Pháp đó có phân giới hạn ra sao ?

Văn Thù trả lời nói rằng : Cõi khoảng không còn có phân giới hạn sao ?

Bảo nói rằng : Không như thế, Văn Thù.

Trả lời nói rằng : Giống như khoảng không, không có phân giới hạn. Cõi Pháp như thế, cũng không phân giới hạn.

Con Trời lại hỏi nói rằng : Có thể phân biệt với Cõi Pháp ra sao ?

Trả lời nói rằng : Cõi Pháp đó không thể phân biệt.

Con Trời lại hỏi. Người Hiền. Do cái gì hiểu sáng rõ các Pháp ? Lại có thể hiểu rõ như tài hùng biện này.

Văn Thù bảo nói rằng : Với ý Con Trời được hướng tới cái gì ? Tiếng kêu vang đó mà có tiếng sinh ra. Do cái gì hiểu Pháp ?

Con Trời vội nói rằng : Tiếng kêu vang đó không hiểu các Pháp. Do duyên hợp thành, mới sinh ra tiếng vang vậy.

Trả lời nói rằng : Như thế Con Trời. Vì Bồ Tát đều do duyên chúng sinh. Mà có được nói. Con Trời lại hỏi. Người Hiền. Do dừng ở nơi nào mà có được nói.

Trả lời nói rằng : Như Lai cảm hóa dừng ở có được giảng. Nơi ở của Ta được diễn ra nếu như thế. Nếu nói rằng : Pháp cảm hóa của Như Lai không đâu dừng ở, mà có được nói.

Trả lời : Cảm hóa của Như Lai với không đâu dừng ở, mà có được nói. Được Ta nói cũng lại như thế. Nếu như Văn Thù với tất cả các Pháp, không đâu đứng dừng ở. Mà có được nói.

Ngài dừng ở ra sao ? Thành được Đạo chân chính Bình Đẳng. Là hiểu đúng cao nhất phải không ? Trả lời nói rằng : Ta dừng ở năm nghịch Đạo. Lại thành Đạo chân chính Bình Đẳng.

Lại hỏi Văn Thù. Năm nghịch Đạo đó là dừng ở thế nào ?

Trả lời nói rằng : Năm nghịch Đạo đó không có gốc rễ, cũng không đâu dừng ở.

Lại hỏi. Như Lai nói giảng, người làm năm nghịch Đạo đó. Có thể lánh Vô gian, không ly rời Địa ngục.

Trả lời nói rằng : Như thế Con Trời. Như được Phật nói. Người làm nghịch Đạo đó, đang rơi xuống Địa ngục. Nếu Bồ Tát dừng ở năm nghịch Đạo này. Nhanh bắt được Đạo chân chính Bình Đẳng. Thế nào là năm ?

Giả sử Bồ Tát ân cần chí tâm phát ý Đạo lớn nhất. Bỏ tâm Pháp bậc nhỏ, mà không đọa lạc bậc Thanh Văn Duyên Giác. Đó là nghịch thứ nhất.

Phát tâm rộng Bố thí tất cả toàn bộ không đâu yêu tiếc. Không cùng với tham tiếc, mà cùng hòa hợp. Đó là nghịch thứ hai.

Mà phát ra tâm Từ, không hay lười phá bỏ ta đang độ thoát tất cả chúng sinh. Đó là nghịch thứ ba.

Thấy tất cả Pháp không đâu theo sinh. Tìm liền bắt được Pháp Nhẫn không đâu theo sinh. Không trở về ở giữa, cùng với sáu mươi nghi hoặc, thấy sai hòa hợp. Đó là nghịch thứ tư.

Do đang thấy biết. Do đang cắt bỏ, Do đang ban bố. Do đang thành công hiểu. Giây phút phát ý, đều thấy biết hiểu. Đều cùng thông tỏ, mà không đâu dừng ở. Thành Tất cả Trí tuệ, không nương nhờ Ba Cõi. Đó là năm nghịch.

Văn Thù Sư Lợi bảo Con Trời đó. Bồ Tát đã dừng ở năm nghịch đó. Mà lại nhanh thành Đạo chân chính Bình Đẳng. Là hiểu đúng cao nhất.

Con Trời lại hỏi. Do nói gọi ra sao, nghịch không thành nghịch. Thuận không thành thuận.

Trả lời nói rằng : Như vàng đỏ tía và châu Như ý. Tuy rơi xuống không sạch, là đều hòa hợp chăng.

Trả lời nói rằng : Không hòa hợp. Sở dĩ thế nào ? Do vật đó chân thực, không cùng với hòa hợp sai. Văn Thù bảo nói rằng : Tâm người vốn dĩ Thanh tịnh. Thả xuống ở đục bẩn chắc là không có dấu vết. Giống như ban ngày sáng không cùng với tối hòa hợp. Cũng như hoa Sen không bị nhiễm bẩn vết bùn. Ví như khoảng không, không thể ô nhiễm. Muốn thực hành học Pháp phát tâm Bồ Tát. Dừng ở các nghịch cũng không dao động. Khai hóa các nghịch, chắc tên là Thuận theo Thanh tịnh vốn có của tâm họ, không cùng với ô uế hòa hợp. Sở dĩ thế nào ?

Nếu như hòa hợp, không thể lại phân biệt. Nước và đất bùn còn không cùng hòa hợp. Huống chi với Thanh tịnh vốn có của tâm. Hòa hợp không có hình và có hình vậy.

Phật nói Kinh Luật Thanh tịnh của Văn Thù Sư Lợi.

Print Friendly, PDF & Email