Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Năm trăm Đại A-la-hán cùng tạo luận
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch Phạn sáng Hán
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

CHƯƠNG VIII: KIẾN UẨN

Phẩm Thứ Tư: LUẬN VỀ TRÍ

(Từ cuối quyển 196 – quyển 197)

Nếu Sự có thể thông đạt thì Sự ấy có thể biết khắp chăng? Các chương như vậy và giải thích về nghĩa của từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp theo nên giải thích rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Bởi vì cần phải ngăn chặn về ý của người khác nói Nhẫn tức là tánh thuộc Trí, hiển bày rõ ràng về các Nhẫn đạt được sinh khởi cùng lúc với Nghi do mình đã đoạn, nhưng chưa thẩm định trở lại thì không được gọi là Trí, cho nên soạn ra phần luận này.

Sự có năm loại:

  1. Sự thuộc tự tánh.
  2. Sự thuộc ràng buộc.
  3. Sự thuộc sở duyên.
  4. Sự thuộc về Nhân.
  5. Sự thuộc nhiếp thọ.

Sự thuộc tự tánh, như Đức Thế Tôn nói: “Ta sẽ vì ông mà nói về Sự của bốn mươi bốn Trí, và Sự của bảy mươi bảy Trí.” Đó là Trí duyên với chi Hữu dùng thanh Sự mà nói.

Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Kinh ấy nói Sự thuộc sở duyên, đó là bởi vì các chi Hữu là sở duyên của Trí, cho nên gọi là Sự.”

Nhưng kinh ấy nói Trí là Sự chứ không phải là các chi Hữu, bởi vì trong phần giải thích sau chỉ nói về Trí.

Sự thuộc ràng buộc, nói như trong phần Nhất Hành trước đây: Nếu Sự do kiết Ái ràng buộc thì Sự ấy cũng do kiết Nhuế ràng buộc chăng? Đó là phiền não thuộc năm Bộ đối với pháp thuộc năm Bộ, hoặc bởi vì sở duyên cho nên ràng buộc, hoặc bởi vì tương ưng cho nên ràng buộc, pháp thuộc năm Bộ ấy dùng thanh Sự mà nói.

Sự thuộc sở duyên, như luận Phẩm Loại Túc nói: “Tất cả các pháp đều do Trí nhận biết tùy theo Sự của nó. Thế nào là tùy theo Sự của nó? Đó là tùy theo sở hành của nó, tùy theo cảnh giới của nó, tùy theo sở duyên của nó.” Các Trí sở hành-cảnh giới-sở duyên dùng thanh Sự mà nói.

Sự thuộc về Nhân, như luận Phẩm Loại Túc nói: “Pháp có Sựpháp không có Sự, tức là pháp có nhân-pháp không có nhân.” Lại như Đức Thế Tôn nói trong bài tụng:

“Tỳ kheo tâm yên lặng vắng vẻ,
Có thể vĩnh viễn đoạn mọi Sự,
Sinh tử đến cuối cùng diệt hết,
Không còn thọ nhận các quả báo.”

Trong này, các nhân dùng thanh Sự mà nói, tất cả sinh tử không có pháp nào không dựa vào nhân, các nhân nếu đoạn thì sinh tử không còn, không thọ nhận các quả báo, được nhập Niết-bàn.

Sự thuộc nhiếp thọ, như trong kinh nói: “Rời bỏ các Sự đã nhiếp thọ như ruộng đất-nhà cửa-tiền bạc châu báu…” Lại như Đức Thế Tôn nói trong bài tụng:

“Người đối với ruộng đất-tài sản,

Trâu-ngựa cùng tôi tớ hầu hạ,

Bà con thân thích và nam nữ,

Ham muốn khác nhau mà đắm trước.”

Vả lại, người tại gia dấy lên nói như vậy: Mình đã giữ lấy bao nhiêu việc của họ, họ hãy còn thua bấy nhiêu việc của mình. Những loại như vậy gọi là Sự thuộc nhiếp thọ.

Lại có năm loại Sự:

  1. Sự thuộc về Giới.
  2. Sự thuộc về Xứ.
  3. Sự thuộc về Uẩn.
  4. Sự thuộc về Thế.
  5. Sự thuộc về Sát-na.

Ở trong mười loại Sự, trong này dựa vào Sự thuộc tự tánh mà soạn luận, đó là tự tánh của các Nhẫn-Trí dùng tên gọi về Sự mà nói.

Hỏi: Nếu Sự có thể thông đạt (thông đạt) thì Sự ấy có thể biết khắp (biến tri) chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt. Trong này, có thể thông đạt là dựa vào Trí biết khắp về đạo vô lậu mà nói, bởi vì có thể biết như thật; có thể biết khắp là dựa vào chứng đoạn biết khắp về đạo vô lậu mà nói, bởi vì có thể vĩnh viễn đoạn phiền não. Bởi vì hai loại này cùng có dài-ngắn, cho nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có Sự có thể thông đạt mà không phải là có thể biết khắp, đó là Khổ-Tập-Diệt-Đạo trí không đoạn các phiền não. Đây là các Trí vốn có trong Kiến đạo, và trong Tu đạo…trừ ra đạo đích thực đoạn phiền não, còn lại Trí thuộc bốn Đế. Như vậy các Trí là có thể thông đạt, bởi vì tánh thuộc Trí như thật; không phải là biết khắp, bởi vì không đoạn phiền não.

2. Có Sự có thể biết khắp mà không phải là có thể thông đạt, đó là Khổ-Tập-Diệt-Đạo nhẫn đoạn các phiền não. Đây là các Nhẫn đoạn phiền não trong Kiến đạo, nếu chưa lìa nhiễm cõi Dục thì bao gồm Pháp nhẫn-Loại nhẫn, nếu đã lìa nhiễm cõi Dục thì chỉ có Loại nhẫn. Như vậy các Nhẫn là có thể biết khắp, bởi vì vĩnh viễn đoạn phiền não; không phải là có thể thông đạt, bởi vì không phải là tánh thuộc Trí như thật.

Hỏi: Nếu các Nhẫn không phải là có thể thông đạt, thì luận Phẩm Loại Túc nói nên hiểu thế nào? Như luận ấy nói: “Có thể thông đạt là thế nào? Đó là Tuệ thiện. Đã được thông đạt là thế nào? Đó là tất cả các Pháp nhẫn, là tự tánh của Tuệ thiện.” Vì sao trong này nói không phải là có thể thông đạt?

Đáp: Văn ấy nên đưa ra cách nói này: “Nếu Sự là có thể thông đạt thì Sự ấy cũng là có thể biết khắp, nếu Sự là có thể biết khắp thì Sự ấy cũng là có thể thông đạt.” Nhưng mà không đưa ra cách nói này là có ý nghĩa khác, đó là trong này dựa vào Trí biết khắp mà nói là có thể thông đạt, dựa vào có thể chứng đoạn biết khắp mà nói là có thể biết khắp, cho nên không cần phải vặn hỏi.

3. Có Sự có thể thông đạt mà cũng có thể biết khắp, đó là KhổTập-Diệt-Đạo trí đoạn các phiền não. Đây là đạo đích thực đoạn phiền não trong Tu đạo, bốn Trí như Khổ… là có thể thông đạt, bởi vì tánh thuộc Trí như thật; cũng có thể biết khắp, bởi vì vĩnh viễn đoạn phiền não.

4. Có Sự không phải là có thể thông đạt mà cũng không phải là có thể biết khắp, đó là Khổ-Tập-Diệt-Đạo nhẫn không đoạn các phiền não. Đây là đã lìa nhiễm cõi Dục, bốn Pháp nhẫn ở trong Kiến đạo không phải là có thể thông đạt, bởi vì không phải là tánh thuộc Trí như thật; cũng không phải là có thể biết khắp, bởi vì không vĩnh viễn đoạn các phiền não, bởi vì phiền não do pháp ấy đối trị đã đoạn trước rồi.

Hỏi: Nếu Sự có thể chán ngán (yếm) thì Sự ấy có thể lìa bỏ (ly) chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt. Trong này, chán ngán là đối với pháp hữu lậu do hành tướng chán ngán mà chuyển, lìa bỏ là có thể lìa bỏ phiền não đã đoạn. Bởi vì hai loại này cùng có dài-ngắn, cho nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có Sự có thể chán ngán mà không phải là có thể lìa bỏ, đó là Khổ-Tập nhẫn trí không đoạn các phiền não. Đây là đã lìa nhiễm cõi Dục tiến vào Kiến đạo, Khổ-Tập pháp nhẫn và tất cả Khổ-Tập trí ở trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo… trừ ra đạo đích thực đoạn phiền não, còn lại Khổ-Tập trí là có thể chán ngán, bởi vì duyên với sự đáng chán ngán mà chuyển; không phải là có thể lìa bỏ, bởi vì không đoạn phiền não.

2. Có Sự có thể lìa bỏ mà không phải là có thể chán ngán, đó là Diệt-Đạo nhẫn trí đoạn các phiền não. Đây là chưa lìa nhiễm cõi Dục, Diệt-Đạo pháp nhẫn và tất cả Diệt-Đạo loại nhẫn trong Kiến đạo, Diệt trí-Đạo trí đích thực đoạn phiền não ở trong Tu đạo. Như vậy Nhẫn trí là có thể lìa bỏ, bởi vì có thể đoạn phiền não; không phải là có thể chán ngán, bởi vì duyên với sự đáng vui mừng mà chuyển.

3. Có Sự có thể chán ngán mà cũng có thể lìa bỏ, đó là Khổ-Tập nhẫn trí đoạn các phiền não. Đây là chưa lìa nhiễm cõi Dục, Khổ-Tập pháp nhẫn và tất cả Khổ-Tập loại nhẫn ở trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo là đạo đích thực đoạn phiền não, Khổ trí-Tập trí. Như vậy Nhẫn trí là có thể chán ngán, bởi vì duyên với sự đáng chán ngán mà chuyển; cũng có thể lìa bỏ, bởi vì đoạn các phiền não.

4. Có Sự không phải là có thể chán ngán mà cũng không phải là có thể lìa bỏ, đó là Diệt-Đạo nhẫn trí không đoạn các phiền não. Đây là đã lìa nhiễm cõi Dục, Diệt-Đạo pháp nhẫn và tất cả Diệt-Đạo trí ở trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo… trừ ra đạo đích thực đoạn phiền não, còn lại Diệt-Đạo trí. Như vậy Nhẫn trí không phải là có thể chán ngán, bởi vì duyên với sự đáng vui mừng mà chuyển; cũng không phải là có thể lìa bỏ, bởi vì không đoạn phiền não.

Hỏi: Nếu Sự có thể chán ngán thì Sự ấy là Tu chán ngán chăng?

Đáp: Nếu Sự có thể chán ngán thì Sự ấy cũng là Tu chán ngán. Trong này, Tu là tu đạt được và tu luyện tập, ở trong Kiến đạo là KhổTập nhẫn trí, ở trong Tu đạo…thì chỉ có Khổ-Tập trí. Như vậy Nhẫn trí là có thể chán ngán, bởi vì duyên với sự đáng chán ngán mà chuyển; cũng có thể Tu chán ngán, bởi vì hành tướng chán ngán ở hiện tại-vị lai, hoặc là tu một loại, hoặc là tu cả hai loại.

Có Sự là Tu chán ngán mà không phải là có thể chán ngán, đó là Diệt-Đạo trí đoạn các phiền não. Đây là ở trong Tu đạo lúc dùng DiệtĐạo trí lìa nhiễm của ba cõi, tu Khổ-Tập trí thuộc hành tướng chán ngán ở đời vị lai, cho nên gọi là Tu chán ngán; duyên với Diệt-Đạo đế là sự đáng vui mừng mà chuyển, cho nên không gọi là có thể chán ngán.

Hỏi: Có lúc Diệt-Đạo trí hiện rõ ở trước mắt, không đoạn phiền não mà cũng có thể Tu chán ngán, như ở trong Tu đạo-đạo Vô học, lúc Diệt trí-Đạo trí lìa nhiễm thì tất cả là đạo gia hạnh-giải thoát-thắng tiến, và ngay lúc ấy dùng hai trí này luyện căn-tu xen lẫn Tĩnh lự, lúc dẫn dắt phát khởi các Thông, các Vô ngại giải, Vô sắc-Giải thoát, và các công đức như Niệm trú…, cũng có thể Tu chán ngán mà không phải là có thể chán ngán, vì sao trong này không nói?

Đáp: Cũng cần phải nói mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác.

Có người nói: Trong này nói đến nghĩa quyết định, đó là Diệt tríĐạo trí đoạn các phiền não, lúc đạo vô gián thì quyết định có thể có thể tu Khổ trí-Tập trí, chỉ là chưa từng đạt được mà hiện rõ trước mắt; lúc khác thì không nhất định, hoặc là đã từng đạt được, hoặc là chưa từng đạt được, nếu là đã từng đạt được thì không có thể tu, vì thế cho nên không nói.

Có người nói: Trong này nói đến phần vị đầu tiên chứ không nói đến những phần vị khác.

Có người nói: Trong này tùy theo tướng hiển bày của phần vị ấy để nói đến điều chủ yếu của nó, vì thế cho nên không nói đến tu chán ngán của những phần vị khác.

Hỏi: Nếu Sự có thể lìa bỏ thì đó là Tu chán ngán chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có Sự có thể lìa bỏ mà không phải là Tu chán ngán, đó là DiệtĐạo nhẫn đoạn các phiền não. Đây là chưa lìa nhiễm cõi Dục, Diệt-Đạo pháp nhẫn và tất cả Diệt-Đạo loại nhẫn ở trong Kiến đạo. Như vậy các Nhẫn là có thể lìa bỏ, bởi vì đoạn phiền não; không phải là Tu chán ngán, bởi vì lúc bấy giờ chỉ tu về hành tướng vui mừng.

2. Có Sự là Tu chán ngán mà không phải là có thể lìa bỏ, đó là Khổ-Tập nhẫn trí không đoạn các phiền não. Đây là đã lìa nhiễm cõi Dục, Khổ-Tập pháp nhẫn và tất cả Khổ-Tập trí trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo…trừ ra đạo đích thực đoạn phiền não, còn lại Khổ-Tập trí. Như vậy Nhẫn trí là Tu chán ngán, bởi vì lúc bấy giờ có thể tu về hành tướng chán ngán; không phải là có thể lìa bỏ, bởi vì không đoạn phiền não.

Hỏi: Có lúc Diệt-Đạo trí hiện rõ ở trước mắt, không đoạn phiền não, cũng Tu chán ngán mà không phải là lìa bỏ, như ở trong Tu đạođạo Vô học, lúc Diệt trí-Đạo trí lìa nhiễm thì tất cả là đạo gia hạnh-giải thoát-thắng tiến, và ngay lúc ấy dùng hai trí này luyện căn-tu xen lẫn Tĩnh lự, lúc dẫn dắt phát khởi các Thông, các Vô ngại giải, Vô sắc-Giải thoát, và các công đức như Niệm trú…, cũng Tu chán ngán mà không phải là lìa bỏ, vì sao trong này không nói?

Đáp: Cũng cần phải nói mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác.

Có người nói: Trong này nói đến nghĩa quyết định, đó là các phần vị ấy thì Khổ trí-Tập trí quyết định Tu chán ngán, Diệt trí-Đạo trí thì không quyết định, bởi vì lúc đã từng đạt được hiện rõ ở trước mắt thì không Tu chán ngán.

3. Có Sự có thể lìa bỏ mà cũng Tu chán ngán, đó là Khổ-Tập nhẫn trí và Diệt trí-Đạo trí đoạn các phiền não. Đây là chưa lìa nhiễm cõi Dục, Khổ-Tập pháp nhẫn và tất cả Khổ-Tập loại nhẫn ở trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo là đạo đích thực đoạn phiền não, và Khổ-Tập-DiệtĐạo trí. Như vậy Nhẫn trí là có thể lìa bỏ, bởi vì đoạn các phiền não; cũng Tu chán ngán, bởi vì lúc bấy giờ có thể tu về hành tướng chán ngán.

4. Có Sự không phải là có thể lìa bỏ mà cũng không phải là Tu chán ngán, đó là Diệt-Đạo nhẫn trí không đoạn các phiền não. Đây là đã lìa nhiễm cõi Dục, Diệt-Đạo pháp nhẫn và tất cả Diệt-Đạo trí ở trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo… lúc Diệt-Đạo trí đã từng đạt được hiện rõ ở trước mắt. Như vậy Nhẫn trí không phải là có thể lìa bỏ, bởi vì không đoạn phiền não; cũng không phải là Tu chán ngán, bởi vì lúc bấy giờ không tu về hành tướng chán ngán.

Từ trước đến đây đã nói đến các câu sai biệt chán ngán-lìa bỏ và Tu, đều dựa vào phần vị sai biệt của Pháp-Loại-Nhẫn-Trí vô lậu, không dựa vào pháp nào khác là bởi vì tiếp theo Sự thông đạt-biết khắp ở phần trước, bởi vì thông đạt-biết khắp chỉ là vô lậu.

Hỏi: Như đã nói thì Thể tánh của chán ngán là gì, là không có tham hay là Tuệ? Giả sử như vậy thì có gì sai? Nếu là không có tham thì văn này đã nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Có Sự có thể chán ngán mà cũng có thể lìa bỏ, đó là Khổ-Tập nhẫn trí đoạn các phiền não.” Trong chương Tạp Uẩn đã nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Thế nào là luyện tập chán ngán lìa bỏ tham? Đó là Vô học chán ngán tương ưng với không có tham-không có sân-không có si.” Không phải là không có tham cùng với không có tham mà có thể nói là tương ưng, bởi vì tự tánh không tương ưng với tự tánh. Nếu là Tuệ thì ngay trên đây đã nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Thế nào là luyện tập chán ngán lìa bỏ tham? Đó là Vô học chán ngán tương ưng với không có tham-không có sânkhông có si.” Không có si tức là Tuệ, không phải là Tuệ cùng với Tuệ mà có thể nói là tương ưng, nguyên cớ như trước.

Đáp: Trong này có người nói: Thể tánh của chán ngán là không có tham.

Hỏi: Nếu như vậy thì văn này đã nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Có Sự có thể chán ngán mà cũng có thể lìa bỏ…”

Đáp: Trong đó nói đến pháp xen tạp với chán ngán gọi là chán ngán, nghĩa là không có tham tương ưng với Nhẫn trí nói là Nhẫn trí.

Hỏi: Trong chương Tạp Uẩn đã nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Thế nào là luyện tập chán ngán lìa bỏ tham?…”

Đáp: Văn ấy nên đưa ra cách nói này, chán ngán tương ưng với căn thiện không có sân-không có si, không cần phải nói là không có tham mà nói đến thì nên biết là người tụng thuận theo xu thế tăng thêm của ngôn từ.

Có người đưa ra cách nói này: Thể tánh của chán ngán là Tuệ.

Hỏi: Nếu như vậy thì ngay trong chương Tạp Uẩn đã nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Thế nào là luyện tập chán ngán lìa bỏ tham?…”

Đáp: Văn ấy nên đưa ra cách nói này, chán ngán tương ưng với căn thiện không có tham-không có sân, không cần phải nói là không có si mà nói đến thì nên biết là người tụng thuận theo xu thế tăng thêm của ngôn từ.

Lời bình: Nên nói Thể tánh của chán ngán khác biệt, không phải là không có tham, không phải là Tuệ.

Có tâm sở pháp riêng biệt gọi là chán ngán tương ưng với tâm, ngay loại này thâu nhiếp ở trong đó lại có những tâm sở pháp khác. Trong này nói đến chán ngán thuộc vô lậu, nhưng cũng có chán ngán thuộc hữu lậu, đó là tương ưng với quán Bất tịnh-Trì tức niệm, Niệm trú-ba Nghĩa quán-bảy Xứ thiện, Noãn-Đảnh-Nhẫn-Thế đệ nhất pháp, Thế tục trí Hiện quán biên trong Kiến đạo, hành tướng như bệnh hoạnnhư ung nhọt-như mũi tên trong Tu đạo…, Tĩnh lự-Vô lượng-Vô sắc-Giải thoát-Thắng xứ-Biến xứ… Nói rộng ra vượt quá bốn biển lớn, nay nói tóm lược bấy nhiêu mà thôi. Như vậy, Sự chán ngán-đã chán ngán, nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc chán ngán mà không phải là đã chán ngán, đó là chán ngán thuộc vô lậu.

2. Có lúc đã chán ngán mà không phải là chán ngán, đó là trừ ra chán ngán thuộc hữu lậu, còn lại pháp hữu lậu.

3. Có lúc chán ngán cũng đã chán ngán, đó là chán ngán thuộc thế tục.

4. Có lúc không phải là chán ngán cũng không phải là đã chán ngán, đó là trừ ra chán ngán thuộc vô lậu, còn lại pháp vô lậu.

Hỏi: Nếu duyên với tất cả các pháp làm hành tướng Vô ngã, thì nên nói là tác ý thuộc tướng vui mừng, hay là tác ý thuộc tướng chán ngán? Giả sử như vậy thì có gì sai? Nếu là tác ý thuộc tướng vui mừng, thì tại sao cũng duyên với sự chán ngán mà chuyển? Nếu là tác ý thuộc tướng chán ngán, thì tại sao cũng duyên với sự vui mừng mà chuyển?

Đáp: Nên đưa ra cách nói như vậy: Là tác ý thuộc tướng vui mừng.

Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao cũng duyên với sự chán ngán mà chuyển?

Đáp: Lúc ấy người tu Quán hành rất thích quán sát đối với sự đáng vui mừng, tuy duyên với vô lượng sự đáng chán ngán mà sinh ra vui mừng như cũ; như ở trên đống tiền bằng đồng đặt vào một đồng tiền vàng, bởi vì đồng tiền vàng mà đối với đống tiền bằng đồng ấy vẫn sinh tâm vui thích, ở đây cũng như vậy.

Hỏi: Nếu pháp làm Nhân cho pháp ấy, thì có lúc pháp này không làm Nhân cho pháp ấy chăng?

Đáp: Không có lúc nào không phải là Nhân.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với pháp Nhân duyên chấp rằng tánh của Nhân duyên không phải là có thật, hiển bày về Thể tánh của pháp Nhân duyên là có thật, cho nên soạn ra phần luận này.

Có người nói: Trong này dựa vào một Nhân mà soạn luận, đó là nhân Tương ưng, bởi vì nhân Tương ưng và các tâm-tâm sở pháp cùng giữ lấy một duyên luôn luôn không tách rời nhau, và bao gồm cả ba đời.

Có người nói: Trong này dựa vào hai Nhân mà soạn luận, đó là nhân Tương ưng-Câu hữu, bởi vì hai Nhân này cùng bao gồm cả ba đời và không tách rời nhau.

Có người nói: Trong này dựa vào ba Nhân mà soạn luận, đó là nhân Tương ưng-Câu hữu-Dị thục, bởi vì ba Nhân này có công năng thù thắng đối với quả và bao gồm cả ba đời.

Có người nói: Trong này dựa vào bốn Nhân mà soạn luận, đó là nhân Tương ưng-Câu hữu-Dị thục-Năng tác, bởi vì bốn Nhân này bao gồm cả ba đời.

Có người nói: Trong này dựa vào năm Nhân mà soạn luận, đó là trừ ra nhân Biến hành.

Có người nói: Trong này dựa vào sáu Nhân mà soạn luận.

Hỏi: Nếu pháp chưa đến phần vị đã sinh thì không có thể làm nhân Đồng loại-Biến hành, đến phần vị đã sinh thì mới có thể làm Nhân, làm sao dựa vào sáu Nhân mà soạn luận, lại nói là không có lúc nào không phải là Nhân?

Đáp: Đây là dựa vào phần vị cuối cùng mà nói, nghĩa là pháp vị lai đến phần vị đang sinh nhất định có thể làm Nhân, từ đây về sau không có lúc nào không phải là Nhân, cho nên đưa ra cách nói này.

Hỏi: Nếu như vậy thì Đẳng vô gián duyên vì sao không đưa ra cách nói này, như nói: Nếu pháp làm Đẳng vô gián cho pháp ấy, thì có lúc pháp này không làm Đẳng vô gián cho pháp ấy chăng?

Đáp: Nếu lúc pháp này chưa đến đã sinh.

Hỏi: Nhưng tâm-tâm sở pháp thuận theo làm Đẳng vô gián duyên, đến phần vị đang sinh nhất định có thể làm duyên, vì sao không nói không có lúc nào không phải là Đẳng vô gián?

Đáp: Điều ấy cũng cần phải đưa ra cách nói này mà không nói đến, thì nên biết là muốn hiển bày các loại văn từ-các loại giải thích, để chỉnh lý đối với nghĩa khiến cho dễ dàng hiểu được.

Lại nữa, muốn nêu rõ hai môn loại-hai phương thức-hai tầng bậchai hình ảnh-hai ánh sáng-hai ngọn đuốc hiển bày rõ ràng lẫn nhau, bởi vì như pháp này-pháp ấy cũng như vậy, như pháp ấy-pháp này cũng như vậy. Nghĩa còn lại nói rộng ra như phẩm luận về Trí trong chương Tạp Uẩn.

Hỏi: Nếu pháp làm Đẳng vô gián cho pháp ấy, thì có lúc pháp này không làm Đẳng vô gián cho pháp ấy chăng?

Đáp: Nếu lúc pháp này chưa đến đã sinh.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với pháp Đẳng vô gián duyên chấp rằng pháp Đẳng vô gián duyên không phải là có thật, hiển bày về Thể của pháp Đẳng vô gián duyên là có thật, cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Nếu lúc pháp này chưa đến đã sinh thì pháp này là gì, là trước hay là sau? Hay là pháp trước chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp sau, nếu đến thì làm Đẳng vô gián chăng? Hay là pháp sau chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp trước, nếu đến thì làm Đẳng vô gián chăng? Như Thế đệ nhất pháp sinh khởi Khổ pháp trí nhẫn, vì Thế đệ nhất pháp chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho Khổ pháp trí nhẫn, nếu đến thì làm Đẳng vô gián chăng? Hay vì Khổ pháp trí nhẫn chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho Thế đệ nhất pháp, nếu đến thì làm Đẳng vô gián chăng? Nếu pháp trước chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp sau, nếu đến thì làm Đẳng vô gián, phần vị có tâm thì có thể như vậy, phần vị không có tâm thì làm sao có thể như vậy? Như tiến vào Định Vô tưởng, hoặc là Định Diệt tận trải qua bảy ngày đêm, hoặc là trải qua thời gian dài; nếu tâm tiến vào Định đến phần vị đã sinh, lập tức làm Đẳng vô gián cho tâm rời khỏi Định, thì lẽ ra tâm rời khỏi Định ở sát-na thứ hai đã sinh. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu pháp làm Đẳng vô gián duyên cho pháp ấy mà giữ lấy pháp ấy làm quả, thì chắc chắn không có pháp nào, hoặc là các hữu tình nếu dùng cỏ thuốc-hoặc là chú thuật, hoặc là Phật-hoặc là Độc giác, hoặc là Thanh văn đến bậc cuối cùng, có thể có năng lực ngăn cản pháp ấy khiến cho sát-na thứ hai không được sinh khởi, vậy thì hai Định không có tâm sẽ vĩnh viễn không dấy khởi. Nếu pháp sau chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp trước, nếu đến thì làm Đẳng vô gián, lẽ nào không phải Khổ pháp trí nhẫn chưa đến phần vị đã sinh, cũng làm Đẳng vô gián cho Thế đệ nhất pháp hay sao?

Đáp: Trong này có người nói: Nếu pháp trước chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp sau, nếu đến thì làm Đẳng vô gián.

Hỏi: Nếu như vậy thì phần vị có tâm thì có thể như vậy, phần vị không có tâm thì làm sao có thể như vậy?

Đáp: Trong này nói đến phần vị có tâm chứ không nói đến phần vị nào khác.

Có người nói: Giả sử dựa vào phần vị không có tâm mà nói thì cũng không có lỗi, nghĩa là lúc tâm tiến vào Định hiện rõ ở trước mắt, cùng lúc chọn lấy quả của các Định và quả của tâm rời khỏi Định, cũng mang lại quả của Định trong sát-na đầu tiên, các Định trong sát-na sau và lúc tâm rời khỏi Định sinh khởi, mang lại quả chứ không phải là chọn lấy quả, bởi vì trước đã chọn lấy.

Lời bình: Người ấy không nên đưa ra cách nói này. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì không có Đẳng vô gián duyên lúc khác chọn lấy quả mà lúc khác mang lại quả, cho nên nếu lúc này chọn lấy quả thì ngay lúc này mang lại quả.

Có người đưa ra cách nói này: Nếu pháp sau chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp trước, nếu đến thì làm Đẳng vô gián.

Hỏi: Lẽ nào không phải Khổ pháp trí nhẫn chưa đến phần vị đã sinh, cũng làm Đẳng vô gián cho Thế đệ nhất pháp hay sao?

Đáp: Lúc bấy giờ tuy làm Đẳng vô gián cho Thế đệ nhất pháp mà không phải là Đẳng vô gián duyên, nếu đến phần vị đã sinh thì cũng gọi là Đẳng vô gián, cũng gọi là Đẳng vô gián duyên.

Như Đẳng vô gián và Đẳng vô gián duyên, như vậy Đẳng vô gián có Đẳng vô gián, Tương tục có Tương tục cũng như vậy. Nghĩa còn lại nói rộng ra như phẩm luận về Trí trong chương Tạp Uẩn.

*******

 

Hỏi: Nếu pháp làm Sở duyên cho pháp ấy, thì có lúc pháp này không phải là Sở duyên cho pháp ấy chăng?

Đáp: Không có lúc nào không phải là Sở duyên.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với pháp Sở duyên duyên chấp rằng pháp Sở duyên duyên không có Thể tánh thật sự, hiển bày về Sở duyên duyên là pháp có thật, cho nên soạn ra phần luận này.

Trong này, không có lúc nào không phải là Sở duyên, bởi vì tâmtâm sở pháp xác định đối với sở duyên.

Hỏi: Thế nào là tâm-tâm sở pháp xác định đối với sở duyên, là xác định đối với nơi chốn, hay là xác định đối với màu sắc xanh-vàng…, hay là xác định đối với sát-na?

Đáp: Trong này có người nói: Tâm-tâm sở pháp chỉ xác định đối với nơi chốn, không phải là xác định đối với màu sắc xanh-vàng… và sát-na. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu xác định đối với màu sắc xanhvàng… và sát-na, thì vô lượng tâm-tâm sở pháp trú trong pháp không sinh khởi, muốn làm cho không có lỗi như vậy, cho nên chỉ xác định đối với nơi chốn.

Hỏi: Nếu chỉ xác định đối với nơi chốn thì trong Sắc xứ ấy có nhiều loại Sắc tánh như xanh-vàng…; nếu đối với loại này không xác định, lúc ấy rõ ràng màu xanh thì nhận biết vẫn rõ ràng, đỏ-vàng…còn lại cũng như vậy. Không có thể cùng một sự nhận biết mà có nhiều tánh rõ ràng, bởi vì không có hai quyết định?

Đáp: Có người nói: Tâm-tâm sở pháp xác định đối với nơi chốn, cũng xác định đối với màu sắc xanh-vàng…, chứ không phải là xác định đối với sát-na. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu xác định đối với sát-na thì vô lượng tâm-tâm sở pháp trú trong pháp không sinh khởi, đừng có lỗi này cho nên không nói là xác định đối với sát-na.

Hỏi: Nếu như vậy thì như trong màu xanh có nhiều loại xanh, đó là gốc xanh-thân xanh-cành xanh-lá xanh-hoa xanh-quả xanh; nếu đối với loại này không nói xác định, lúc ấy rõ ràng là gốc thì nhận biết vẫn rõ ràng, thân-cành…còn lại cũng như vậy. Không có thể cùng một sự nhận biết mà có nhiều tánh rõ ràng, bởi vì không có hai quyết định?

Nói như vậy thì tâm-tâm sở pháp xác định đối với ba loại.

Hỏi: Nếu như vậy thì vô lượng tâm-tâm sở pháp trú trong pháp không sinh khởi?

Đáp: Cho dù vô lượng tâm-tâm sở pháp trú trong pháp không sinh khởi thì đâu có lỗi gì, đời vị lai rộng rãi không có nơi dung nạp hay sao? Nhưng mà pháp ấy trước đây đã có nơi tồn tại.

Hỏi: Tâm-tâm sở pháp nếu như xác định đối với sở duyên thì cũng xác định đối với sở y chăng?

Đáp: Đối với sở y cũng xác định, đó là năm Thức như Nhãn… và pháp tương ưng, ở đời vị lai cách xa với sở y, hiện tại thì cùng với quá khứ lại cách xa.

Có người nói: Vị lai cách xa với sở y, hiện tại-quá khứ cùng chung với sở y.

Nghĩa còn lại nói rộng ra như phẩm luận về Trí trong chương Tạp Uẩn.

Hỏi: Nếu pháp làm Tăng thượng cho pháp ấy, thì có lúc pháp này không phải là Tăng thượng cho pháp ấy chăng?

Đáp: Không có lúc nào không phải là Tăng thượng.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với tánh của Tăng thượng duyên chấp rằng Tăng thượng duyên không phải là có thật, hiển bày về Thể tánh của Tăng thượng duyên là có thật, cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Duyên hòa hợp cho nên các pháp sinh diệt, duyên này không có lúc nào không hòa hợp, tại sao các pháp không luôn luôn sinh diệt?

Đáp: Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói như vậy: “Các pháp sinh diệt hòa hợp khác nhau, nghĩa là duyên khác hòa hợp cho nên các pháp sinh ra, duyên khác hòa hợp cho nên các pháp diệt đi, vì thế cho nên không luôn luôn sinh diệt.”

Lại nữa, pháp này sinh rồi thì pháp khác sinh theo, có nhiều sát-na lần lượt áp sát nhau, vì thế cho nên không có công năng sinh khởi trở lại; như người rơi xuống vách núi, do đất đá sụt lở đè ép mà sắp đứng lên lại bị đè xuống, người ấy lúc bấy giờ còn không có thể cử động được, huống gì đứng dậy được? Các pháp cũng như vậy, vì thế cho nên không có lỗi luôn luôn sinh diệt.

Nghĩa còn lại nói rộng ra như phẩm luận về Trí trong chương Tạp Uẩn.

Các Ý xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp chăng? Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày nghĩa lý của mình. Đó là hoặc có người chấp: Tâm sở tức là tâm. Hoặc có người nói: Xúc tức là Căn-Cảnh-Thức. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về tâm sở không phải là tâm, mà có Thể của Xúc riêng biệt tương ưng với tâm.

Lại vì ngăn chặn sự nghi ngờ của người khác, đó là hoặc có người nghi rằng Nhãn xúc cho đến Thân xúc gọi là ba hòa hợp thì nghĩa có thể như vậy, bởi vì Căn-Cảnh-Thức ấy cùng lúc sinh khởi, Ý xúc cũng gọi là Xúc do ba hòa hợp thì làm sao có thể như vậy? Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Ý căn là quá khứ, Ý thức là pháp hiện tại, hoặc là ba đời, hoặc là tách rời thời gian. Nay muốn quyết định hiển bày về Ý xúc cũng gọi là Xúc do ba hòa hợp, bởi vì không trái ngược lẫn nhau, cùng sinh ra một quả gọi là hòa hợp, chứ không phải là chỉ cùng lúc khởi lên gọi là hòa hợp.

Bởi vì nhân duyên này, cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Các Ý xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp chăng?

Đáp: Các Ý xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp, bởi vì không có Xúc nào không do ba hòa hợp.

Có Xúc do ba hòa hợp mà không phải là Ý xúc, đó là năm Thức thân tương ưng với Xúc. Vì vậy Đức Thế Tôn nói rằng: “Tỳ kheo nên biết! Có Ý giới, có Pháp giới, có Vô minh giới, Vô minh do Xúc mà sinh ra Thọ, do Thọ mà Xúc, cho nên người ngu không có hiểu biết liền chấp có, chấp không có, hoặc là chấp có-không có.”

Trong này, có Ý giới, đó là Ý giới quá khứ; có Pháp giới, đó là Pháp giới ba đời; có Vô minh giới, đó là Vô minh giới hiện tại; Vô minh do Xúc…, đó là ngu muội đối với Sự thuộc về Vô ngã; liền chấp có, đó là khởi lên Thường kiến; liền chấp không có, đó là khởi lên Đoạn kiến; hoặc là chấp có-không có, đó là khởi lên Đoạn kiến-Thường kiến.

Hiếp Tôn giả nói: “Trong này ý nói: Ngu muội đối với tự Thể gọi là Vô minh giới, sáu Thức thân ấy không ngừng diệt đi gọi là Ý giới, lúc bấy giờ do tâm-tâm sở pháp mà chuyển gọi là Pháp giới, Vô minh do Xúc… nói như trước.”

Hỏi: Năm Thức tương ưng với Xúc do Căn-Cảnh-Thức hiện tại mà có, gọi là Xúc do ba hòa hợp thì nghĩa này có thể như vậy; Ý thức tương ưng với Xúc thì Căn ở quá khứ, Cảnh hoặc là vị lai, Thức ở hiện tại, làm sao gọi là Xúc do ba hòa hợp? Đáp: Hòa hợp có hai loại: 1Cùng lúc khởi lên không tách rời nhau thì gọi là hòa hợp; 2-Cùng làm một việc không trái ngược nhau thì gọi là hòa hợp. Năm Thức tương ưng với Xúc dó hai loại hòa hợp cho nên gọi là hòa hợp, Ý thức tương ưng với Xúc do hòa hợp cùng làm một việc cho nên gọi là hòa hợp. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì như năm Thức, Căn-Cảnh hiện tại vốn có tác dụng như vậy, Căn-Cảnh của Ý thức khác nhau về đời, cho nên tác dụng cũng khác nhau.

Vì thế cho nên Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Bởi vì Căn-Cảnh-Thức cùng làm một việc cho nên gọi là hòa hợp, không phải là bởi vì cùng lúc khởi lên không tách rời nhau cho nên gọi là hòa hợp. Như ba pháp này hễ ở bất cứ lúc nào, cũng đều có thể lần lượt chuyển đổi cùng làm một việc, cho nên đều gọi là hòa hợp.”

Có người khác đối với điều này đưa ra văn thêm nhiều:

Hỏi: “Các Nhãn xúc cho đến Thân xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp chăng?

Đáp: Các Nhãn xúc cho đến Thân xúc thì lúc ấy tất cả các Xúc là do ba hòa hợp. Có Xúc do ba hòa hợp mà không phải là Nhãn xúc cho đến Thân xúc, đó là Ý thức thân tương ưng với Xúc.”

Nhưng nay không đưa ra cách nói này là có ý gì? Bởi vì muốn hiển bày trong này chỉ thành lập về nghĩa thành tựu không đến mức cuối cùng, Nhãn xúc cho đến Thân xúc gọi là Xúc do ba hòa hợp, nghĩa tự nhiên thành lập cho nên không nói đến; Ý xúc gọi là Xúc do ba hòa hợp, nghĩa không phải là thành tựu đến mức cuối cùng, vì vậy cho nên nói đến. Do đó như trước đã tụng là hợp lý.

Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là tự mình chấp hay sao? Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Trong chương Kiến Uẩn này chỉ cần phân biệt về Kiến, tại sao phân biệt về Mạn?

Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói rộng ra.

Có người nói: Bởi vì tương tự, nghĩa là trong tất cả phiền não không có phiền não nào không phải là tự tánh thuộc Kiến, mà tựa như Kiến chuyển đổi thì giống như Mạn.

Có người nói: Trước đã nói trong mỗi một Uẩn phân biệt về tất cả các pháp, nếu trong Uẩn này không phân biệt về Mạn thì làm sao gọi là mỗi một Uẩn phân biệt về tất cả các pháp? Vì thế cho nên trong này cũng phân biệt về Mạn.

Hỏi: Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là tự mình chấp hay sao?

Đáp: Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là tự mình chấp, bởi vì Mạn là pháp tự mình đưa ra, tự mình dựa vào mà tranh chấp với nhau.

Có lúc tự mình chấp mà không phải là Mạn, đó là các kiến chấp. Vì vậy Đức Thế Tôn nói rằng: “Tỳ kheo nên biết! Tự mình chấp có Ngã, tự mình chấp có Ngã sở.”

Trong này, tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về Ngã kiến; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về Ngã sở kiến.

Lại nữa, tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về năm Ngã kiến; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về mười lăm Ngã sở kiến.

Lại nữa, tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về hành tướng của chấp Ngã; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về hành tướng của chấp Ngã sở.

Có người đưa ra cách nói này: Tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về Ngã ái; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về Ngã sở ái.

Có Sư khác nói: Tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về Ngã ngu; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về Ngã sở ngu. Lại có người nói: Tự mình chấp có Ngã, là biểu hiện rõ ràng về Tát-ca-da kiến không có phân biệt sự việc nào khác; tự mình chấp có Ngã sở, là biểu hiện rõ ràng về Tát-ca-da kiến có phân biệt các sự việc khác.

Trong tất cả phiền não không có phiền não nào không phải là tự tánh thuộc Mạn, mà tựa như Mạn chuyển đổi thì giống như Kiến, cho nên nói kiến chấp là tự mình chấp chứ không phải là Mạn.

Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là không vắng lặng hay sao?

Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này?

Đáp: Trước đây chỉ phân biệt về hành tướng tương tự của Mạn và Kiến, chưa phân biệt về hành tướng tương tự với tất cả phiền não, nay muốn phân biệt cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là không vắng lặng hay sao?

Đáp: Các Mạn thì tất cả Mạn ấy là không vắng lặng, bởi vì Mạn là pháp tự mình đưa ra, tự mình dựa vào mà tranh chấp với nhau.

Có lúc không vắng lặng mà không phải là Mạn, đó là các phiền não khác hiện rõ ở trước mắt. Vì vậy Đức Thế Tôn nói rằng: “Tỳ kheo nên biết! Động là bị ma ràng buộc, không động thì thoát khỏi hành ác.”

Trong này, các phiền não khác, đó là Kiến-Nghi-Vô minh-ThamSân-Triền-Cấu; hiện rõ ở trước mắt, là biểu hiện về tướng không vắng lặng.

Hỏi: Vì sao phiền não hiện tại có tướng không vắng lặng chứ không phải là quá khứ-vị lai?

Đáp: Phiền não hiện tại làm chướng ngại Thánh đạo và gia hạnh của Thánh đạo ở trong thân của mình; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy.

Lại nữa, phiền não hiện tại có thể chọn lấy quả, mang lại quả ở trong thân của mình; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy.

Lại nữa, phiền não hiện tại có thể giữ lấy quả Đẳng lưu, quả Dị thục ở trong thân của mình; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy.

Lại nữa, phiền não hiện tại có thể làm cho thân của mình trở thành đáng chê trách, đáng ghét bỏ, đáng xa lìa; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy.

Lại nữa, phiền não hiện tại đốt cháy thân của mình, tổn hoại thân của mình, bức não thân của mình; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy.

Lại nữa, phiền não hiện tại làm hại mình, làm hại người, hoặc là làm hại cả hai; phiền não quá khứ và vị lai thì không như vậy.

Lại nữa, phiền não hiện tại là tánh không vắng lặng, có tác dụng không vắng lặng, vì thế cho nên nói đến; phiền não quá khứ và vị lai là tánh không vắng lặng, mà không có tác dụng không vắng lặng, cho nên không nói đến.

Động là bị ma ràng buộc, không động thì thoát khỏi hành ác, trong này câu đầu là hiển bày về không vắng lặng thì bị ma phiền não ràng buộc, câu sau là hiển bày về vắng lặng thì thoát khỏi tánh của Thiên ma, bởi vì xấu xa hiểm ác thì chỉ có Thiên ma.

Có Sư khác nói: Trong này cả hai câu đều biểu hiện rõ ràng về tánh của ma phiền não, bởi vì các phiền não làm hại pháp thiện, cho nên gọi là ma; bởi vì khởi lên nghiệp ác cho nên lại gọi là ác. Nếu các hữu tình không vắng lặng thì bị phiền não ràng buộc, nếu có thể vắng lặng tu tập đối trị thì sẽ được thoát khỏi sự ràng buộc của phiền não.

Hỏi: Các nghiệp thì nghiệp ấy là không luật nghi chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc là nghiệp mà không phải là không luật nghi, đó là luật nghi của thân-ngữ.

2. Có lúc là không luật nghi mà không phải là nghiệp, đó là căn không luật nghi.

3. Có lúc là nghiệp mà cũng là không luật nghi, đó là thân-ngữ không luật nghi.

4. Có lúc không phải là nghiệp mà cũng không phải là không luật nghi, đó là căn luật nghi.

Hỏi: Các nghiệp thì nghiệp ấy là luật nghi chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc là nghiệp mà không phải là luật nghi, đó là thân-ngữ không luật nghi.

2. Có lúc là luật nghi mà không phải là nghiệp, đó là căn luật nghi.

3. Có lúc là nghiệp mà cũng là luật nghi, đó là thân-ngữ luật nghi.

4. Có lúc không phải là nghiệp mà cũng không phải là luật nghi, đó là căn không luật nghi.

Hỏi: Trong này, căn luật nghi và căn không luật nghi lấy gì làm tự tánh?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Căn luật nghi dùng ý niệm nhận biết đúng đắn (niệm chánh tri) làm tự tánh, căn không luật nghi dùng ý niệm quên mất không nhận biết đúng đắn (vong niệm bất chánh tri) làm tự tánh.

Tại sao biết như vậy? Bởi vì lấy kinh làm lượng. Như trong kinh nói: “Lúc ấy có Thiên thần nói với Tỳ kheo rằng: Này Tỳ kheo! Tỳ kheo đừng để lộ mụt nhọt lở loét. Tỳ kheo trả lời rằng: Tôi sẽ che lại. Thiên thần lại hỏi rằng: Mụt nhọt lở loét đã lớn thì lấy gì có thể che kín? Tỳ kheo trả lời rằng: Tôi sẽ dùng ý niệm nhận biết đúng đắn để che kín. Thiên thần liền khen rằng: Khéo thay, khéo thay! Có thể che kín như vậy thì đúng là khéo che kín.”

Vì vậy cho nên biết căn luật nghi dùng ý niệm nhận biết đúng đắn làm tự tánh, căn không luật nghi dùng ý niệm quên mất không nhận biết đúng đắn làm tự tánh.

Hỏi: Nếu như vậy thì trong kinh nói nên hiểu thế nào? Như trong kinh nói: “Đầy đủ niệm và nhận biết đúng đắn cho nên có thể đầy đủ căn luật nghi.” Lẽ nào dùng tự tánh để làm đầy đủ tự tánh hay sao?

Đáp: Niệm và nhận biết đúng đắn có tánh của nhân, có tánh của quả. Tánh của nhân thì dùng tên gọi về ý niệm nhận biết đúng đắn mà nói, tánh của quả thì dùng tên gọi của luật nghi mà nói, bởi vì nhân đầy đủ làm cho quả đầy đủ trọn vẹn, vì thế cho nên không có gì sai.

Có người nói: Căn luật nghi lấy không phóng túng làm tự tánh, căn không luật nghi lấy phóng túng làm tự tánh.

Có người nói: Căn luật nghi lấy sáu pháp luôn luôn an trú (hằng trú) làm tự tánh, căn không luật nghi bởi vì dựa vào sáu căn sinh ra các phiền não để làm tự tánh.

Có người nói: Căn luật nghi lấy căn vĩnh viễn đoạn-biết khắpcác hành diệu và căn thiện làm tự tánh, căn không luật nghi lấy căn không vĩnh viễn đoạn-không biết khắp-các phiền não-hành ác và căn bất thiện làm tự tánh. Như vậy thì dùng hành diệu-hành ác làm Thể của căn luật nghi và căn không luật nghi.

Có người nói: Căn luật nghi dùng căn không thành tựu-không vĩnh viễn đoạn-không biết khắp và thành tựu đạo đối trị của nó làm tự tánh, căn không luật nghi dùng căn thành tựu-không vĩnh viễn đoạn-không biết khắp và không thành tựu đạo đối trị của nó làm tự tánh. Như vậy căn luật nghi-căn không luật nghi đều dùng sự thành tựu-không thành tựu làm Thể.

Có người nói: Căn luật nghi dùng pháp không nhiễm ô làm tự tánh, căn không luật nghi dùng pháp nhiễm ô làm tự tánh. Như vậy căn luật nghi-căn không luật nghi đều dùng năm Uẩn làm Thể tánh của mình.

Xưa trong chùa Chiêu Cát Tường ở nước Ca-thấp-di-la có anh em hai vị A-la-hán, cả hai đều là Pháp sư, thế gian gọi là Nan-địa-ca-tử. Họ nói căn luật nghi-căn không luật nghi, đều dùng căn luật nghi-căn không luật nghi trong Hành uẩn bất tương ưng vô phú vô ký làm tự tánh. Thành lập tự tánh này gọi là Thể, là có thật. Đây là thâu nhiếp ở trong tâm bất tương ưng hành lại có loại khác.

Hỏi: Nếu căn luật nghi-căn không luật nghi, đều dùng Hành uẩn vô phú vô ký làm tự tánh, thì điều này có gì sai biệt?

Đáp: Hành uẩn vô phú vô ký này có lúc tùy thuận phẩm thiện, có lúc tùy thuận phẩm phiền não. Tùy thuận phẩm thiện thì gọi là căn luật nghi, tùy thuận phẩm phiền não thì gọi là căn không luật nghi.

Nếu Sự chưa đạt được thì Sự ấy không thành tựu chăng? Cho đến nói rộng ra.

Ở trong năm loại Sự-mười loại Sự đã nói trước đây, trong này dựa vào Sự thuộc tự tánh mà soạn luận, bởi vì muốn ngăn chặn ý nói là không có tánh thành tựu-không thành tựu, để hiển bày về tánh thành tựu-không thành tựu là có thật.

Hỏi: Nếu Sự chưa đạt được thì Sự ấy không thành tựu chăng?

Đáp: Nếu Sự chưa đạt được thì Sự ấy không thành tựu, đó là quán Bất tịnh-Trì tức niệm, Niệm trú-ba Nghĩa quán-bảy Xứ thiện, NoãnĐảnh-Nhẫn-Thế đệ nhất pháp, Kiến đạo-Tu đạo và đạo Vô học. Những Sự như vậy nếu chưa đạt được thì Sự ấy không thành tựu.

Có Sự không thành tựu mà không phải là chưa đạt được, đó là đạt được rồi mất, đây là nói đến quán Bất tịnh…trước đây, không phải là chưa đạt được mà không thành tựu.

Hỏi: Nếu Sự đã đạt được thì Sự ấy thành tựu chăng?

Đáp: Nếu Sự thành tựu thì Sự ấy đã đạt được, đó chính là quán Bất tịnh… trước đây, đạt được rồi không mất.

Có Sự đã đạt được mà không thành tựu, đó là đạt được rồi mất, đây là nói đến quán Bất tịnh… trước đây, đã đạt được mà mất.

Trừ ra Khổ thánh đế và Pháp xứ…, cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này?

Đáp: Bởi vì ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày về nghĩa lý của mình. Đó là hoặc có người nói: Các pháp thâu nhiếp tánh khác chứ không thâu nhiếp tự tánh, Tập đế chỉ là Ái, Đạo đế chỉ là tám chi Thánh đạo.

Hoặc có người nói: Pháp xứ thâu nhiếp tất cả các pháp.

Hoặc có người nói: Pháp xứ chỉ là phi sắc.

Hoặc có người nói: Không có hai đời quá khứ-vị lai.

Hoặc có người nói: Năm Thức chỉ là tánh vô ký.

Bởi vì ngăn chặn các loại chấp trước lạ lùng như vậy, và hiển bày về nghĩa tương ưng của pháp tướng, cho nên soạn ra phần luận này.

Nói “Trừ ra” là có hai ý nghĩa, một là muốn thiết lập vững vàng, hai là muốn ngăn chặn loại bỏ. Trong này nói “Trừ ra” là muốn ngăn chặn loại bỏ.

Trừ ra Khổ thánh đế và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp hai Giớimột Xứ-một Uẩn. Trong này Khổ thánh đế, đó là tất cá các pháp hữu lậu, tức là mười lăm Giới-phần ít của ba Giới, mười Xứ-phần ít của hai Xứ, phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, đó là bảy loại pháp, tức là TưởngThọ-Hành uẩn, Vô biểu sắc và ba Vô vi. Pháp còn lại, đó là tâm vô lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp hai Giới đó là Ý giới-Ý thức giới, một Xứ đó là Ý xứ, một Uẩn đó là Thức uẩn.

Trừ ra Tập thánh đế và Pháp xứ, nói cũng như vậy. Bởi vì KhổTập có nghĩa khác nhau mà Thể không khác nhau.

Trừ ra Diệt thánh đế và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này Diệt Thánh đế, đó là Trạch diệt-Vô vi, tức là Pháp giới và phần ít của Pháp xứ. Pháp xứ, đó là bảy loại pháp nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tất cả các tâm. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra Đạo thánh đế và Pháp xứ, nói cũng như vậy. Trong này, bởi vì sự thâu nhiếp giống nhau về số lượng, cho nên nói là cũng như vậy. Nhưng Đạo thánh đế, đó là pháp hữu vi vô lậu, gồm ba Giới tức là Ý giới-Ý thức giới-Pháp giới, hai Xứ tức là Ý xứ-Pháp xứ, phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm hữu lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp có Sắc và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp bảy Giớimột Xứ-một Uẩn. Trong này pháp có Sắc, đó là bốn đại chủng và sở tạo, tức là mười Giới-phần ít của một Giới, mười Xứ-phần ít của một Xứ, một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả các tâm. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp bảy tâm Giới-một Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp không có Sắc và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có Sắc, đó là tâmtâm sở pháp, bất tương ưng hành và vô vi, tức là bảy tâm Giới-phần ít của một Giới, một Xứ-phần ít của một Xứ, bốn Uẩn trừ ra Sắc uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp có thấy và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười sáu Giới-mười Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp có thấy, đó là hiện hành của Nhãn, tức là một Giới-một Xứ và phần ít của một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối-không có thấy. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười sáu Giới trừ ra Sắc giới và Pháp giới, mười Xứ trừ ra Sắc xứ và Pháp xứ, do hai Uẩn thâu nhiếp là Sắc uẩn và Thức uẩn.

Trừ ra pháp không có thấy và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp một Giới-một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có thấy, đó là trừ ra hiện hành của Nhãn, còn lại tất cả các pháp, tức là mười bảy Giới-mười một Xứ-bốn Uẩn và phần ít của một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là hiện hành của Nhãn. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp một Giới-một Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp có đối và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp bảy Giớimột Xứ-một Uẩn. Trong này pháp có đối, đó là trừ ra Vô biểu, còn lại tất cả các Sắc, tức là mười Giới-mười Xứ và phần ít của một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả các tâm. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp bảy tâm Giới-một Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp không có đối và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có đối, đó là trừ ra Sắc có đối, còn lại tất cả các pháp, tức là tám Giới-hai Xứ-bốn Uẩn và phần ít của một Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới-mười Xứmột Uẩn.

Trừ ra pháp hữu lậu và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp hai Giớimột Xứ-một Uẩn. Trong này pháp hữu lậu, đó là Khổ-Tập đế, tức là mười lăm Giới-phần ít của ba Giới, mười Xứ-phần ít của hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tâm vô lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn. Trừ ra pháp vô lậu và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp vô lậu, đó là Diệt-Đạo đế và hai Vô vi, tức là ba Giới-hai Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm hữu lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp hữu vi và Pháp xứ, đây là trừ ra tất cả các pháp mà hỏi về pháp khác, là vô cớ luận bàn trống không. Trong này pháp hữu vi, đó là Khổ-Tập-Đạo đế, tức là mười bảy Giới-phần ít của một Giới, mười một Xứ-phần ít của một Xứ và năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Trừ pháp này ra lại không có pháp nào khác có thể thâu nhiếp, vì thế cho nên ở đây gọi là vô cớ luận bàn trống không.

Trừ ra pháp vô vi và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp vô vi, đó là Hư không Trạch diệt và Phi trạch diệt, tức là một Giới và phần ít của một Xứ. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tất cả các tâm. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp quá khứ và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp quá khứ, đó là các pháp đã sinh-đã diệt, tức là mười tám Giới-mười hai Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm thuộc vị lai-hiện tại. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp vị lai-pháp hiện tại và Pháp xứ, nói cũng như vậy; bởi vì thời gian khác biệt mà chủng loại không khác nhau.

Trừ ra pháp thiện và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp thiện, đó là pháp có thể đạt được quả yêu thích và tự tánh an ổn, tức là mười Giới-bốn Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm thuộc bất thiện-vô ký. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp bất thiện và Pháp xứ, nói cũng như vậy; bởi vì chủng loại khác biệt mà thâu nhiếp không khác nhau.

Trừ ra pháp vô ký và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp chín Giớiba Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp vô ký, đó là pháp không đạt được quả yêu thích-không yêu thích và không phải là tự tánh an ổn, tức là tám Giới-phần ít của mười Giới, tám Xứ-phần ít của bốn Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối và tâm thuộc thiện-bất thiện. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp chín Giới-ba Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Dục và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười ba Giới-chín Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp hệ thuộc cõi Dục, đó là do Ái của cõi Dục mà tùy tăng, tức là bốn Giới-phần ít của mười bốn Giới, hai Xứ-phần ít của mười Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối hệ thuộc cõi Sắc và tâm hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc cùng với không hệ thuộc. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười ba Giới-chín Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Sắc và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp hệ thuộc cõi Sắc, đó là do Ái của cõi Sắc mà tùy tăng, tức là mười bốn Giới-mười Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là Sắc có đối hệ thuộc cõi Dục và tâm hệ thuộc cõi Dục-Vô sắc cùng với không hệ thuộc. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Vô sắc-pháp Học-pháp Vô học và Pháp xứ, nói cũng như vậy; đây là bởi vì sự thâu nhiếp giống nhau về số lượng.

Trừ ra pháp Phi học phi vô học và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp Phi học phi vô học, đó là tất cả pháp hữu lậu và vô vi, tức là mười lăm Giới-phần ít của ba Giới, mười Xứ-phần ít của hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tâm vô lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp do Kiến mà đoạn và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp do Kiến mà đoạn, đó là do Nhẫn mà đối trị, tức là ba Giới-hai Xứ và phần ít của bốn Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối và tâm do Tu mà đoạn cùng với không đoạn. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp do Tu mà đoạn và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp do Tu mà đoạn, đó là do Trí mà đối trị, tức là mười lăm Giới-phần ít của ba Giới, mười Xứ-phần ít của hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tâm do Kiến mà đoạn và không đoạn. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp hai Giới-một Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp không đoạn và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp không đoạn, đó là tất cả pháp vô lậu, tức là ba Giới-hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối và tâm hữu lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp đã sinh và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp đã sinh, đó là pháp quá khứ-hiện tại, tức là mười tám Giới-mười hai Xứphần ít của năm Uẩn; pháp nhất định không sinh, đó là pháp quá khứhiện tại, và pháp nhất định không sinh thuộc vị lai, cùng với vô vi bởi vì đã sinh cho nên đạt được, bởi vì không sinh cho nên không có sinh. Quyết định không sinh thì pháp này cũng là mười tám Giới-mười hai Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp còn lại, đó là pháp đang sinh và có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này cũng thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp không phải là đã sinh và pháp nhất định không sinh, đây là trừ ra tất cả các pháp mà hỏi về pháp khác, là vô cớ luận bàn trống không. Trong này pháp không phải là đã sinh, đó là pháp vị lai và vô vi, tức là mười tám Giới-mười hai Xứ-phần ít của năm Uẩn. Pháp nhất định không sinh, nói như trước. Trừ pháp này ra lại không có pháp nào khác có thể thâu nhiếp, vì thế cho nên nói là vô cớ luận bàn trống không.

Trừ ra pháp có Sắc và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp tám Giới-hai Xứ-bốn Uẩn. Trong này pháp có Sắc và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp đang sinhcó thể sinh, các tâm-tâm sở và tâm bất tương ưng hành. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp tám Giới-hai Xứ-bốn Uẩn.

Trừ ra pháp không có Sắc và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười một Giới-mười một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có Sắc và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp có Sắc đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười một Giới-mười một Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp có thấy và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp có thấy và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp không có thấy đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp không có thấy và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp một Giới-một Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có thấy và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các Sắc có thấy đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp một Giới-một Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp có đối và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp tám Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp có đối và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp không có đối đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp tám Giới-hai Xứ-bốn Uẩn.

Trừ ra pháp không có đối và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có đối và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các Sắc có đối đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp hữu lậu và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp hữu lậu và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp vô lậu đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp vô lậu và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp vô lậu và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp hữu lậu đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp hữu vi và pháp nhất định không sinh, đây là trừ ra tất cả các pháp mà hỏi về pháp khác, là vô cớ luận bàn trống không. Trong này pháp hữu vi và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Trừ pháp này ra lại không có pháp nào khác có thể thâu nhiếp, vì thế cho nên nói là vô cớ luận bàn trống không.

Trừ ra pháp vô vi và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp vô vi và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp hữu vi đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp quá khứ-pháp hiện tại và pháp nhất định không sinh, nói cũng như vậy. Trong này, pháp còn lại đều nói là các pháp hữu vi đang sinh-có thể sinh, vì thế cho nên pháp này đều thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp vị lai và pháp nhất định không sinh, đây là trừ ra tất cả các pháp mà hỏi về pháp khác, là vô cớ luận bàn trống không. Trong này pháp vị lai và pháp nhất định không sinh, thâu nhiếp đầy đủ tất cả pháp hữu vi-vô vi. Trừ pháp này ra lại không có pháp nào khác có thể thâu nhiếp, vì thế cho nên nói là vô cớ luận bàn trống không.

Trừ ra pháp thiện và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp thiện và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp bất thiện-vô ký đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp bất thiện và pháp nhất định không sinh, nói cũng như vậy; bởi vì đối với pháp còn lại đã thâu nhiếp giống nhau.

Trừ ra pháp vô ký và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười Giới-bốn Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp vô ký và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp thiện-bất thiện đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giớibốn Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Dục và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười bốn Giới-mười Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp hệ thuộc cõi Dục và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc và pháp không hệ thuộc đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bốn Giớimười Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Sắc và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp hệ thuộc cõi Sắc và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp hệ thuộc cõi Dục-Vô sắc và pháp không hệ thuộc đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp hệ thuộc cõi Vô sắc-pháp Học-pháp Vô học và nhất định không sinh, nói cũng như vậy; bởi vì đối với pháp còn lại thâu nhiếp giống nhau về số lượng.

Trừ ra pháp Phi học phi vô học và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp Phi học phi vô học và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp Học-Vô học đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp do Kiến mà đoạn và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp do Kiến mà đoạn và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp do Tu mà đoạn và không đoạn đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp do Tu mà đoạn và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp do Tu mà đoạn và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp do Kiến mà đoạn và không đoạn đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp không đoạn và Pháp xứ, pháp còn lại thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn. Trong này pháp không đoạn, đó là tất cả pháp vô lậu, tức là ba Giới-hai Xứ và phần ít của năm Uẩn. Pháp xứ, nói như trước. Pháp còn lại, đó là tất cả Sắc có đối và tâm hữu lậu. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười bảy Giới-mười một Xứ-hai Uẩn.

Trừ ra pháp không có đối và pháp nhất định không sinh, pháp còn

lại thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn. Trong này pháp không có đối và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các Sắc có đối đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười Giới-mười Xứ-một Uẩn.

Trừ ra pháp hữu lậu và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp hữu lậu và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là các pháp vô lậu đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp ba Giới-hai Xứ-năm Uẩn.

Trừ ra pháp không đoạn và pháp nhất định không sinh, pháp còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn. Trong này pháp không đoạn và pháp nhất định không sinh, nói như trước. Pháp còn lại, đó là pháp do Kiến-Tu mà đoạn đang sinh-có thể sinh. Vì thế cho nên pháp này thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

Hỏi: Có thể có một Giới-một Xứ-một Uẩn thâu nhiếp tất cả các pháp chăng?

Đáp: Có, một Giới đó là Pháp Giới, một Xứ đó là Ý xứ, một Uẩn đó là Sắc uẩn, như vậy thì thâu nhiếp hết tất cả các pháp. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tất cả các pháp không ra ngoài năm Sự, đó là Sắc-TâmTâm sở pháp-Bất tương ưng hành và Vô vi, Sắc uẩn thâu nhiếp Sắc, Ý xứ thâu nhiếp Tâm, Pháp xứ thâu nhiếp những loại còn lại, vì thế cho nên thâu nhiếp tất cả các pháp.

Lại nữa, tất cả các pháp không ra ngoài mười tám Giới, trong đó Sắc uẩn thâu nhiếp mười Sắc giới, Ý xứ thâu nhiếp bảy Tâm giới, Pháp giới thâu nhiếp Pháp giới, cho nên thâu nhiếp tất cả các pháp.

Lại nữa, tất cả các pháp đều quy vào trong Uẩn-Giới-Xứ, ba loại này lần lượt chuyển đổi thâu nhiếp lẫn nhau, đó là Sắc uẩn thâu nhiếp mười Sắc giới, mười Sắc xứ, Pháp giới và phần ít của Pháp xứ; Ý xứ thâu nhiếp bảy Tâm giới và Thức uẩn; Pháp giới thâu nhiếp Pháp xứ, Thọ-Tưởng-Hành uẩn và phần ít của Sắc uẩn. Vì thế cho nên ba loại này thâu nhiếp tất cả các pháp.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.