Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Năm trăm Đại A-la-hán cùng tạo luận
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch Phạn sáng Hán
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

CHƯƠNG V: ĐẠI CHỦNG UẨN

Phẩm Thứ Tư: LUẬN VỀ CHẤP THỌ

(Từ cuối quyển 137 – quyển 141)

Đại chủng có chấp thọ cùng với Đại chủng có chấp thọ, làm mấy duyên? Các chương như vậy và giải thích về nghĩa từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp theo cần phải phân biệt rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý muốn ấy mà soạn luận, nhưng không trái với pháp tướng thì không cần phải vặn hỏi. Lại nữa, muốn ngăn chặn người khác nói về pháp nhân duyên và đời quá khứ-vị lai không phải là có thật, ý hiển bày về các nhân duyên quá khứ-vị lai là có thật, cho nên soạn ra phần luận này.

Trong này, Đại chủng có chấp thọ, đó là sát-na hiện tại thuộc về số hữu tình, do tâm-tâm sở pháp mà chấp thọ Đại chủng. Đại chủng không có chấp thọ, đó là quá khứ-vị lai và một phần hiện tại thuộc về số hữu tình, cùng với Đại chủng vốn có thuộc về tất cả số phi hữu tình của ba đời. Đây gọi là Tỳ-bà-sa tóm lược ở nơi này.

Hỏi: Đại chủng có chấp thọ cùng với Đại chủng có chấp thọ, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Câu hữu. Tăng thượng, đó là không ngăn cản đối với sinh khởi và chỉ riêng không có chướng ngại.

Nhưng có sai biệt, đó là một quả thì khác loại hướng về với nhau làm Nhân và Tăng thượng, không phải là một quả thì chỉ có một Tăng thượng.

Hỏi: Đại chủng có chấp thọ cùng với Đại chủng không có chấp thọ, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Nhưng có sai biệt, đó là Đại chủng có chấp thọ cùng với Đại chủng thuộc về số hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng; cùng với Đại chủng không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Hỏi: Đại chủng không có chấp thọ cùng với Đại chủng không có chấp thọ, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu

hữu- Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Nhưng có sai biệt, đó là Đại chủng thuộc về số hữu tình quá khứ cùng với Đại chủng thuộc về số hữu tình quá khứ, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu-Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Đại chủng thuộc về số hữu tình vị lai, và Đại chủng không có chấp thọ thuộc về số hữu tình hiện tại, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Đại chủng không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Đại chủng thuộc về số phi hữu tình quá khứ cùng với Đại chủng thuộc về số phi hữu tình quá khứ, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu-Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Đại chủng thuộc về số phi hữu tình vị lai-hiện tại, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Đại chủng thuộc về số hữu tình quá khứ-vị lai, và Đại chủng không có chấp thọ thuộc về số hữu tình hiện tại, chỉ là một Tăng thượng.

Đại chủng thuộc về số hữu tình vị lai cùng với Đại chủng thuộc về số hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Câu hữu. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Đại chủng không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Đại chủng thuộc về số phi hữu tình vị lai cùng với Đại chủng thuộc về số phi hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Câu hữu. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Đại chủng không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Đại chủng không có chấp thọ thuộc về số hữu tình hiện tại cùng với Đại chủng không có chấp thọ thuộc về số hữu tình hiện tại, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Câu hữu. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Đại chủng thuộc về số hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Đại chủng không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Đại chủng thuộc về số phi hữu tình hiện tại cùng với Đại chủng thuộc về số phi hữu tình hiện tại, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Câu hữu. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với

Đại chủng thuộc về số phi hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Cùng với Đại chủng không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Hỏi: Đại chủng không có chấp thọ cùng với Đại chủng có chấp thọ, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Nhưng có sai biệt, đó là Đại chủng thuộc số hữu tình quá khứ cùng với Đại chủng có chấp thọ, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Đại chủng không có chấp thọ khác cùng với Đại chủng có chấp thọ, chỉ là một Tăng thượng.

Đã nói về Đại chủng, nay sẽ nói đến Sở tạo.

Sở tạo cũng có hai loại, đó là có chấp thọ và không có chấp thọ. Sát-na hiện tại thuộc về số hữu tình, do tâm-tâm sở pháp mà chấp thọ, đó là có chấp thọ. Quá khứ-vị lai và một phần hiện tại thuộc về số hữu tình, cùng với tất cả thuộc về số phi hữu tình của ba đời, là không có chấp thọ. Đây gọi là Tỳ-bà-sa tóm lược ở nơi này.

Hỏi: Sắc sở tạo có chấp thọ cùng với Sắc sở tạo có chấp thọ, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Không có nhân, bởi vì Sắc sở tạo Hữu đối lần lượt chuyển đổi, hướng về nhau không phải là nhân Câu hữu.

Hỏi: Sắc sở tạo có chấp thọ cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại-Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Nhưng có sai biệt, đó là Sắc sở tạo có chấp thọ cùng với Sắc sở tạo thuộc số hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng; cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Hỏi: Sắc sở tạo không có chấp thọ cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Câu hữu- Đồng loại-Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Nhưng có sai biệt, đó là Sắc sở tạo thuộc về số hữu tình quá khứ cùng với Sắc sở tạo thuộc về số hữu tình quá khứ, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Câu hữu-Đồng loại-Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Sắc sở tạo thuộc số hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại-Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ thuộc về số hữu tình hiện tại, làm Nhân và Tăng thượng, Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Sắc sở tạo thuộc về số phi hữu tình quá khứ cùng với Sắc sở tạo thuộc về số phi hữu tình quá khứ-vị lai-hiện tại, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Sắc sở tạo thuộc về số hữu tình vị lai cùng với Sắc sở tạo thuộc về số hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu-Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Sắc sở tạo thuộc về số phi hữu tình vị lai cùng với tất cả Sắc sở tạo không có chấp thọ, chỉ là một Tăng thượng.

Sắc sở tạo không có chấp thọ thuộc về số hữu tình hiện tại cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ thuộc về số hữu tình hiện tại, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Câu hữu. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Sắc sở tạo thuộc về số hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại-Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Sắc sở tạo thuộc về số phi hữu tình hiện tại cùng với Sắc sở tạo thuộc về số phi hữu tình vị lai, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Cùng với Sắc sở tạo không có chấp thọ khác, chỉ là một Tăng thượng.

Hỏi: Sắc sở tạo không có chấp thọ cùng với Sắc sở tạo có chấp thọ, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại-Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Nhưng có sai biệt, đó là Sắc sở tạo thuộc số hữu tình quá khứ cùng với Sắc sở tạo có chấp thọ, làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại-Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Sắc sở tạo không có chấp thọ khác cùng với Sắc sở tạo có chấp thọ, chỉ là một Tăng thượng.

*******

 

Hỏi: Pháp tương ưng với nhân cùng Pháp tương ưng với nhân, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Tương ưng, Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Đẳng vô gián, đó là pháp tương ưng với nhân đẳng vô gián, pháp tương ưng với nhân hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp tương ưng với nhân làm sở duyên cho pháp tương ưng với nhân. Tăng thượng, đó là không ngăn cản đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại.

Hỏi: Pháp tương ưng với nhân cùng Pháp không tương ưng với nhân, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Đẳng vô gián, đó là pháp tương ưng với nhân đẳng vô gián, pháp không tương ưng với nhân hiện rõ ở trước mắt, tức là Đẳng chí Vô tưởng, Đẳng chí Diệt tận, là pháp của tâm-tâm sở đẳng vô gián. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là sở duyên, bởi vì pháp không tương ưng với nhân không có sở duyên.

Hỏi: Pháp không tương ưng với nhân cùng Pháp không tương ưng với nhân, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Pháp không tương ưng với nhân cùng Pháp tương ưng với nhân, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Sở duyên, đó là pháp không tương ưng với nhân làm sở duyên cho pháp tương ưng với nhân. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là Đẳng vô gián, bởi vì pháp không tương ưng với nhân không phải là Đẳng vô gián duyên.

Hỏi: Pháp có sở duyên cùng với Pháp có sở duyên, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Tương ưng, Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Đẳng vô gián, đó là pháp có sở duyên đẳng vô gián, pháp có sở duyên hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp có sở duyên làm sở duyên cho pháp có sở duyên. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Pháp có sở duyên cùng với Pháp không có sở duyên, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Đẳng vô gián, đó là pháp có sở duyên đẳng vô gián, pháp không có sở duyên hiện rõ ở trước mắt, tức là Đẳng chí Vô tưởng, Đẳng chí Diệt tận, là pháp tâm- tâm sở đẳng vô gián. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là sở duyên, bởi vì không có sở duyên của pháp không có sở duyên.

Hỏi: Pháp không có sở duyên cùng với Pháp không có sở duyên, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Pháp không có sở duyên cùng với Pháp có sở duyên, làm mấy nhân?

Đáp: Nhân, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Sở duyên, đó là pháp không có sở duyên làm sở duyên cho pháp có sở duyên. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là đẳng vô gián, bởi vì pháp không có sở duyên không phải là đẳng vô gián.

Hỏi: Pháp có sắc cùng với Pháp có sắc, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Pháp có sắc cùng với Pháp không có sắc, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Dị thục. Sở duyên, đó là pháp có sắc làm sở duyên cho pháp không có sắc. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là đẳng vô gián, bởi vì pháp có sắc không phải là đẳng vô gián duyên.

Hỏi: Pháp không có sắc cùng với Pháp không có sắc, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Tương ưng… Đẳng vô gián, đó là pháp không có sắc đẳng vô gián, pháp không có sắc hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp không có sắc làm sở duyên cho pháp không có sắc. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Pháp không có sắc cùng với Pháp có sắc, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Pháp có thấy-không có thấy, có đối-không có đối, nói cũng như vậy. Sai biệt là Pháp có thấy cùng với Pháp có thấy, làm hai nhân, đó là nhân Đồng loại- Dị thục; còn lại đều nói như trước.

Hỏi: Pháp hữu lậu cùng với Pháp hữu lậu, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Tương ưng… Đẳng vô gián, đó là pháp hữu lậu đẳng vô gián, pháp hữu lậu hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp hữu lậu làm sở duyên cho pháp hữu lậu. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Pháp hữu lậu cùng với Pháp vô lậu, làm mấy duyên?

Đáp: Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Đẳng vô gián, đó là pháp hữu lậu đẳng vô gián, pháp vô lậu hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp hữu lậu làm sở duyên cho pháp vô lậu, tức là tâm-tâm sở pháp thuộc phẩm Nhẫn trí của Khổ-Tập. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là nhân, bởi vì nhân giống như chủng tử, không phải là pháp hữu lậu làm chủng tử cho pháp vô lậu.

Hỏi: Pháp vô lậu cùng với Pháp vô lậu, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Tương ưng, Câu hữu, Đồng loại. Đẳng vô gián, đó là pháp vô lậu đẳng vô gián, pháp vô lậu hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp vô lậu làm sở duyên cho pháp vô lậu, tức là tâm-tâm sở pháp thuộc phẩm Nhẫn trí của Diệt- Đạo. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Pháp vô lậu cùng với Pháp hữu lậu, làm mấy duyên?

Đáp: Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Đẳng vô gián, đó là pháp vô lậu đẳng vô gián, pháp hữu lậu hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp vô lậu làm sở duyên cho pháp hữu lậu. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là nhân, bởi vì nhân giống như chủng tử, không phải là pháp vô lậu làm chủng tử cho pháp hữu lậu.

Hỏi: Pháp hữu vi cùng với Pháp hữu vi, làm mấy duyên?

Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Tương ưng… Đẳng vô gián, đó là pháp hữu vi đẳng vô gián, pháp hữu vi hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp hữu vi làm sở duyên cho pháp hữu vi. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Pháp hữu vi cùng với Pháp vô vi, làm mấy duyên?

Đáp: Không có.

Hỏi: Pháp vô vi cùng với Pháp vô vi, làm mấy duyên?

Đáp: Không có.

Hỏi: Pháp vô vi cùng với Pháp hữu vi, làm mấy duyên?

Đáp: Sở duyên và Tăng thượng. Sở duyên, đó là pháp vô vi làm sở duyên cho pháp hữu vi. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Vì sao Pháp hữu vi có nhân-có duyên, Pháp vô vi không có nhân-không có duyên?

Đáp: Bởi vì tánh của các pháp hữu vi yếu kém, cho nên dựa vào các nhân duyên; pháp vô vi mạnh mẽ không dựa vào nhân duyên. Như người kém cỏi dựa vào người khác, người mạnh khỏe thì không dựa vào ai cả; ở đây cũng như vậy.

Có người nói: Các pháp hữu vi có tác dụng cho nên dựa vào các nhân duyên, pháp vô vi không có tác dụng cho nên không dựa vào nhân duyên. Như người cắt cỏ thì cần đến cái liềm, người đào đất thì cần đến cái thuổng, người không làm gì thì không cần đến gì cả; ở đây cũng như vậy.

Có người nói: Các pháp hữu vi hiện hành giữa thế gian với tác dụng chọn lấy quả (thủ quả), hiểu rõ về cảnh cho nên cần đến nhân duyên, pháp vô vi không có sự việc như vậy cho nên không cần đến nhân duyên. Như người đi xa thì cần đến lương thực, không đi thì không cần đến; ở đây cũng như vậy.

Có người nói: Hữu vi như Vua cũng như quyến thuộc cho nên có nhân duyên, vô vi như Vua mà không như quyến thuộc cho nên không có nhân duyên. Như Vua và quyến thuộc của Vua, người giàu sang và quyến thuộc của người giàu sang, Đế Thích và quyến thuộc của Đế Thích, nên biết cũng như vậy.

Hỏi: Các pháp hữu vi có lúc không sinh khởi thì pháp nào làm trở ngại, là pháp hữu vi hay là pháp vô vi?

Đáp: Các pháp hữu vi làm cho trở ngại, không phải là pháp vô vi, bởi vì pháp vô vi luôn luôn làm nhân Năng tác và duyên Tăng thượng cho pháp hữu vi, đối với sinh khởi hay không sinh khởi đều không có chướng ngại, như miệng sư tử… ở bên suối hồ, lúc nước không chảy thì tự nhiên có duyên khác chứ không phải là miệng của những loài này làm chướng ngại.

Hỏi: Các pháp vô vi cùng với pháp hữu vi làm Tăng thượng duyên và Sở duyên duyên, đối với duyên tự động-duyên không tự động làm Tăng thượng duyên, có mạnh-yếu hay không?

Đáp: Nghĩa về Tăng thượng duyên như nhau chứ không có gì sai biệt, bởi vì nếu duyên hay không duyên đều không có gì chướng ngại; nghĩa về Sở duyên duyên thì có sai biệt, đối với duyên tự động thì làm Sở duyên duyên, đối với duyên không tự động thì sẽ không làm.

Các triền-sở triền nối tiếp Hữu (nẽo, loài) địa ngục. Cho đến nói rộng ra.

Đã nói đến thanh Hữu thì nghĩa có nhiều loại, như trong chương Kiết Uẩn nói rộng ra. Trong này nói đến Chúng đồng phần nối tiếp, năm Uẩn thuộc số hữu tình gọi là Hữu. Nhưng nối tiếp nhau có năm loại:

  1. Trung hữu nối tiếp nhau.
  2. Sinh hữu nối tiếp nhau.
  3. Phần vị nối tiếp nhau.
  4. Pháp nối tiếp nhau.
  5. Sát na nối tiếp nhau.

Trung hữu nối tiếp nhau, nghĩa là Uẩn của Tử hữu diệt đi, Uẩn của Trung hữu khởi lên, Trung hữu nối tiếp Tử hữu gọi là Trung hữu nối tiếp nhau.

Sinh hữu nối tiếp nhau, nghĩa là Uẩn của Trung hữu diệt đi, Uẩn của Sinh hữu khởi lên, Sinh hữu nối tiếp Trung hữu gọi là Sinh hữu nối tiếp nhau.

Phần vị nối tiếp nhau, nghĩa là Uẩn của phần vị Yết-la-lam diệt đi, Uẩn của phần vị Át-bộ-đàm khởi lên, cho đến Uẩn của phần vị Trung niên diệt đi, Uẩn của phần vị Lão niên khởi lên, đều lấy phần vị sau nối tiếp phần vị trước gọi là Phần vị nối tiếp nhau.

Pháp nối tiếp nhau, nghĩa là pháp thiện đẳng vô gián, pháp nhiễm ô hoặc là pháp vô ký hiện rõ ở trước mắt; pháp nhiễm ô đẳng vô gián, pháp thiện hoặc là pháp vô ký hiện rõ ở trước mắt; pháp vô ký đẳng vô gián, pháp thiện hoặc là pháp nhiễm ô hiện rõ ở trước mắt, đều lấy pháp sau nối tiếp pháp trước gọi là Pháp nối tiếp nhau.

Sát-na nối tiếp nhau, nghĩa là Uẩn của sát-na thứ nhất đẳng vô gián, Uẩn của sát-na thứ hai hiện rõ ở trước mắt, sát-na sau nối tiếp sátna trước gọi là Sát-na nối tiếp nhau.

Năm loại này đều đưa vào trong hai sự nối tiếp nhau, đó là Pháp nối tiếp nhau và Sát-na nối tiếp nhau, bởi vì đều không tách rời Pháp và Sát-na.

Cõi (giới) phân biệt, cõi Dục có đủ năm loại, cõi Sắc có bốn loại trừ ra Phần vị, cõi Vô sắc có ba loại lại trừ ra Trung hữu.

Nẽo (thú) phân biệt, địa ngục có bốn loại trừ ra Phần vị, nẽo còn lại có đủ năm loại.

Sinh phân biệt, tất cả đều có đủ năm loại.

Ở trong năm loại nối tiếp nhau này, dựa vào hai loại nối tiếp nhau mà soạn luận, đó là Trung hữu và Sinh hữu.

Hỏi: Các triền-sở triền nối tiếp loài địa ngục, lúc đầu đã có được Đại chủng của các căn, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cùng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Các triền-sở triền nối tiếp loài bàng sinh, loài quỷ, loài người, loài trời, lúc đầu đã có được Đại chủng của các căn, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cùng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Nếu tâm-tâm sở pháp ấy, không duyên với Đại chủng của các căn ấy mà đầu thai (kiết sinh), thì có thể nói Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, chỉ là một Tăng thượng; nếu tâm-tâm sở pháp ấy, duyên với Đại chủng của các căn ấy mà đầu thai, thì Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy sẽ làm hai duyên, đó là Sở duyên và Tăng thượng. Vì sao nhất định trả lời chỉ là một Tăng thượng?

Đáp: Cũng cần phải nói là hai mà không nói đến thì nên biết nghĩa này có khác.

Có người nói: Trong này nói về quyết định, nghĩa là Tăng thượng duyên thì nhất định, Sở duyên duyên thì không nhất định, vì vậy không nói đến.

Có người nói: Trong này nói về cùng có, nghĩa là Đại chủng của căn cùng với tâm-tâm sở lần lượt làm Tăng thượng duyên, vì vậy đã nói không phải là tâm-tâm sở cùng với Đại chủng của căn làm Sở duyên duyên, cho nên không nói đến.

Có người nói: Trong này nói về giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa là Đại chủng của căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp lại giúp đỡ lẫn nhau, mạnh hơn về nghĩa của Tăng thượng; Sở duyên thì không như vậy, bởi vì hễ duyên với pháp nào thì cũng có thể sinh khởi, vì vậy không nói đến.

Hỏi: Sinh ở cõi Dục tiến vào Tĩnh lự thứ nhất thuộc hữu lậu, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cùng với Đại chủng của các căn, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Tâm-tâm sở pháp ấy, nếu duyên với pháp khác mà tiến vào Định thì có thể như đã nói; nếu duyên với chính Đại chủng của các căn ấy mà tiến vào Định thì có hai duyên, tại sao lại nói chỉ là một Tăng thượng?

Đáp: Cần phải nói mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác.

Có người nói: Trong này nói về quyết định, Sở duyên thì không nhất định, vì vậy không nói đến.

Có người nói: Trong này nói về cùng có, Sở duyên thì không như vậy, cho nên không nói đến.

Có người nói: Trong này nói về giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa là tâmtâm sở cùng với Đại chủng của căn ấy, lại giúp đỡ lẫn nhau, mạnh hơn về nghĩa của Tăng thượng; Sở duyên thì không như vậy, hễ duyên với pháp nào thì cũng có thể sinh khởi, vì vậy không nói đến.

Hỏi: Tiến vào các Tĩnh lự nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, cùng với tiến vào Vô sắc, sai biệt thế nào?

Đáp: Tĩnh lự nuôi lớn-tăng thêm, nhiều mà không phải là diệu, như thức ăn của nước Phược-hát; Vô sắc nuôi lớn-tăng thêm, diệu mà không phải là nhiều, như thức ăn của vùng Trung Ấn Độ.

Hỏi: Sinh ở cõi Dục tiến vào Tĩnh lự thứ nhất thuộc vô lậu, cho đến Vô sở hữu xứ, nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cùng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Trong này không nói đến nghĩa của Sở duyên duyên, và sự sai biệt về nuôi lớn-tăng thêm của Tĩnh lự-Vô sắc, như trước nên biết.

Hỏi: Tiến vào Tĩnh lự-Vô sắc thuộc hữu lậu nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, cùng với tiến vào vô lậu, sai biệt thế nào?

Đáp: Hữu lậu nuôi lớn-tăng thêm, nhiều mà không phải là diệu; vô lậu nuôi lớn-tăng thêm, diệu mà không phải là nhiều. Hai thí dụ như trước.

Hỏi: Sinh ở cõi Sắc tiến vào Tĩnh lự thứ nhất thuộc hữu lậu, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cùng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Sinh ở cõi Sắc tiến vào Tĩnh lự thứ nhất thuộc vô lậu, cho đến Vô sở hữu xứ, nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cùng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng.

Trong này không nói đến Sở duyên, và sự sai biệt về nuôi lớntăng thêm của Tĩnh lự-Vô sắc thuộc hữu lậu-vô lậu đều nói như trước.

Hỏi: Có chấp thọ là nghĩa gì?

Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp rơi vào tự Thể.

Hỏi: Không có chấp thọ là nghĩa gì?

Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp không phải là rơi vào tự Thể.

Nhưng nhiều nơi nói về có chấp thọ, nghĩa là trong này nói có chấp thọ là nghĩa gì? Đó là pháp rơi vào tự Thể. Trong kinh lại nói:

“Đối với uẩn khổ có chấp thọ, thì dẫn dắt sinh ra các khổ,

Đó là sinh khổ và lão khổ, cùng với bệnh khổ và tử khổ.”

Có kinh lại nói: “Không hề nghe dị sinh suốt đời tu sửa về Ngã có chấp thọ.”

Kinh khác lại nói: “Huống gì ở trong thân này tạm thời dừng lại mà có chấp thọ?”

Luận Phẩm Loại Túc nói: “Phần ít của chín Xứ gọi là có chấp thọ.”

Luận Thức Thân nói: “Uẩn có chấp thọ là sở duyên của Từ.” Hỏi: Nghĩa của các cách nói như vậy có gì khác nhau?

Đáp: Trong này nói năm Uẩn do thân bên trong thâu nhiếp, gọi là có chấp thọ. Kinh thứ nhất nói năm Uẩn thuộc về số hữu tình nối tiếp Chúng đồng phần, gọi là có chấp thọ. Kinh thứ hai nói năm Uẩn quan hệ với Thân kiến từ vô thỉ đến nay, gọi là có chấp thọ. Kinh thứ ba nói Sắc uẩn do thân bên trong thâu nhiếp, gọi là có chấp thọ. Luận Phẩm Loại Túc nói phần ít của chín Xứ trong một sát-na, gọi là có chấp thọ. Luận Thức Thân nói phần ít của năm Uẩn trong một sát-na, gọi là có chấp thọ.

Có người nói: Luận Phẩm Loại Túc và luận Thức Thân nói phần ít của chín Xứ thuộc về số hữu tình trong một sát-na, gọi là có chấp thọ.

Có người nói: Hai luận nói phần ít của chín Xứ do có căn thâu nhiếp trong một sát-na, gọi là có chấp thọ.

Có người nói: Hai luận nói phần ít của chín Xứ do dị thục thâu nhiếp trong một sát-na, gọi là có chấp thọ.

Đó gọi là sự sai biệt giữa các cách nói.

Hỏi: Vì sao Từ chỉ duyên với Sắc?

Đáp: Lúc bắt đầu tu thì duyên với Sắc, lúc thành tựu thì duyên với năm Uẩn.

Sư phương Tây nói: “Có chấp thọ có bốn loại:

  1. Thân có chấp thọ.
  2. Nối tiếp nhau có chấp thọ.
  3. Chúng đồng phần có chấp thọ.
  4. Thế tục thi thiết có chấp thọ.

Thân có chấp thọ, đó là kinh thứ nhất đã nói: Đối với uẩn khổ có chấp thọ. Nối tiếp nhau có chấp thọ, như nói Ngã có thân căn nối tiếp nhau chấp thọ. Chúng đồng phần có chấp thọ, như nói Ngã có thân căn Chúng đồng phần chấp thọ. Thế tục thi thiết có chấp thọ, như nói Ngã chấp thọ gánh nặng như vậy, sự nghiệp như vậy.”

Trong này nói năm Uẩn bên trong thân gọi là có chấp thọ, pháp này vốn không thâu nhiếp thì không có chấp thọ.

Hỏi: Như trước đã nói, có chấp thọ và không có chấp thọ, tướng ấy thế nào?

Đáp: Có người nói: Nếu cùng với máu thịt gân xương trú xen lẫn với nhau, thì gọi là có chấp thọ; cùng với điều này trái ngược nhau thì gọi là không có chấp thọ.

Có người nói: Vào lúc thân thể ấy bị cắt đứt rách toác, sinh ra đau đớn rời bỏ gánh nặng, gọi là có chấp thọ; cùng với điều này trái ngược nhau thì gọi là không có chấp thọ.

Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Nếu pháp đã sinhchưa diệt, thuộc về số hữu tình, thì có đối đãi chứ không phải là do nghe mà gọi là có chấp thọ. Đã sinh là giản lược vị lai. Chưa diệt là ngăn chặn quá khứ. Thuộc về số hữu tình, là ngăn chặn số phi hữu tình. Thì có đối đãi, là ngăn chặn Ý xứ-Pháp xứ. Không phải là do nghe, là ngăn chặn Thanh xứ. Cùng với điều này trái ngược nhau thì gọi là không có chấp thọ.”

Tôn giả Tả Thủ đưa ra cách nói như vậy: “Nếu pháp có phạm vi phương hướng, thuộc về số hữu tình-thân hệ thuộc, thì có đối đãi có thể dẫn dắt-có thể rời bỏ, gọi là có chấp thọ. Có phạm vi phương hướng, là ngăn chặn quá khứ-vị lai. Thuộc về số hữu tình, là ngăn chặn số phi hữu tình. Thân hệ thuộc, là ngăn chặn thân đã thoát ra, đó là tóc-lông… Thì có đối đãi, là ngăn chặn Ý xứ-Pháp xứ. có thể dẫn dắt-có thể rời bỏ, là ngăn chặn Thanh xứ. Cùng với điều này trái ngược nhau thì gọi là không có chấp thọ.”

Hỏi: Trong mười hai Xứ, mấy Xứ có chấp thọ, mấy Xứ không có chấp thọ?

Đáp: Nếu sinh ở cõi Dục thì phần ít của chín Xứ là có chấp thọ; toàn phần của ba Xứ và phần ít của chín Xứ là không có chấp thọ. Ba Xứ, đó là Thanh xứ-Ý xứ-Pháp xứ. Nếu sinh ở cõi Sắc thì phần ít của bảy Xứ là có chấp thọ; toàn phần của ba Xứ và phần ít của bảy Xứ là không có chấp thọ. Ba Xứ, nói như trước.

Hỏi: Ba mươi sáu loại các vật bất tịnh ở trong thân này, mấy loại có chấp thọ, mấy loại không có chấp thọ?

Đáp: Lông-tóc-răng-móng, căn là có chấp thọ, còn lại là không có chấp thọ. Da-mật-não-máu, sinh là có chấp thọ, mục nát thì không có chấp thọ. Xương-thịt-gân-mạch-tim-phổi-lách-thận-gan-ruột-dạ dàymô mỡ-tủy não-sinh tạng-thục tạng, đều có chấp thọ; máu mủ-đàm dãinước mắt-nước mũi-nước miếng-mồ hôi-nước tiểu-bụi bẩn, đều không có chấp thọ.

Hỏi: Thuận theo Thủ là nghĩa gì?

Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp hữu lậu.

Hỏi: Không thuận theo Thủ là nghĩa gì?

Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp vô lậu.

Hỏi: Vì sao pháp hữu lậu gọi là thuận theo Thủ?

Đáp: Có người nói: Pháp này từ Thủ mà sinh ra, có thể sinh ra Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Pháp này từ Thủ mà chuyển, có thể xoay chuyển Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Pháp này do Thủ mà dẫn dắt, có thể dẫn dắt Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Pháp này do Thủ mà nuôi lớn, có thể nuôi lớn Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Pháp này do Thủ mà tăng rộng, tăng rộng đối với Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Ở đây nói tăng rộng là hiển bày về nghĩa mọc lan ra.

Có người nói: Pháp này hệ thuộc đối với Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Như thuộc về Vua thì gọi là thuận theo Vua. Bởi vì bên trong không có Ngã, nếu có ai hỏi rằng ông thuộc về ai, thì trả lời rằng thuộc về Thủ.

Có người nói: Các Thủ ở trong pháp này, sắp sinh-đã sinh, sắp giữ-đã giữ, sắp trú-đã trú, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Các Thủ ở trong pháp này, sắp nuôi lớn-đã nuôi lớn, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Các Thủ ở trong pháp này, sắp tăng rộng-đã tăng rộng, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Các Thủ bám chặc vào pháp này, như vật thấm ướt dầu mỡ thì bụi bẩn cứ bám vào, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Các Thủ thích trú vào pháp này, như cá tôm ếch nhái thích ở trong nước, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Có người nói: Pháp này là nhà cửa-nơi dừng chân yên ổn của Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ.

Nghĩa là dựa vào pháp này, cho nên tất cả Ái-Mạn-Kiến-Nghi- Sân-Si, các triền cấu… đều sinh trưởng. Các pháp hữu lậu do cùng phần Thủ mà có được tên gọi thuận theo Thủ, chứ không phải là khác phần Thủ. Nghĩa là pháp của cõi Dục do Thủ của cõi Dục, pháp của cõi Sắc do Thủ của cõi Sắc, pháp của cõi Vô sắc do Thủ của cõi Vô sắc, pháp của địa Tĩnh lự thứ nhất do Thủ của địa Tĩnh lự thứ nhất, cho đến pháp của địa Phi tưởng phi phi tưởng do Thủ của địa Phi tưởng phi phi tưởng, bởi vì pháp hữu lậu thì cõi-địa không có xen tạp. Nếu dựa vào sự nối tiếp nhau thì có nghĩa của xen tạp, nghĩa là do thân mình giữ lấy(thủ) pháp của thân khác mà có được tên gọi thuận theo Thủ, do thân khác giữ lấy pháp của thân mình mà có được tên gọi thuận theo Thủ; nếu không như vậy thì pháp bên ngoài lẽ ra không phải là thuận theo Thủ, bởi vì bên ngoài không có Thủ.

Hỏi: Thuận theo Kiết là nghĩa gì?

Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp hữu lậu.

Hỏi: Không thuận theo Kiết là nghĩa gì?

Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp vô lậu. Giải thích rộng về nghĩa thuận theo Kiết-không thuận theo Kiết, như trước nói về thuận theo Thủ-không thuận theo Thủ.

Hỏi: Kiến xứ là nghĩa gì?

Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp hữu lậu.

Hỏi: Không phải Kiến xứ là nghĩa gì?

Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp vô lậu.

Nhưng có nhiều nơi nói đến thanh Kiến xứ, nghĩa là trong này nói: “Kiến xứ là gì? Đó là đi cùng pháp hữu lậu.”

Trong kinh Ca Nại Đà lại nói: “Các kiến vốn có, các kiến xứ vốn có, các kiến triền vốn có, các kiến đẳng khởi vốn có, các kiến tổn hại vốn có, Đức Thế Tôn biết rõ-thấy rõ tất cả.”

Trong này, Kiến là năm Kiến, Kiến xứ là sở duyên của Kiến, Kiến triền là Kiến hiện hành, Kiến đẳng khởi là nhân của Kiến, Kiến tổn hại là Kiến diệt, Đức Thế Tôn biết rõ-thấy rõ tất cả là đối trị của Kiến.

Có người đưa ra cách nói này: Kiến-Kiến xứ-Kiến triền là Khổ đế, Kiến đẳng khởi là Tập đế, Kiến tổn hại là Diệt đế, Đức Thế Tôn biết rõ-thấy rõ tất cả là Đạo đế.

Kinh A La Yết Đà Dụ lại nói: “Có sáu kiến xứ, đó là các Sắc vốn có, hoặc quá khứ-hoặc vị lai-hoặc hiện tại, nói rộng cho đến Tỳ kheo nên dùng Chánh tuệ để quán xét tất cả Sắc ấy không phải là ngã-ngã sở, đừng khởi lên ngã mạn. Các Thọ vốn có, cho đến nói rộng ra. Các Tưởng vốn có, cho đến nói rộng ra. Những người có thấy-nghe-hiểubiết, nếu đạt được-nếu mong cầu, thì ý tùy theo tầm-tứ, cho đến nói rộng ra. Những người có kiến này, có ngã-có hữu tình-có thế gian, luôn luôn an trú không có biến đổi, pháp đích thực an trú như vậy, cho đến nói rộng ra. Những người có kiến này, ngã thuận theo không có, ngã thuận theo không phải là có, ngã sẽ không có, ngã sẽ không phải là có. Tỳ kheo nên dùng Chánh tuệ để quán xét tất cả không phải là ngã-ngã sở, đừng khởi lên ngã mạn. Tỳ kheo nên đối với Kiến xứ-Thủ xứ… như vậy, tùy theo quán sát không có ngã-ngã sở. Nếu có thể như vậy thì đối với thế gian không hề có chấp thọ, cho đến nói rộng ra.”

Trong này, các Sắc-Thọ-Tưởng vốn có, tức là Sắc-Thọ-Tưởng uẩn. Những người có Kiến này, có Ngã-có Hữu tình, cho đến nói rộng ra; những người có Kiến này, Ngã thuận theo không có, cho đến nói rộng ra, đó là Hành uẩn. Những người có thấy-nghe-hiểu-biết…, đó là Thức uẩn.

Hỏi: Thấy-nghe-hiểu-biết nghĩa ấy đã đầy đủ, nếu đạt được-nếu mong cầu, thì ý tùy theo tầm tứ, lại hiển bày điều gì?

Đáp: Trước mở rộng-nay tóm lược, trước riêng biệt-nay tổng quát, trước tách ra-nay hợp lại, trước từ từ-nay mau lẹ, đó gọi là đã hiển bày về pháp phòng ngừa các lậu.

Kinh lại đưa ra cách nói này: “Đối với sáu Kiến xứ không Chánh tư duy, thì đối với thân bên trong thuận theo khởi lên một chấp, vì Đế-vì Trú cho nên có ngã, vì Đế-vì Trú cho nên ngã không có ngã, ngã thấy ngã, ngã thấy không có ngã, không có ngã thấy ngã. Hoặc là lúc này có ngã, có hữu tình, có mạng sống, có sinh ra, có nuôi dưỡng, có Bổ-đặcgià-la, có ý sinh khởi, có Ma-nạp-bà. Hoặc là không hề cho rằng hiện có, ở khắp mọi nơi đã làm-chưa làm các nghiệp thiện ác nhận lấy quả dị thục.”

Hỏi: Bốn nơi như vậy nói về thanh Kiến xứ có gì sai biệt?

Đáp: Có người nói: Trong này đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày về tất cả các pháp hữu lậu. Kinh thứ nhất đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày tổng quát về năm Kiến. Kinh thứ hai đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày về Kiến và pháp lìa Kiến. Kinh thứ ba đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày về Hữu thân kiến-Biên chấp kiến.

Có người nói: Trong này và hai kinh đầu đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày tổng quát về năm Thủ uẩn. Kinh thứ ba đã nói đến Kiến xứ, là chỉ hiển bày về phần ít của Hành uẩn.

Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp tương ưng-không tương ưng. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp tương ưng. Như tương ưng-không tương ưng, có sở y-không có sở y, có hành tướng-không có hành tướng, có sở duyên-không có sở duyên, có cảnh giác-không có cảnh giác, cũng như vậy.

Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp có sắc-không có sắc. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp không có sắc. Như có sắc-không có sắc, có thấy-không có thấy, có đối-không có đối, cũng như vậy.

Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp nhiễm-không nhiễm. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp nhiễm. Như nhiễm-không nhiễm, có tội-không có tội, có che phủ-không có che phủ, thiện-bất thiện, triền-không phải triền, cũng như vậy.

Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp do kiến-tu mà đoạn. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp do kiến mà đoạn. Như do kiến mà đoạn-do tu mà đoạn, không có quan hệ-có quan hệ, Nhẫn đối trị-Trí đối trị, cũng như vậy.

Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp thiện-bất thiện-vô ký. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp vô ký.

Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp có dị thục-không có dị thục. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp không có dị thục.

Hỏi: Các pháp hữu lậu, do Kiến nào mà nói là Kiến xứ?

Đáp: Có người nói: Do Hữu thân kiến-Biên chấp kiến cho nên nói là Kiến xứ, bởi vì hai loại này chỉ duyên với cảnh của địa mình.

Có người nói: Do bốn Kiến, đó là trong năm Kiến trừ ra Tà kiến, bởi vì bốn loại này duyên với hữu lậu.

Nói như vậy thì do năm Kiến cho nên mang lấy tên gọi Kiến xứ.

Hỏi: Nếu như vậy thì Diệt-Đạo nên gọi là Kiến xứ, bởi vì cảnh của Tà kiến?

Đáp: Kiến xứ có hai loại:

  1. Xứ thuộc Sở duyên.
  2. Xứ thuộc Tùy miên.

Có đủ hai nghĩa này mới gọi là Kiến xứ, Diệt-Đạo tuy là Xứ thuộc sở duyên của tà kiến, nhưng không phải là Xứ thuộc tùy miên, cho nên không gọi là Kiến xứ.

Có người nói: Kiến xứ có hai loại:

  1. Xứ thuộc Sở duyên.
  2. Xứ thuộc Tương ưng.

Có đủ hai loại này thì thiết lập tên gọi Kiến xứ, Diệt-Đạo tuy là Xứ thuộc sở duyên của Kiến, nhưng không phải là Xứ thuộc tương ưng, vì vậy không mang lấy tên gọi Kiến xứ.

Nếu pháp là bên trong thì pháp ấy do Xứ bên trong thâu nhiếp chăng? Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý muốn ấy mà soạn luận, nhưng không trái với pháp tướng thì không cần phải vặn hỏi.

Có người đưa ra cách nói này: Vì ngăn chặn tông chỉ của người

khác để hiển bày về nghĩa của mình, nghĩa là có tông phái khác nói là pháp trong- ngoài đều không phải là có thật. Nay ngăn chặn ý đó, trình bày về pháp trong-ngoài đều là có thật, cho nên soạn ra phần luận này.

Nhưng mà pháp trong-ngoài có ba loại sai biệt:

1. Nối tiếp nhau trong ngoài, nghĩa là thuộc về thân của mình thì gọi là bên trong, thuộc về thân khác và số phi hữu tình thì gọi là bên ngoài.

2. Xứ trong ngoài, nghĩa là sở y của tâm-tâm sở gọi là bên trong, sở duyên gọi là bên ngoài.

3. Tình phi tình trong ngoài, nghĩa là pháp thuộc số hữu tình gọi là bên trong, pháp thuộc số phi hữu tình gọi là bên ngoài. Trong này chỉ dựa vào sự nối tiếp nhau mà soạn luận.

Hỏi: Nếu pháp là bên trong thì pháp ấy do Xứ bên trong thâu nhiếp chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có pháp là bên trong mà không phải là do Xứ bên trong thâu nhiếp, như nói trú vào Thọ bên trong-Pháp bên trong, tuần tự quán xét về pháp. Pháp ấy là bên trong, bởi vì thuộc về thân của mình; không phải là do Xứ bên trong thâu nhiếp, bởi vì không phải là sở y của tâmtâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp năm cảnh như Sắc… của thân mình.

2. Có pháp do Xứ bên trong thâu nhiếp mà không phải là bên trong, như nói trú vào Thân bên ngoài-Tâm bên ngoài, tuần tự quán xét về tâm. Pháp ấy do Xứ bên trong thâu nhiếp, bởi vì là sở y của tâmtâm sở; không phải là bên trong, bởi vì không phải là thuộc về thân của mình. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp mắt-tai-mũi-lưỡi của thân khác.

3. Có pháp là bên trong cũng do Xứ bên trong thâu nhiếp, như nói trú vào Thân bên trong-Tâm bên trong, tuần tự quán xét về tâm. Pháp ấy là bên trong, bởi vì thuộc về thân của mình; cũng do Xứ bên trong thâu nhiếp, bởi vì là sở y của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp mắt-tai-mũi-lưỡi của thân mình.

4. Có pháp không phải là bên trong cũng không phải là do Xứ bên trong thâu nhiếp, như nói trú vào Thọ bên ngoài-Pháp bên ngoài, tuần tự quán xét về pháp. Pháp ấy không phải là bên trong, bởi vì không phải là thuộc về thân của mình; không phải là do Xứ bên trong thâu nhiếp, bởi vì không phải là sở y của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp năm cảnh như Sắc… của thân khác.

Hỏi: Nếu pháp là bên ngoài thì pháp ấy do Xứ bên ngoài thâu nhiếp chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

4. Có pháp là bên ngoài mà không phải là do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, như nói trú vào Thân bên ngoài-Tâm bên ngoài, tuần tự quán xét về tâm. Pháp ấy là bên ngoài, bởi vì thuộc về thân khác; không phải là do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, bởi vì không phải là chỉ có sở duyên của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp mắt-tai-mũi-lưỡi của thân khác.

1. Có pháp do Xứ bên ngoài thâu nhiếp mà không phải là bên ngoài, như nói trú vào Thọ bên trong-Pháp bên trong, tuần tự quán xét về pháp. Pháp ấy do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, bởi vì chỉ có sở duyên của tâm-tâm sở; không phải là bên ngoài, bởi vì không phải là thuộc về thân khác, và không phải là thuộc số hữu tình. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp năm cảnh như Sắc…của thân mình.

2. Có pháp là bên ngoài cũng do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, như nói trú vào Thọ bên ngoài-Pháp bên ngoài, tuần tự quán xét về pháp. Pháp ấy là bên ngoài, bởi vì thuộc về thân khác và không phải là thuộc số hữu tình; cũng do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, bởi vì chỉ là sở duyên của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp năm cảnh như Sắc… của thân khác.

3. Có pháp không phải là bên ngoài cũng không phải là do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, như nói trú vào Thân bên trong-Tâm bên trong, tuần tự quán xét về tâm. Pháp ấy không phải là bên ngoài, bởi vì không phải là thuộc về thân khác, và không phải là thuộc số hữu tình; không phải là do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, bởi vì không phải là chỉ có sở duyên của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp mắt-tai-mũi-lưỡi của thân mình.

********

Có hai Thọ, đó là Thân thọ-Tâm thọ. Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác, hiển bày về nghĩa của mình. Nghĩa là hoặc có người nói: Thọ chính là phần vị sai biệt của tâm. Lại có người nói: Chỉ có Khổ thọ, không có Lạc thọ-Xả thọ nào khác. Vì ngăn chặn ý đó, hiển bày về Thọ có ba loại sai biệt chứ không phải là tâm, cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Vì sao trong này không hỏi đến một Thọ?

Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói rộng ra.

Có người nói: Trong này hiển bày về Thọ sai biệt lần lượt chuyển đổi thâu nhiếp lẫn nhau, không phải là hiển bày về Thể của Thọ, cho nên không hỏi đến một Thọ.

Hỏi: Có hai Thọ, đó là Thân thọ và Tâm thọ; có ba Thọ, đó là Lạc thọ-Khổ thọ và không khổ không lạc thọ; là hai thâu nhiếp ba, hay là ba thâu nhiếp hai?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Thân thọ thâu nhiếp phần ít của ba Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thân thọ; Tâm thọ cũng như vậy, cho nên nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Hai Thọ nói như trước; có bốn Thọ, đó là Thọ hệ thuộc ba cõi và Thọ không hệ thuộc, là hai thâu nhiếp bốn, hay là bốn thâu nhiếp hai?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Thân thọ thâu nhiếp phần ít của hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thân thọ. Phần ít của hai Thọ, là Thọ hệ thuộc cõi Dục và Thọ hệ thuộc cõi Sắc. Tâm thọ thâu nhiếp toàn phần của hai Thọ và phần ít của hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về Tâm thọ. Toàn phần của hai Thọ, là Thọ hệ thuộc cõi Vô sắc và Thọ không hệ thuộc; phần ít của hai Thọ, là Thọ hệ thuộc cõi Dục và Thọ hệ thuộc cõi Sắc. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Hai Thọ nói như trước; có năm Thọ, đó là Lạc căn-Khổ cănHỷ căn-Ưu căn và Xả căn, là hai thâu nhiếp năm, hay là năm thâu nhiếp hai?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Thân thọ thâu nhiếp toàn phần của một Thọ và phần ít của hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thân thọ. Toàn phần của một Thọ, đó là Khổ căn; phần ít của hai Thọ, đó là Lạc căn và Xả căn. Tâm thọ thâu nhiếp toàn phần của hai Thọ và phần ít của hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về Tâm thọ. Toàn phần của hai Thọ, đó là Hỷ căn và Ưu căn; phần ít của hai Thọ, đó là Lạc căn và Xả căn. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Hai Thọ nói như trước; có sáu Thọ, đó là do Nhãn xúc mà sinh ra Thọ, do Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân-Ý xúc mà sinh ra Thọ, là hai thâu nhiếp sáu, hay là sáu thâu nhiếp hai?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Thân thọ thâu nhiếp toàn phần của năm Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thân thọ. Toàn phần của năm Thọ, đó là do Nhãn xúc mà sinh ra Thọ, cho đến do Thân xúc mà sinh ra Thọ. Tâm thọ thâu nhiếp toàn phần của một Thọ, tức là Thọ này thuộc về Tâm thọ. Toàn phần của một Thọ, đó là do Ý xúc mà sinh ra Thọ. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Hai Thọ nói như trước; có mười tám Thọ, đó là sáu ý cận hành thuộc về Hỷ, sáu ý cận hành thuộc về Ưu, sáu ý cận hành thuộc về Xả, là hai thâu nhiếp mười tám, hay là mười tám thâu nhiếp hai?

Đáp: Hai thâu nhiếp mười tám, không phải là mười tám thâu nhiếp hai. Không thâu nhiếp những gì? Đó là Lạc căn-Khổ căn hữu lậu, Xả căn tương ưng với năm Thức, và Thọ vô lậu.

Hỏi: Vì sao Lạc căn hữu lậu không phải là cận hành của ý?

Đáp: Lạc căn của cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất chỉ có ở năm Thức, và ý cận hành của ba Thức chỉ có ở Ý thức, cho nên Lạc căn hữu lậu không phải là cận hành của ý.

Hỏi: Lạc căn hữu lậu của Tĩnh lự thứ ba chỉ có ở Ý thức, vì sao không nói đến?

Đáp: Bắt đầu không phải là phạm vi, cho nên sau cũng không thiết lập.

Có người nói: Bởi vì căn ấy không phải là toàn phần, nghĩa là Lạc căn hữu lậu không có ở địa toàn phần, chỉ ở Ý thức cho nên không thiết lập.

Có người nói: Bởi vì Lạc thọ ấy tuy tương ưng với Ý thức mà không phải là nhanh nhạy, cận hành của ý thì cần phải phân biệt nhanh nhạy để chuyển đổi; lại do đối đãi với Khổ chứ không phải là cận hành, cho nên căn này cũng không thiết lập.

Hỏi: Vì sao Khổ căn không phải là cận hành của ý?

Đáp: Khổ căn chỉ tương ưng với năm Thức, ý cận hành thì tương ưng với Ý thức.

Có người nói: Khổ căn không có năng lực phân biệt, có năng lực phân biệt thì thiết lập ý cận hành.

Có người nói: Khổ căn chọn lấy cảnh của tự tướng, ý cận hành thì chọn lấy tự tướng và cọng tướng. Lại nữa, Khổ căn chỉ duyên với hiện tại, ý cận hành thì duyên với tất cả ba đời. Lại nữa, Khổ căn luôn luôn chọn lấy cảnh, ý cận hành thì thường xuyên hướng đến mà chọn lấy. Lại nữa, Khổ căn không có năng lực suy đoán, có năng lực suy đoán thì thiết lập ý cận hành.

Hỏi: Vì sao Xả căn tương ưng với năm Thức mà không phải là ý cận hành?

Đáp: Nói như Khổ căn.

Hỏi: Vì sao Thọ vô lậu không phải là ý cận hành?

Đáp: Bởi vì Thọ vô lậu không có tướng của ý cận hành. Vả lại, nếu Thọ có thể tăng thêm các quả báo, thâu nhiếp tiếp nhận các quả báo, duy trì vững chắc các quả báo, thì thiết lập ý cận hành; Thọ vô lậu làm sút giảm-tổn hại-phá hoại các quả báo, cho nên không thiết lập ý cận hành. Lại nữa, Thọ thậm chí là quan hệ của Thân kiến, thậm chí rơi vào Khổ-Tập đế, thì thiết lập ý cận hành; Thọ vô lậu thậm chí không phải là quan hệ của Thân kiến, thậm chí không rơi vào Khổ-Tập đế, cho nên không thiết lập ý cận hành.

Hỏi: Hai Thọ nói như trước; có ba mươi sáu Thọ, đó là sáu đam mê dựa vào Hỷ, sáu rời bỏ dựa vào Hỷ, sáu đam mê dựa vào Ưu, sáu rời bỏ dựa vào Ưu, sáu đam mê dựa vào Xả, sáu rời bỏ dựa vào Xả, là hai thâu nhiếp ba mươi sáu, hay là ba mươi sáu thâu nhiếp hai?

Đáp: Hai thâu nhiếp ba mươi sáu, không phải là ba mươi sáu thâu nhiếp hai. Đó là nói như trước, tức là Lạc căn-Khổ căn hữu lậu, Xả căn tương ưng với năm Thức và Thọ vô lậu, hỏi-đáp phân biệt nên biết như trước.

Hỏi: Hai Thọ nói như trước; có một trăm lẻ tám Thọ, đó là dựa vào ba đời đều có ba mươi sáu Thọ, là hai thâu nhiếp một trăm lẻ tám, hay là một trăm lẻ tám thâu nhiếp hai?

Đáp: Hai thâu nhiếp một trăm lẻ tám, không phải là một trăm lẻ tám thâu nhiếp hai. Không thâu nhiếp những gì? Đó là nói như trước, tức là Lạc căn hữu lậu cho đến Thọ vô lậu, hỏi-đáp như trước.

Hỏi: Ba Thọ và bốn Thọ, là ba thâu nhiếp bốn, hay là bốn thâu nhiếp ba?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Lạc thọ thâu nhiếp phần ít của ba Thọ, tức là Thọ này thuộc về Lạc thọ. Phần ít của ba Thọ, là Thọ hệ thuộc cõi Dục, Thọ hệ thuộc cõi Sắc và Thọ không hệ thuộc. Khổ thọ thâu nhiếp phần ít của một Thọ, tức là Thọ này thuộc về Khổ thọ. Phần ít của một Thọ, đó là Thọ hệ thuộc cõi Dục. Không khổ không lạc thọ thâu nhiếp toàn phần của một Thọ và phần ít của ba Thọ, tức là Thọ này thuộc về Không khổ không lạc thọ. Toàn phần của một Thọ, đó là Thọ hệ thuộc cõi Vô sắc; phần ít của ba Thọ, đó là Thọ hệ thuộc cõi Dục, Thọ hệ thuộc cõi Sắc và Thọ không hệ thuộc. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Ba Thọ và năm Thọ, là ba thâu nhiếp năm, hay là năm thâu nhiếp ba?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Lạc thọ thâu nhiếp toàn phần của hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về Lạc thọ. Toàn phần của hai Thọ, đó là Lạc căn và Hỷ căn. Khổ thọ thâu nhiếp toàn phần của hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về Khổ thọ. Toàn phần của hai Thọ, đó là Khổ căn và Ưu căn. Không khổ không lạc thọ thâu nhiếp toàn phần của một Thọ, tức là Thọ này thuộc về Không khổ không lạc thọ. Toàn phần của một Thọ, đó là Xả căn. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Ba Thọ và sáu Thọ, là ba thâu nhiếp sáu, hay là sáu thâu nhiếp ba?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Lạc thọ thâu nhiếp phần ít của sáu Thọ, tức là Thọ này thuộc về Lạc thọ. Khổ thọ thâu nhiếp phần ít của sáu Thọ, tức là Thọ này thuộc về Khổ thọ. Không khổ không lạc thọ thâu nhiếp phần ít của sáu Thọ, tức là Thọ này thuộc về Không khổ không lạc thọ. Các phần ít của sáu Thọ, đó là do Nhãn xúc mà sinh ra Thọ, cho đến do Ý xúc mà sinh ra thọ. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Ba Thọ và mười tám Thọ, là ba thâu nhiếp mười tám, hay là mười tám thâu nhiếp ba?

Đáp: Ba thâu nhiếp mười tám, không phải là mười tám thâu nhiếp ba. Không thâu nhiếp những gì? Đó là Lạc căn-Khổ căn hữu lậu, Xả căn tương ưng với năm Thức và Thọ vô lậu. Ba Thọ và ba mươi sáu Thọ, ba Thọ và một trăm lẻ tám Thọ, nói cũng như vậy, bởi vì đều đối với ba Thọ không thâu nhiếp Lạc căn hữu lậu cho đến Thọ vô lậu, hỏiđáp như trên.

Hỏi: Bốn Thọ và năm Thọ, là bốn thâu nhiếp năm, hay là năm thâu nhiếp bốn?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Thọ hệ thuộc cõi Dục thâu nhiếp toàn phần của hai Thọ và phần ít của ba Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thọ hệ thuộc cõi Dục. Toàn phần của hai Thọ, đó là Khổ căn và Ưu căn; phần ít của ba Thọ, đó là Lạc căn-Hỷ căn và Xả căn. Thọ hệ thuộc cõi Sắc thâu nhiếp phần ít của ba Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thọ hệ thuộc cõi Sắc. Phần ít của ba Thọ, đó là Lạc cănHỷ căn và Xả căn. Thọ hệ thuộc cõi Vô sắc thâu nhiếp phần ít của một Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thọ hệ thuộc cõi Vô sắc. Phần ít của một Thọ, đó là Xả căn. Thọ không hệ thuộc thâu nhiếp phần ít của ba Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thọ không hệ thuộc. Phần ít của ba Thọ, đó là Lạc căn-Hỷ căn và Xả căn. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Bốn Thọ và sáu Thọ, là bốn thâu nhiếp sáu, hay là sáu thâu nhiếp bốn?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Thọ hệ thuộc cõi Dục thâu nhiếp toàn phần của hai Thọ và phần ít của bốn Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thọ hệ thuộc cõi Dục. Toàn phần của hai Thọ, đó là do Tỷ xúc mà sinh ra Thọ và do Thiệt xúc mà sinh ra Thọ; phần ít của bốn Thọ, đó là do Nhãn xúc mà sinh ra Thọ, do Nhĩ-Thân-Ý xúc mà sinh ra Thọ. Thọ hệ thuộc cõi Sắc thâu nhiếp phần ít của bốn Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thọ hệ thuộc cõi Sắc. Phần ít của bốn Thọ, đó là do Nhãn xúc mà sinh ra thọ, do Nhĩ-Thân-Ý xúc mà sinh ra Thọ. Thọ hệ thuộc cõi Vô sắc thâu nhiếp phần ít của một Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thọ hệ thuộc cõi Vô sắc. Thọ không hệ thuộc thâu nhiếp phần ít của một Thọ, tức là Thọ này thuộc về Thọ không hệ thuộc. Các phần ít của một Thọ, đó là do Ý xúc mà sinh ra Thọ. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Bốn Thọ và mười tám Thọ, là bốn thâu nhiếp mười tám, hay là mười tám thâu nhiếp bốn?

Đáp: Bốn thâu nhiếp mười tám, không phải là mười tám thâu nhiếp bốn. Không thâu nhiếp những gì? Đó là Lạc căn-Khổ căn hữu lậu, Xả căn tương ưng với năm Thức, và Thọ vô lậu. Bốn Thọ và ba mươi sáu Thọ, bốn Thọ và một trăm lẻ tám Thọ, nói cũng như vậy, hỏiđáp như trên.

Hỏi: Năm Thọ và sáu Thọ, là năm thâu nhiếp sáu, hay là sáu thâu nhiếp năm?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là Lạc căn-Xả căn thâu nhiếp phần ít của sáu Thọ, tức là Thọ này thuộc về Lạc cănXả căn. Phần ít của sáu Thọ, đó là do Nhãn xúc mà sinh ra Thọ, cho đến do Ý xúc mà sinh ra Thọ. Khổ căn thâu nhiếp phần ít của năm Thọ, tức là Thọ này thuộc về Khổ căn. Phần ít của năm Thọ, đó là do Nhãn xúc mà sinh ra Thọ, cho đến do Thân xúc mà sinh ra Thọ. Ưu căn-Hỷ căn thâu nhiếp phần ít của một Thọ, tức là Thọ này thuộc về Ưu căn- Hỷ căn. Phần ít của một Thọ, đó là do Ý xúc mà sinh ra Thọ. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Năm Thọ và mười tám Thọ, năm Thọ và ba mươi sáu Thọ, năm Thọ và một trăm lẻ tám Thọ, đều nói như bốn Thọ và mười tám Thọ… trước đây. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Sáu Thọ và mười tám Thọ, sáu Thọ và ba mươi sáu Thọ, sáu Thọ và một trăm lẻ tám Thọ, nên biết cũng như vậy.

Hỏi: Mười tám Thọ và ba mươi sáu Thọ, là mười tám thâu nhiếp ba mươi sáu, hay là ba mươi sáu thâu nhiếp mười tám?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là sáu ý cận hành thuộc về Hỷ thâu nhiếp toàn phần của mười hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về sáu ý cận hành của Hỷ. Toàn phần của mười hai Thọ, đó là sáu đam mê dựa vào Hỷ, sáu rời bỏ dựa vào Hỷ. Sáu ý cận hành thuộc về Ưu thâu nhiếp toàn phần của mười hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về sáu ý cận hành của Ưu. Toàn phần của mười hai Thọ, đó là sáu đam mê dựa vào Ưu, sáu rời bỏ dựa vào Ưu. Sáu ý cận hành thuộc về Xả thâu nhiếp toàn phần của mười hai Thọ, tức là Thọ này thuộc về sáu ý cận hành của Xả. Toàn phần của mười hai Thọ, đó là sáu đam mê dựa vào Xả, sáu rời bỏ dựa vào Xả. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Mười tám Thọ và một trăm lẻ tám Thọ, là mười tám thâu nhiếp một trăm lẻ tám, hay là một trăm lẻ tám thâu nhiếp mười tám?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là sáu ý cận hành thuộc về Hỷ thâu nhiếp toàn phần của ba mươi sáu Thọ, tức là Thọ này thuộc về sáu ý cận hành của Hỷ. Toàn phần của ba mươi sáu Thọ, đó là sáu đam mê dựa vào Hỷ, sáu rời bỏ dựa vào Hỷ, loại này đều có ba đời. Sáu ý cận hành thuộc về Ưu thâu nhiếp toàn phần của ba mươi sáu Thọ, tức là Thọ này thuộc về sáu ý cận hành của Ưu. Toàn phần của ba mươi sáu Thọ, đó là sáu đam mê dựa vào Ưu, sáu rời bỏ dựa vào Ưu, loại này đều có ba đời. Sáu ý cận hành thuộc về Xả thâu nhiếp toàn phần của ba mươi sáu Thọ, tức là Thọ này thuộc về sáu ý cận hành của Xả. Toàn phần của ba mươi sáu Thọ, đó là sáu đam mê dựa vào Xả, sáu rời bỏ dựa vào Xả, loại này đều có ba đời. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Ba mươi sáu Thọ và một trăm lẻ tám Thọ, là ba mươi sáu thâu nhiếp một trăm lẻ tám, hay là một trăm lẻ tám thâu nhiếp ba mươi sáu?

Đáp: Thâu nhiếp lẫn nhau tùy theo quan hệ. Nghĩa là ba mươi sáu Thọ đều thâu nhiếp toàn phần của ba Thọ, tức là Thọ này thuộc về ba mươi sáu Thọ. Toàn phần của ba Thọ, tức là ba mươi sáu Thọ đều có ba đời riêng biệt. Vì vậy nói là tùy theo quan hệ.

Hỏi: Mười tám ý cận hành kiến lập như thế nào, là vì tương ưng, là vì tự tánh, hay là vì sở duyên? Giả sử như vậy thì có gì sai? Nếu vì tương ưng thì chỉ có một, đó là cận hành tương ưng với Ý thức. Nếu vì tự tánh thì chỉ có ba, đó là cận hành thuộc Hỷ, cận hành thuộc Ưu, cận hành thuộc Xả. Nếu vì sở duyên thì chỉ có sáu, đó là cận hành thuộc Sắc cho đến cận hành thuộc Pháp. Vì sao lại nói là mười tám?

Đáp: Tổng quát bởi vì ba duyên cho nên thiết lập mười tám, nghĩa là một cận hành tương ưng với Ý thức, có tự tánh của ba loại là Hỷ-Ưu và Xả, đều duyên với sáu loại cảnh như Sắc… mà khởi lên, cho nên có mười tám.

Đã nói về tự tánh, nay sẽ nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì nhân duyên gì mà gọi là ý cận hành?

Đáp: Mười tám Thọ này dùng ý làm duyên gần để hiện hành giữa cảnh giới, cho nên goi là ý cận hành. Lại nữa, mười tám Thọ này làm duyên gần khiến cho ý đối với cảnh thường xuyên hiện hành, cho nên gọi là ý cận hành. Lại nữa, dựa vào ý cho nên hiện hành ở cảnh gần, gọi là ý cận hành. Nhanh nhạy đối với cảnh, thích thường xuyên phân biệt, cho nên gọi là hành. Như người nữ nhanh nhạy luôn luôn đối với chồng mình, bộc lộ những thái độ khác nhau, có lúc chọn lấy tướng vui, có lúc chọn lấy tướng buồn, có lúc chọn lấy tướng bình thường. Như vậy, Thọ nhanh nhạy luôn luôn đối với sáu cảnh, khởi lên hành phân biệt, hoặc là hành thuận theo tướng Hỷ, hoặc là hành thuận theo tướng Ưu, hoặc là hành thuận theo tướng Xả. Bởi vì nhân duyên này cho nên gọi là ý cận hành.

Hỏi: Mười tám ý cận hành này, là chỉ thuộc về Ý địa, hay là cũng thuộc về năm Thức?

Đáp: Chỉ thuộc về Ý địa chứ không phải là năm Thức.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao trong kinh nói: “Mắt thấy sắc rồi, đối với sắc thuận theo Hỷ khởi lên cận hành của Hỷ, đối với sắc thuận theo Ưu khởi lên cận hành của Ưu, đối với sắc thuận theo Xả khởi lên cận hành của Xả, nói rộng ra cho đến ý biết pháp rồi, đối với pháp thuận theo Hỷ khởi lên cận hành của Hỷ, đối với pháp thuận theo Ưu khởi lên cận hành của Ưu, đối với pháp thuận theo Xả khởi lên cận hành của Xả”?

Đáp: Bởi vì năm Thức thân đã dẫn dắt phát khởi mà làm thành con đường, cho nên đưa ra cách nói như vậy, nhưng ý cận hành chỉ thuộc về Ý địa. Như quán Bất tịnh cũng chỉ là Ý địa, nhưng trong kinh nói “Mắt thấy sắc rồi, thuận theo quán bất tịnh an trú đầy đủ”, cũng bởi vì nhãn Thức đã dẫn dắt phát khởi mà làm thành con đường, cho nên đưa ra cách nói như vậy. Lại trong kinh nói: “Mắt thấy sắc rồi…”Vì vậy biết rằng ý cận hành không thuộc về năm Thức.

Hỏi: Cũng nói ý biết pháp rồi, lẽ nào cũng không thuộc về Ý thức hay sao?

Đáp: Dựa vào thù thắng mà nói cho nên không có lỗi, nghĩa là ban đầu Hỷ… tuy cũng là cận hành, nhưng không phải là rõ ràng nhanh nhạy, về sau chú trọng vào cảnh phân biệt nhanh nhạy, mới gọi là cận hành, vì vậy cho nên nói là ý biết pháp rồi. Vả lại, trong năm Thức không có nghĩa của cận hành, như trước đã nói.

Hỏi: Thời gian trước và thời gian sau vốn có phân biệt cũng là ý cận hành, vì sao trong kinh không nói?

Đáp: Là ý cận hành, nhưng tùy theo rõ ràng cho nên chỉ nói về hiện tại, dựa vào chủng loại ấy mà hiển bày quá khứ-vị lai cũng như vậy.

Hỏi: Có những lúc không phải là thấy sắc rồi mà phân biệt về sắc, cho đến không phải là xúc tiếp xúc rồi mà phân biệt về xúc, từ đây mà sinh ra Hỷ… là ý cận hành chăng?

Đáp: Là ý cận hành. Nhưng trong kinh dựa vào nghĩa rõ ràng, nói là thấy sắc rồi, cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Có những lúc mắt thấy sắc rồi, khởi lên phân biệt về Thanh…, cho đến ý biết pháp rồi, khởi lên phân biệt về Sắc…, từ đây mà sinh ra Hỷ… là ý cận hành chăng?

Đáp: Là ý cận hành. Nhưng trong kinh dựa vào nghĩa rõ ràng, nói là thấy sắc rồi, cho đến nói rộng ra. Nếu đưa ra cách nói này thì giác và sở giác, căn và nghĩa của căn, hành tướng và sở duyên đều được rõ ràng. Nếu không như vậy thì không phân biệt rõ ràng.

Hỏi: Mười tám ý cận hành này, mấy loại là duyên xen tạp, mấy loại là duyên không xen tạp?

Đáp: Mười lăm loại là duyên không xen tạp, đó là ý cận hành của Sắc có ba loại, cho đến ý cận hành của Xúc có ba loại, còn lại là duyên xen tạp. Duyên không xen tạp, đó là ý cận hành của Pháp có ba loại, duyên với sáu Xứ bên trong và Pháp xứ bên ngoài; nếu chung-nếu riêng thì gọi là duyên không xen tạp; nếu duyên với bảy Xứ này thì hoặc là chung-hoặc là riêng, và trong năm Xứ bên ngoài hoặc một-hoặc hai, hoặc cho đến năm thì gọi là duyên xen tạp. Ở trong năm Xứ bên ngoài, nếu hợp lại duyên với hai, hoặc cho đến năm thì cũng gọi là duyên xen tạp, bởi vì ý cận hành của Pháp lấy pháp làm tên gọi chung, dùng duyên kết hợp cho nên không phải là mười lăm loại trước.

Hỏi: Có thể có Sắc… quyết định thuận theo Hỷ, cho đến quyết định thuận theo Xả chăng?

Đáp: Dựa vào sở duyên cho nên không có, dựa vào nối tiếp nhau cho nên có. Nghĩa là có Sắc… có lúc vừa ý, có lúc không vừa ý, có lúc vừa ý ở nơi kia, có lúc vừa ý ở nơi này, có lúc ở những nơi khác không phải là vừa ý-không phải là không vừa ý.

Có người nói: Sắc… đối với phẩm thân thiết thì thuận theo Hỷ, đối với phẩm oán thù thì thuận theo Ưu, đối với phẩm bình thường thì thuận theo Xả.

Hỏi: Mười tám ý cận hành này, mấy loại nối tiếp sinh, mấy loại mạng chung?

Đáp: Sáu loại, đó là sáu ý cận hành thuộc về Xả. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì các ý cận hành thuộc Hỷ-Ưu do tác ý thù thắng mà chuyển, mạng chung-nối tiếp sinh thì không có tác ý thù thắng.

Hỏi: Trong phần vị Yết-la-lam…, đều có mấy ý cận hành?

Đáp: Đều có thể có mười tám ý cận hành.

Hỏi:Mấy ý cận hành có thể lìa nhiễm?

Đáp: Một, đó là duyên xen tạp. Ý cận hành của Xả thuộc về Pháp, có thể làm đạo vô gián, nếu như đạo giải thoát thì cùng có duyên xen tạp. Ý cận hành của Hỷ thuộc về Pháp, gia hạnh và thắng tiến cũng gồm chung những đạo khác.

Hỏi: Mười tám ý cận hành này, cõi nào-địa nào có mấy loại?

Đáp: Cõi Dục có đủ tất cả. Trong cõi Sắc thì hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai loại, trừ ra sáu Ưu; Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có sáu loại, lại trừ ra sáu Hỷ. Trong cõi Vô sắc thì Cận phần của Không vô biên xứ, nếu chấp nhận có duyên riêng với địa dưới thì có bốn ý cận phần thuộc về Xả, đó là Sắc-Thanh-Xúc-Pháp; nếu chỉ chấp nhận duyên chung với địa dưới thì chỉ có một ý cận hành của Xả thuộc về Pháp. Nói như vậy thì nên nói là có bốn. Bốn Vô sắc Căn bản và ba Cận phần trên, tất cả chỉ có một ý cận hành của Xả thuộc về Pháp.

Hỏi: Mấy ý cận hành duyên với pháp của cõi nào?

Đáp: Hệ thuộc cõi Dục, trong mười tám loại có sáu loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Dục, đó là duyên với cận hành Hỷ-Ưu-Xả thuộc về Hương-Vị; chín loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Dục-Sắc, đó là duyên với cận hành Hỷ-Ưu-Xả thuộc về Sắc-Thanh-Xúc; ba loại cùng duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc, đó là duyên với cận hành HỷƯu-Xả thuộc về Pháp.

Trong hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai loại, bốn loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Dục, đó là duyên với cận hành Hỷ-Xả thuộc về HươngVị; sáu loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Dục-Sắc, đó là duyên với cận hành Hỷ-Xả thuộc về Sắc-Thanh-Xúc; hai loại cùng duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc, đó là duyên với cận hành Hỷ-Xả thuộc về Pháp. Trong Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có sáu loại, hai loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Dục, đó là duyên với cận hành Xả thuộc về Hương-Vị; ba loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Dục-Sắc, đó là duyên với cận hành Xả thuộc về Sắc-Thanh-Xúc; một loại cùng duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc, đó là duyên với cận hành Xả thuộc về Pháp.

Cận phần của Không vô biên xứ, nếu chấp nhận có bốn ý cận hành, thì ba loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Sắc, đó là duyên với ý cận hành của Xả thuộc về Sắc-Thanh-Xúc; một loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc và không hệ thuộc, đó là duyên với ý cận hành của Xả thuộc về Pháp. Nếu chấp nhận chỉ có một ý cận hành, thì đó là ý cận hành của Xả thuộc về Pháp, một loại ấy cùng duyên với hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc và không hệ thuộc. Bốn Vô sắc Căn bản và ba Cận phần trên, tất cả đều có một ý cận hành của Xả thuộc về Pháp, cũng cùng duyên với hệ thuộc cõi Vô sắc và không hệ thuộc.

Hỏi: Các ý cận hành này, ai thành tựu mấy loại?

Đáp: Sinh ở cõi Dục, nếu chưa đạt được tâm thiện của cõi Sắc, thì lúc ấy thành tựu tất cả ý cận hành của cõi Dục, hai Tĩnh lự đầu đều có tám loại, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có bốn, cõi Vô sắc có một.

Nếu đạt được tâm thiện của cõi Sắc, chưa lìa nhiễm của cõi Dục, thì lúc ấy thành tựu tất cả ý cận hành của cõi Dục, Tĩnh lự thứ nhất có mười, Tĩnh lự thứ hai có tám, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có bốn, cõi Vô sắc có một.

Nếu đã lìa nhiễm của cõi Dục, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ hai, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất đều có mười hai, Tĩnh lự thứ hai có tám, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có bốn, cõi Vô sắc có một.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ hai, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất đều có mười hai, Tĩnh lự thứ hai có mười, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có bốn, cõi Vô sắc có một.

Nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có bốn, cõi Vô sắc có một.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai, Tĩnh lự thứ ba có sáu, Tĩnh lự thứ tư có bốn, cõi Vô sắc có một.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư, chưa đạt được tâm thiện của Không vô biên xứ, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có sáu, cõi Vô sắc có một.

Nếu đạt được tâm thiện của Không vô biên xứ. Những người nói Cận phần của địa ấy có bốn ý cận hành, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có sáu, Không vô biên xứ có bốn, ba Vô sắc trên đều có một. Những người nói Cận phần của địa ấy chỉ có một ý cận hành, thì lúc ấy thành tựu bốn, Vô sắc đều có một, còn lại như trước nói.

Sinh ở Tĩnh lự thứ nhất, nếu chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ hai, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ nhất có mười hai, Tĩnh lự thứ hai có tám, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có bốn, cõi Vô sắc có một. Thành tựu cõi Dục có một, đó là ý cận hành của Xả thuộc về Pháp, tức là đi cùng với tâm Thông quả. Bởi vì duyên chung với Sắc… làm cảnh mà khởi lên.

Có người nói: Lúc ấy thành tựu ba, đó là ý cận hành của Xả thuộc về Sắc-Thanh-Pháp, tức là đi cùng với tâm Thông quả. Tâm này nếu duyên với Thân biểu đã khởi lên, thì có duyên với ý cận hành của Xả thuộc về Sắc. Tâm này nếu duyên với Ngữ biểu đã khởi lên, thì có duyên với ý cận hành của Xả thuộc về Thanh. Tâm này nếu duyên với sự việc đã biến hóa, bởi vì duyên chung, thì có duyên với ý cận hành của Xả thuộc về Pháp.

Có người nói: Lúc ấy thành tựu có sáu, đó là sáu ý cận hành của Xả, tức là đi cùng với tâm Thông quả, bởi vì tâm này có thể có duyên chung-riêng.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ hai, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ hai có mười, còn lại như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ hai có mười hai, còn lại như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ ba có sáu, còn lại như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư, chưa đạt được tâm thiện của Không vô biên xứ, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ tư có sáu, còn lại như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Không vô biên xứ. Có người nói: Lúc ấy thành tựu Không vô biên xứ có bốn, ba Vô sắc trên đều có một. Có người nói: Lúc ấy thành tựu bốn, Vô sắc đều có một, còn lại như trước nói.

Sinh ở Tĩnh lự thứ hai, nếu chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ hai có mười hai, Tĩnh lự thứ bathứ tư đều có bốn, cõi Vô sắc có một. Cõi Dục như trước nói. Thành tựu Tĩnh lự thứ nhất có một, đó là ý cận hành của Xả thuộc về Pháp, bởi vì duyên chung.

Có người nói: Thành tựu ba, đó là ý cận hành của Xả thuộc về Sắc-Thanh-Pháp. Nếu duyên với Thân biểu đã khởi lên, thì có duyên với ý cận hành của Xả thuộc về Sắc. Nếu duyên với Ngữ biểu đã khởi lên, thì có duyên với ý cận hành của Xả thuộc về Thanh. Nếu duyên với sự việc đã biến hóa, bởi vì duyên chung, thì có duyên với ý cận hành của Xả thuộc về Pháp.

Có người nói: Lúc ấy thành tựu bốn, đó là ý cận hành của Xả thuộc về Sắc-Thanh-Xúc-Pháp. Bởi vì sinh ở Tĩnh lự thứ hai, lúc khởi lên ba Thức thân của Tĩnh lự thứ nhất, có thể có quyến thuộc của địa ấy, duyên riêng với Sắc-Thanh-Xúc, Ý thức vô phú vô ký của địa Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt, hoặc là bởi vì tâm Thông quả duyên với chung-riêng.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, chưa đạt được tâm

thiện của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ ba có sáu, còn lại như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư, chưa đạt được tâm thiện của Không vô biên xứ, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ tư có sáu, còn lại như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Không vô biên xứ. Có người nói: Lúc ấy thành tựu Không vô biên xứ có bốn, ba Vô sắc trên đều có một. Có người nói: Lúc ấy thành tựu bốn, Vô sắc đều có một, còn lại như trước nói.

Sinh ở Tĩnh lự thứ ba, nếu chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ ba có sáu, Tĩnh lự thứ tư có bốn, cõi Vô sắc có một. Cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất như trước nói. Thành tựu Tĩnh lự thứ hai có một, đó là ý cận hành của Xả thuộc về Pháp, tức là đi cùng với tâm Thông quả, bởi vì duyên chung với Sắc… làm cảnh mà khởi lên.

Có người nói: Lúc ấy thành tựu ba, đó là cận hành của Xả thuộc về Sắc-Xúc-Pháp, tức là đi cùng với tâm Thông quả, bởi vì tâm này có thể có duyên chung-riêng.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư…, thì nói như trước.

Sinh ở Tĩnh lự thứ tư, thành tựu nhiều ít nên dựa theo trước nói.

Sinh ở cõi Vô sắc không thành tựu pháp của địa dưới, thành tựu pháp của địa trên địa mình cũng nên dựa theo trước nói rộng ra.

Hỏi: Các ý cận hành này đạt được(đắc) như thế nào?

Đáp: Lìa nhiễm của cõi Dục thì tám đạo vô gián-tám đạo giải thoát trước, đều đạt được Cận phần của Tĩnh lự thứ nhất có sáu; lúc đạo vô gián thứ chín thì đạt được Tĩnh lự thứ nhất và quyến thuộc của địa ấy có mười hai; đạt được cõi Dục có một, đó là cận hành của Xả thuộc về Pháp.

Có người nói: Đạt được ba, đó là cận hành của Xả thuộc về SắcThanh-Pháp.

Có người nói: Đạt được sáu, đó là sáu cận hành của Xả.

Lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất thì tám đạo vô gián-tám đạo giải thoát trước, đều đạt được Cận phần của Tĩnh lự thứ hai có sáu; lúc đạo vô gián thứ chín thì đạt được Tĩnh lự thứ ba và Cận phần của địa ấy có mười hai. Cõi Dục như trước nói. Đạt được Tĩnh lự thứ nhất có một, đó là cận hành của Xả thuộc về Pháp.

Có người nói: Đạt được ba, đó là cận hành của Xả thuộc về SắcThanh-Pháp.

Có người nói: Đạt được bốn, đó là cận hành của Xả thuộc về SắcThanh-Xúc-Pháp.

Lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, thì tám đạo vô gián-tám đạo giải thoát trước, đều đạt được Cận phần của Tĩnh lự thứ ba có sáu; lúc đạo vô gián thứ chín thì đạt được Tĩnh lự thứ ba và Cận phần của địa ấy có sáu. Cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất như trước nói. Đạt được Tĩnh lự thứ hai có một, đó là cận hành của Xả thuộc về Pháp.

Có người nói: Đạt được ba, đó là cận hành của Xả thuộc về SắcXúc-Pháp.

Lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, thì tám đạo vô gián-tám đạo giải thoát trước, đều đạt được Cận phần của Tĩnh lự thứ tư có sáu; lúc đạo vô gián thứ chín thì đạt được Tĩnh lự thứ tư và Cận phần của địa ấy có sáu. Cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu như trước nói. Đạt được Tĩnh lự thứ ba có một. Có người nói: Đạt được ba, nói như Tĩnh lự thứ hai.

Lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, thì tất cả đạo vô gián-giải thoát đều đạt được Không vô biên xứ có bốn. Có người nói: Đạt được một.

Lìa nhiễm của Không vô biên xứ, cho đến lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, thì tất cả đạo vô gián-giải thoát đều chỉ đạt được một, lúc chứng quả A-la-hán thì đạt được cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có sáu, Không vô biên xứ có bốn. Có người nói là một. Ba Vô sắc trên đều có một.

Đã nói về lìa nhiễm mà đạt được. Thọ sinh mà đạt được, đó là lúc từ địa trên chết đi sinh vào địa dưới, đạt được tất cả của địa mình, và địa dưới tùy theo quan hệ như nói về đạt được(đắc); xả và đoạn cũng nên dựa theo trước nói rộng ra.

Mười tám ý cận hành này, bởi vì dựa vào đam mê và rời bỏ có sai biệt, cho nên Đức Thế Tôn nói là ba mươi sáu câu bậc thầy(sư cú). Trong này, Thọ thuận theo nhiễm gọi là dựa vào đam mê, Thọ thuận theo thiện gọi là dựa vào rời bỏ.

Hỏi: Vì sao không nói đến vô phú vô ký?

Đáp: Bởi vì loại ấy cũng nói ở trong hai loại này, nghĩa là vô phú vô ký thì Thọ có thuận theo phẩm nhiễm, có thuận theo phẩm thiện; thuận theo phẩm nhiễm thì dựa vào đam mê thâu nhiếp, thuận theo phẩm thiện thì dựa vào rời bỏ thâu nhiếp.

Hỏi: Vì sao nói loại này gọi là câu bậc thầy?

Đáp: Câu sai biệt này có thể biểu thị cho bậc Đại Sư, là ngọn cờ hiệu của Sư cho nên gọi là câu bậc thầy. Bởi vì các câu này, chỉ riêng Phật là bậc Đại Sư có năng lực nhận biết, có năng lực giải thích không có gì ngăn ngại. Như trong kinh nói: “Nếu lúc hội chúng cung kính tin nhận thì Như Lai không vui mừng, nếu không cung kính tin nhận thì Như Lai không buồn lo, nghĩ nhớ chính xác-nhận biết chính xác, an trú trong xả thanh tịnh.”

Có người nói: Những câu này là câu bậc thầy của ngoại đạo, bởi vì họ ở trong này có sự chấp trước mê muội.

Có người nói: Những câu này nên gọi là dấu tích của bậc thầy, là nơi mà các tà sư thường xuyên đi lại.

Có người nói: Những câu này nên gọi là con đường oán hận, ái gọi là oán hận, dựa vào đây mà chuyển; hoặc là các phiền não đều gọi là oán hận, nó dựa vào đây mà chuyển cho nên gọi là con đường oán hận.

Có người nói: Những câu này nên gọi là con đường gươm dao, bởi vì đi qua con đường này thì có sự tổn thương nguy hại. Như nói lưỡi dao ý thứ ba của Phạm Chí, nếu vung lên thì phát ra nghiệp ác chuốc lấy khổ đau.

Hỏi: Ba mươi sáu loại này, cõi nào-địa nào có mấy loại?

Đáp: Cõi Dục có đủ tất cả. Trong cõi Sắc thì hai Tĩnh lự đầu đều có hai mươi, Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có mười. Trong cõi Vô sắc, Cận phần của Không vô biên xứ, nếu chấp nhận có duyên riêng thì có năm, nếu nói chỉ là duyên chung thì chỉ có hai. Nói như vậy thì nên nói là có năm. Bốn Vô sắc Căn bản và ba Cận phần trên đều chỉ có hai.

Hỏi: Ba mươi sáu loại này, cõi nào-địa nào có mấy loại duyên với cõi nào-địa nào?

Đáp: Trong cõi Dục có ba mươi sáu loại, mười hai loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Dục, mười tám loại cùng duyên với hệ thuộc cõi DụcSắc, sáu loại cùng duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc.

Trong hai Tĩnh lự đầu đều có hai mươi, bốn loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Dục, sáu loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Sắc, sáu loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Dục-Sắc, hai loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc và không hệ thuộc, hai loại cùng duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc.

Trong Tĩnh lự thứ ba-thứ tư đều có mười, hai loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Dục, ba loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Sắc, ba loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Dục-Sắc, một loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc và không hệ thuộc, một loại cùng duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc.

Cận phần của Không vô biên xứ, nếu nói có năm thì ba loại chỉ duyên với hệ thuộc cõi Sắc, một loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Vô sắc và không hệ thuộc, một loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc và không hệ thuộc; nếu nói có hai thì một loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Vô sắc và không hệ thuộc, một loại cùng duyên với hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc và không hệ thuộc.

Trong bốn Vô sắc Căn bản và ba Cận phần trên đều có hai, hai loại cùng duyên chung với hệ thuộc cõi Vô sắc và không hệ thuộc.

Hỏi: Ba mươi sáu loại này, ai thành tựu mấy loại?

Đáp: Sinh ở cõi Dục, nếu đoạn mất căn thiện, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục có mười tám, hai Tĩnh lự đầu đều có tám, hai Tĩnh lự sau đều có bốn, bốn Vô sắc đều có một.

Nếu không đoạn mất căn thiện, chưa đạt được tâm thiện của cõi Sắc, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục có ba mươi sáu, địa trên như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa nhiễm của cõi Dục, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục có ba mươi sáu, Tĩnh lự thứ nhất có mười bốn, địa trên như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của cõi Dục, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ hai, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục có mười hai, Tĩnh lự thứ nhất có hai mươi, địa trên như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ hai, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục có mười hai, Tĩnh lự thứ nhất có hai mươi, Tĩnh lự thứ hai có mười bốn, địa trên như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất đều có mười hai, Tĩnh lự thứ hai có hai mươi, địa trên như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất đều có mười hai, Tĩnh lự thứ hai có hai mươi, Tĩnh lự thứ ba có mười, địa trên như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai, Tĩnh lự thứ ba có mười, địa trên như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ tư, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai, hai Tĩnh lự sau đều có mười bốn, Vô sắc đều có một.

Nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, chưa đạt được tâm thiện của Không vô biên xứ, thì lúc ấy thành tựu cõi Dục-hai Tĩnh lự đầu đều có mười hai, Tĩnh lự thứ ba có sáu, Tĩnh lự thứ tư có mười bốn, Vô sắc đều có một.

Nếu đạt được tâm thiện của Không vô biên xứ, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc ấy thành tựu Không vô biên xứ có năm. Có người nói là hai. Ba Vô sắc trên đều có một, địa dưới như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, chưa đạt được tâm thiện của Thức vô biên xứ, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ tư có sáu, Không vô biên xứ có năm. Có người nói là hai. Ba Vô sắc trên đều có một, địa dưới như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Thức vô biên xứ, chưa lìa nhiễm của Không vô biên xứ, thì lúc ấy thành tựu Thức vô biên xứ có hai, hai Vô sắc trên đều có một, địa dưới như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Không vô biên xứ, chưa đạt được tâm thiện của Vô sở hữu xứ, thì lúc ấy thành tựu Không vô biên xứ có bốn. Có người nói là một. Thức vô biên xứ có hai, hai Vô sắc trên đều có một, địa dưới như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Vô sở hữu xứ, chưa lìa nhiễm của Thức vô biên xứ, thì lúc ấy thành tựu Vô sở hữu xứ có hai, Hữu Đảnh có một, địa dưới như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Thức vô biên xứ, chưa đạt được tâm thiện của Hữu Đảnh, thì lúc ấy thành tựu Thức vô biên xứ có một, Vô sở hữu xứ có hai, Hữu Đảnh có một, địa dưới như trước nói.

Nếu đạt được tâm thiện của Hữu Đảnh, chưa lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, thì lúc ấy thành tựu Hữu Đảnh có hai, địa dưới như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, chưa lìa nhiễm của Hữu Đảnh, thì lúc ấy thành tựu Vô sở hữu xứ có một, Hữu Đảnh có hai, địa dưới như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Hữu Đảnh, thì lúc ấy thành tựu Hữu Đảnh có một, địa dưới như trước nói.

Sinh ở Tĩnh lự thứ nhất, nếu chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ hai, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ nhất có hai mươi, Tĩnh lự thứ hai có tám, hai Tĩnh lự sau đều có bốn, bốn Vô sắc đều có một. Thành tựu cõi Dục có một, đó là rời bỏ dựa vào Xả thuộc về Pháp.

Có người nói: Thành tựu ba, đó là rời bỏ dựa vào Xả thuộc về Sắc-Thanh-Pháp.

Có người nói: Thành tựu sáu, đó là sáu rời bỏ dựa vào Xả.

Nếu đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ hai, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lự thứ hai có mười bốn, còn lại như trước nói.

Nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, chưa đạt được tâm thiện của Tĩnh lự thứ ba, thì lúc ấy thành tựu Tĩnh lựu thứ nhất có mười hai, Tĩnh lự thứ hai có hai mươi, còn lại như trước nói.

Như vậy cho đến lìa nhiễm của Hữu Đảnh, nói rộng ra như trước. Như sinh ở Tĩnh lự thứ nhất, như vậy sinh ở Tĩnh lự thứ hai…dựa theo trước nói rộng ra, như lý nên biết. Đạt được-rời bỏ và đoạn trừ, cả ba cũng dựa theo trước đã nói.

Như trong kinh nói: “Dùng sáu rời bỏ dựa vào Hỷ, làm binh khílàm chỗ dựa-làm nơi kiến lập, đối với sáu đam mê dựa vào Hỷ, có thể lìa ra-có thể rời bỏ và có thể thay đổi, như vậy liền đoạn. Dùng sáu rời bỏ dựa vào Ưu, làm binh khí-làm chỗ dựa-làm nơi kiến lập, đối với sáu đam mê dựa vào Ưu, có thể lìa ra-có thể rời bỏ và có thể thay đổi, như vậy liền đoạn. Dùng sáu rời bỏ dựa vào Xả, làm binh khí-làm chỗ dựalàm nơi kiến lập, đối với sáu đam mê dựa vào Xả, có thể lìa ra-có thể rời bỏ và có thể thay đổi, như vậy liền đoạn.” Nên biết đây là nói về tạm thời đoạn mà gọi là đoạn.

Lại nói: “Dùng sáu rời bỏ dựa vào Hỷ, làm binh khí-làm chỗ dựalàm nơi kiến lập, đối với sáu rời bỏ dựa vào Ưu, có thể lìa ra-có thể rời bỏ và có thể thay đổi, như vậy liền đoạn.” Nên biết đây là nói về lìa nhiễm của cõi Dục.

Lại nói: “Dùng sáu rời bỏ dựa vào Xả, làm binh khí-làm chỗ dựalàm nơi kiến lập, đối với sáu rời bỏ dựa vào Hỷ, có thể lìa ra-có thể rời bỏ và có thể thay đổi, như vậy liền đoạn.” Nên biết đây là nói về lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai.

Lại nói: “Dùng một loại tánh đã dựa vào Xả, làm binh khí-làm chỗ dựa-làm nơi kiến lập, đối với nhiều loại tánh đã dựa vào Xả, có thể lìa ra-có thể rời bỏ và có thể thay đổi, như vậy liền đoạn.” Nên biết đây là nói về lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư.

Lại nói: “Dùng chủng loại không phải là tánh ấy, làm binh khílàm chỗ dựa-làm nơi kiến lập, đối với một loại tánh đã dựa vào Xả, có thể lìa ra-có thể rời bỏ và có thể thay đổi, như vậy liền đoạn.” Nên biết đây là nói về lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chủng loại không phải là tánh ấy, nghĩa là đạo vô lậu cần phải nhờ vào đạo này, mới có thể lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

*******

 

Dùng đạo vô gián chứng quả Dự lưu, lúc tu đạo ấy thì bốn Niệm trú, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày về nghĩa của mình. Nghĩa là hoặc có người nói: Không có tu vị lai, bởi vì không có điều gì chưa làm mà đã được. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày là có tu vị lai, điều ấy tuy chưa khởi lên mà đã khởi lên chủng loại ấy.

Hoặc lại có người nói: Hai tâm cùng hiện hành, bởi vì thấy-nghe… có cùng lúc. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày không có hai tâm cùng hiện hành, bởi vì sát-na chuyển đổi nhanh chóng cho nên không phải là cùng lúc mà tựa như cùng lúc.

Hoặc lại có người nói: Bốn Chánh đoạn… không phải là có cùng một lúc, bởi vì tác dụng của nhân khác nhau. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày pháp này cùng lúc có được bốn loại, bởi vì Thể không có gì khác nhau.

Hoặc lại có người nói: Tín… chỉ là vô lậu, bởi vì kinh nói dị sinh không có các căn như Tín… Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về Tín… gồm chung hữu lậu, trong kinh chỉ nói về căn vô lậu.

Hoặc lại có người nói: Thể của Căn và Lực khác nhau, bởi vì phần vị mạnh yếu ấy khác nhau. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày phần vị tuy khác mà tác dụng của Căn và Lực có cùng một Thể.

Hoặc lại có người nói: Giác chi gồm chung hữu lậu, bởi vì nói quán Bất tịnh cùng tu với Niệm giác chi. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về Giác chi chỉ là vô lậu, bởi vì trong kinh nói có đi cùng chứ không phải là cùng lúc đi cùng.

Hoặc lại có người nói: Địa Cận phần có Hỷ, bởi vì trong kinh nói dựa vào Hỷ đoạn mà rời bỏ Ưu. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về Cận phần không có Hỷ, bởi vì trong kinh nói đã đoạn-sẽ đoạn gọi là đoạn.

Hoặc lại có người nói: Chánh ngữ-nghiệp-mạng không có cùng lúc, bởi vì trong một sát-na không có hai nghiệp thân-ngữ. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày ba Giới cùng do ba căn mà khởi lên, cho nên cùng lúc có thể được.

Hoặc lại có người nói: Dự lưu-Nhất lai cũng đạt được Tĩnh lự. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày cả hai đều không đạt được, bởi vì chưa lìa dục.

Hoặc lại có người nói: Nhẫn tức là Trí. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày Nhẫn không phải là Trí, bởi vì chưa quyết định chính xác đối với cảnh của Đế.

Hoặc lại có người nói: Dị sinh không đoạn phiền não, bởi vì chưa thấy được Đế. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về dị sinh cũng đoạn phiền não, bởi vì thấy phần thô…

Hoặc lại có người nói: Thánh giả không dùng đạo thế tục để đoạn phiền não. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về Thánh giả tự tại, bởi vì tùy ý sử dụng bất cứ đạo nào.

Hoặc lại có người nói: Địa trên cũng có chi Chánh tư duy. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày địa trên không có chi ấy, bởi vì không có Tầm.

Hoặc lại có người nói: Vô sắc cũng có chi Giới vô lậu. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày cõi ấy không có Giới, bởi vì không có sắc.

Hoặc lại có người nói: Ba Tam-ma-địa, nghĩa khác nhau mà Thể như nhau. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về Thể cũng khác nhau, bởi vì hành tướng khác nhau.

Vì ngăn chặn các loại tông chỉ quái lạ như vậy, để hiển bày đúng đắn về những điều đã nói, cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả Dự lưu, lúc tu đạo ấy thì bốn Niệm trú, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, tám Đạo chi, bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Vô sắc, tám Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, tám Trí, ba Đẳng trì,mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai?

Đáp: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một.

Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Đây là ngăn chặn ý chấp về hai tâm cùng hiện hành, và không có tu vị lai. Nếu có hai tâm cùng lúc hiện hành, thì bốn Niệm trú phải tu ở hiện tại. Nhưng bốn Niệm trú chắc chắn không cùng hiện hành, bởi vì một tâm tương ưng không có bốn Tuệ. Không thể nào kiến lập bốn pháp này cùng chung một Thể, bởi vì hành tướng và sở duyên đều có khác biệt. Không phải là trong một sự nối tiếp nhau mà có nhiều tâm cùng sinh khởi, đừng vì điều ấy mà thành ra nhiều hữu tình. Nếu đời vị lai không có nghĩa của tu, thì pháp thiện đã tu không có nghĩa tăng rộng, khởi lên nhiều gia hạnh sẽ trở thành trống rỗng, giả sử dụng công nhiều mà đạt được rất ít, và lúc mới thành Phật sẽ chưa đầy đủ tất cả công đức. Đừng có những sai lầm như vậy. Có tu vị lai, bởi vì đời vị lai rộng rãi cho nên tu đầy đủ bốn, thế dụng của tu hiện tại có năng lực dẫn dắt pháp thuộc chủng loại tương lai, có thể khiến cho hiện rõ trước mắt. Hiện tại có một, đó là duyên xen tạp với Pháp niệm trú, bởi vì thấy được Đạo đế.

Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Đây là ngăn chặn ý chấp về Chánh đoạn-Thần túc không phải là có cùng một lúc. Thể của Chánh Cần có bốn, phát động tạo tác như ngọn đèn, trong một lúc có bốn tác dụng, một Tam-ma-địa nhờ vào bốn nhân mà sinh ra, cho nên từ nhân mà thiết lập bốn tên gọi. Tu vị lai, cũng là một phần nghĩa thuộc về Thể, cho nên hiện tại và vị lai đều nói là tu có bốn.

Căn-Lực, hiện tại và vị lai có năm. Đây là ngăn chặn ý chấp về Thể của Căn-Lực khác nhau, và nói năm loại sinh khởi theo thứ tự. Tuy phần vị của Căn-Lực khác nhau mà tự Thể không có gì khác biệt, tức là một Tín… có hai tác dụng của sinh-phá, cho nên thiết lập tên gọi CănLực không trái ngược lẫn nhau. Bởi vì giúp đỡ nhau cùng phát khởi, cho nên năm loại này không phải là sinh khởi theo thứ tự.

Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đây là ngăn chặn ý chấp về Cận phần có Hỷ. Bởi vì nơi này chưa đạt được địa Căn bản phía trên, chưa lìa sợ hãi của địa dưới, cho nên không sinh ra Hỷ. Trong kinh nói dựa vào Hỷ đoạn để rời bỏ Ưu, là dựa vào đạo gia hạnh mà nói, không phải là đạo vô gián cho nên không trái ngược nhau. Ở đây dựa vào Vị chí không có Hỷ, cho nên có sáu.

Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Đây là ngăn chặn ý chấp về Chánh ngữ-nghiệp-mạng không cùng lúc. Do không có tham-sân-si mà phát khởi Vô biểu, cho nên đều có bảy loại cùng lúc dấy khởi.

Không có Tĩnh lự. Đây là ngăn chặn ý chấp về Dự lưu-Nhất lai cũng đạt được Tĩnh lự. Bởi vì người này chưa lìa dục mà tiến vào Kiến đạo, người đã lìa dục thì không phải là hai Hướng.

Không có Vô lượng. Đây là ngăn chặn ý chấp về Vô lượng cũng gồm chung vô lậu, và trong Kiến đạo có tu Vô lượng. Bởi vì pháp này duyên với hữu tình, không phải là vô lậu và Kiến đạo nhanh chóng. Vả lại, vì mới đạt được cho nên không có năng lực tu đầy đủ tất cả. Hơn nữa, bởi vì chưa đạt được địa Căn bản, cho nên không tu Vô lượng.

Không có Vô sắc. Đây là ngăn chặn ý chấp về Vô sắc có Kiến đạo. Bởi vì trong Vô sắc không có Trí duyên với khắp nơi, cho nên chắc chắn không có Kiến đạo. Vả lại, bởi vì nơi này chưa đạt được Định Vô sắc.

Không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Đây là ngăn chặn ý chấp về ba pháp trước như Giải thoát…, cũng gồm chung vô lậu. Bởi vì mười sáu hành tướng vốn không thâu nhiếp, cho nên không gọi là vô lậu. Vả lại, bởi vì lúc bấy giờ chưa đạt được địa Căn bản, cho nên những pháp ấy đều không tu.

Không có Trí. Đây là ngăn chặn ý chấp về Nhẫn tức là Trí. Bởi vì Nhẫn đối với cảnh của Đế chưa quyết định chính xác như thật, cho nên không gọi là Trí. Vả lại, bởi vì ở phần vị này tu trong phạm vi của mình, không tu các trí của vị lai, cho nên nói là không có.

Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Đây là ngăn chặn ý chấp về ba Tam-ma-địa có nghĩa khác nhau mà Thể như nhau. Bởi vì hành tướng của ba Đẳng trì khác nhau, cho nên Thể cũng có khác nhau. Một, đó là Đẳng trì Vô nguyện, bởi vì lúc Đạo loại nhẫn hiện khởi chỉ tu pháp này, cho nên tuy tám Nhẫn đều là đạo vô gián, nhưng dựa vào phần vị chứng quả mà nói thì chỉ là Đạo loại nhẫn chứ không phải là pháp nào khác.

Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả Nhất lai, lúc tu đạo ấy thì bốn Niệm trú, cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Đáp: Nếu thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một.

Nếu thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh. Đây là ngăn chặn ý chấp về dị sinh không đoạn phiền não. Nhưng chủng loại dị sinh có thể dùng sáu loại hành tướng như thô…, lìa nhiễm của cõi Dục cho đến lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ. Nếu trước đã lìa nhiễm cõi Dục thuộc sáu phẩm, thì gọi là thêm lìa nhiễm cõi Dục, bởi vì thêm ba phẩm sau. Những câu còn lại đều giải thích như trước.

Nếu từ quả Dự lưu dùng đạo thế tục chứng quả Nhất lai, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại không có, vị lai có sáu. Đạo chi, hiện tại không có, vị lai có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba.

Dùng đạo thế tục chứng quả Nhất lai. Đây là ngăn chặn ý chấp về Thánh giả không dùng đạo thế tục để đoạn phiền não. Bởi vì Thánh giả đều thành tựu đối với hai đạo, cho nên tùy theo ý muốn hiện rõ trước mắt, thì dùng đạo ấy để đoạn.

Niệm trú, hiện tại có một, đó là duyên xen tạp với Pháp niệm trú, bởi vì đạo vô gián lìa nhiễm hữu lậu, cho nên chắc chắn là duyên chung.

Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Đây là ngăn chặn ý chấp về Tín… chỉ là vô lậu. Nói là bởi vì quán xét về Tín… là Tập…, bởi vì Đức Phật quán xét ba căn rồi mới thuyết pháp, bởi vì hữu lậu cũng có tác dụng của Căn-Lực.

Giác chi, hiện tại không có. Đây là ngăn chặn ý chấp về Giác chi gồm chung hữu lậu. Bởi vì hữu lậu không có năng lực nhận hiểu đúng như thật, cho nên nói là quán Bất tịnh đi cùng với tu Niệm giác chi, đó là dựa vào nhân lần lượt chuyển đổi cùng có mà nói. Vị lai có sáu, bởi vì lúc Thánh giả khởi lên đạo hữu lậu, cũng tu gồm chung vô lậu.

Đạo chi, hiện tại không có, tuy là Đạo chi gồm chung hữu lậu, nhưng nói sau Giác chi cho nên cũng chỉ là vô lậu, bởi vì A-tỳ-đạt-ma có tướng như vậy.

Không có Vô lượng…, bởi vì trong Định Vị chí không có các pháp thiện của các địa Căn bản ấy.

Trí, hiện tại có một, đó là trí thế tục; vị lai có bảy, là trừ ra Tha tâm trí, bởi vì trái với đạo vô gián, và bởi vì chưa đạt được. Trong này chỉ dựa vào tám trí mà soạn luận, trừ ra Tận trí và Vô sinh trí, bởi vì phần vị hạn chế.

Đẳng trì, hiện tại không có, ba Đẳng trì tuy gồm chung hữu lậu, nhưng trong này nói đến vô lậu, bởi vì vô lậu là cửa ngõ giải thoát. Văn này nói đến đạo vô gián thứ sáu, bởi vì đạo ấy có năng lực chứng được quả Nhất lai. Phần còn lại như trước nói.

Nếu từ quả Dự lưu dùng đạo vô lậu chứng quả Nhất lai, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.

Niệm trú, hiện tại có một, đó là Pháp niệm trú, hoặc là xen tạpkhông xen tạp, bởi vì bốn Pháp trí tùy theo khởi lên một.

Trí, hiện tại có hai, đó là Khổ trí và Pháp trí, hoặc là cho đến Đạo trí và Pháp trí.

Đẳng trì, hiện tại có một, đó là trong ba tùy theo một. Phần còn lại như trước nói.

Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả Bất hoàn, lúc tu đạo ấy thì bốn Niệm trú, cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Đáp: Nếu đã lìa nhiễm cõi Dục, dựa vào Định Vị chí tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một.

Không có Tĩnh lự, bởi vì Kiến đạo dựa vào địa dưới không tu pháp của địa trên. Phần còn lại như trước nói.

Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ nhất tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có bảy. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Giải thích đoạn văn này dựa theo trước nên biết.

Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại không có, vị lai có một. Không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một.

Giác chi, hiện tại có sáu, bởi vì Tĩnh lự trung gian không có Hỷ căn. Bởi vì địa trên tu pháp của địa dưới, cho nên vị lai có bảy.

Đạo chi, hiện tại có bảy. Đây là ngăn chặn ý chấp về địa trên có Tầm, bởi vì tâm của địa trên này vi tế cho nên không có Tầm. Phần còn lại như trước nói.

Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ hai tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có hai. Không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Giải thích đoạn văn này dựa theo trước nên biết.

Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ ba tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có ba. Không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Giải thích đoạn văn này như trước.

Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ tư tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Đoạn này tùy theo sự thích hợp, giải thích như trước.

Nếu từ quả Nhất lai dùng đạo thế tục chứng quả Bất hoàn, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại không có, vị lai có sáu. Đạo chi, hiện tại không có, vị lai có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thích đoạn văn này như trước nên biết.

Nếu từ quả Nhất lai dùng đạo vô lậu chứng quả Bất hoàn, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba. Đoạn này giải thích như trước.

Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng Thần cảnh trí thông, lúc tu đạo ấy thì bốn Niệm trú cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Đáp: Nếu các dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Không có Giác chi, không có Đạo chi. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có hai. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Biến xứ. Trí, hiện tại và vị lai đều có một. Không có Đẳng trì.

Trong này, Niệm trú hiện tại có một, đó là Thân niệm trú, bởi vì Thần cảnh trí thông chỉ duyên với sắc, đạo vô gián ấy cũng chỉ duyên với sắc.

Hỏi: Như Định Kim cang dụ duyên với bốn Uẩn của Hữu Đảnh, hoặc là Diệt-Đạo của ba cõi; Lậu tận thông duyên với bốn Uẩn của Hữu Đảnh, như vậy thì sở duyên có lúc khác nhau, vì sao trong này nói Thần cảnh trí thông và đạo vô gián nhất định cùng duyên với sắc?

Đáp: Định Kim cang dụ và Tận trí-Vô sinh trí lúc đầu, đều là đạo quán xét về Đế mà đoạn phiền não, chỉ cầu lìa nhiễm chứ không phải là đối với sở duyên, bởi vì có sự chuyển đổi tạo tác cho nên sở duyên có lúc khác nhau. Thần cảnh trí thông… đều là tùy theo sự việc mà tác ý, bởi vì đều muốn biết rõ ràng đối với cảnh biến hiện, cho nên sở duyên nhất định phải như nhau.

Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có bốn, nghĩa là công đức hữu lậu trong địa Căn bản, bởi vì cùng địa cho nên tùy theo thích hợp đều tu.

Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có hai, nghĩa là hai Giải thoát đầu, lúc ấy còn hệ thuộc hai Tĩnh lự đầu.

Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn, nghĩa là bốn Thắng xứ đầu cũng hệ thuộc nơi ấy.

Trí, hiện tại và vị lai đều có một, đó là thế tục trí.

Hỏi: Vì sao không có tha tâm trí?

Đáp: Bởi vì trong đạo vô gián không tu trí ấy. Phần còn lại tùy theo thích hợp đã nói như trước.

Nếu các Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại không có, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại không có, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có hai. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Biến xứ. Trí, hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba.

Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một.

Hỏi: Thánh giả đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba đạt được Tĩnh lự thứ tư, dựa vào Tĩnh lự thứ nhất tu Thần cảnh thông, trong đạo vô gián nên nói là Tĩnh lự tu vị lai có bốn, bởi vì đạo vô lậu dựa vào địa trêndưới mà tu, vì sao chỉ nói là vị lai có một?

Đáp: Có người nói: Cần phải nói tu vị lai có bốn mà không nói thì nên biết là có khác.

Có người nói: Trong này dựa vào từ từ mà nói, nghĩa là từ vốn có phiền não tiến vào Chánh tánh ly sinh, cho đến đạt được quả Bất hoàn rồi, dựa vào Tĩnh lự thứ nhất tu Thần cảnh thông, trong đạo vô gián tu vị lai có một, không tu pháp của địa trên bởi vì chưa đạt được.

Có người nói: Giả sử lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, dựa vào Tĩnh lự thứ nhất tu Thần cảnh thông, thì cũng chỉ tu một bởi vì không tu pháp của địa trên.

Hỏi: Chẳng lẽ không dựa vào Tĩnh lự thứ nhất để đoạn nhiễm của địa trên, và người Vô học lúc tu pháp Luyện căn cũng tu tất cả công đức của địa trên hay sao? Thà rằng nói là dựa vào địa dưới không có thể tu pháp của địa trên.

Đáp: Đoạn phiền não của địa trên thì có thể tu pháp của địa trên, bởi vì đạo của địa ấy có sự đối trị như nhau, cho nên pháp đoạn phiền não ấy có năng lực đối trị thì cần phải tu, Vô học Luyện căn giống như đạt được quả ấy, vì vậy lúc này đều dựa vào địa dưới mà tu địa trên; các thần thông thì không như vậy, cho nên không tu pháp của địa trên. Như trong Kiến đạo chỉ tu pháp của địa dưới địa mình.

Ví dụ này phi lý, bởi vì Kiến đạo là lần đầu đạt được chủng tánh mà chưa tự tại, chỉ tu trong phạm vi của mình; Tu đạo là đã đạt được chủng tánh, tự tại đối với chủng tánh ấy lẽ nào không tu đầy đủ hay sao? Nhưng năm thần thông là công đức thù thắng, lúc tu gia hạnh cần phải tác ý cao nhất. Nếu các Tĩnh lự đã đạt được tự tại thì lý nào làm ngăn ngại mà không tu đầy đủ? Vì vậy nên biết cách nói trước là hợp lý.

Không có Vô sắc…, dựa theo đây nên biết. Phần còn lại như trước nói.

Nếu các dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ hai, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Không có Giác chi, không có Đạo chi. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có hai. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Biến xứ. Trí, hiện tại và vị lai đều có một. Không có Đẳng trì.

Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một, nghĩa là lúc ấy đã đạt được pháp của địa dưới mà không tu công đức hữu lậu, chỉ tu pháp của địa mình bởi vì thuộc về cõi-địa. Phần còn lại như trước nói.

Nếu các Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ hai, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại không có, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại không có, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có hai. Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có hai. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Biến xứ. Trí, hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba.

Tĩnh lự, vị lai có hai, nghĩa là hai Tĩnh lự đầu, ban đầu chỉ là vô lậu. Phần còn lại như trước nói.

Nếu các dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ ba, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Không có Giác chi, không có Đạo chi. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại và vị lai đều có một.

Không có Đẳng trì.

Vô lượng, vị lai có ba, đó là trừ ra Hỷ vô lượng.

Không có Giải thoát…, bởi vì Tĩnh lự thứ ba do Lạc mà mê đắm, cho nên không có những giải thoát, chán ngán thực hành công đức giải thoát thanh tịnh…, tuy dấy lên hành tướng vui mừng, nhưng bởi vì địa có tai họa bất ngờ cho nên cũng không đạt được. Phần còn lại như trước nói.

Nếu các Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ ba, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại không có, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại không có, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có ba. Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thích rộng ra như trước.

Nếu các dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ tư, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Không có Giác chi, không có Đạo chi. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một.Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có một. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Biến xứ, hiện tại không có, vị lai có tám. Trí, hiện tại và vị lai đều có một. Không có Đẳng trì.

Giải thoát, vị lai có một, đó là trú đầy đủ vào Thân tác chứng-giải thoát thanh tịnh.

Thắng xứ, vị lai có bốn, đó là bốn Thắng xứ sau.

Biến xứ, vị lai có tám, đó là tám Biến xứ trước. Bởi vì trong địa này lìa xa tám tai họa bất ngờ, cho nên có những công đức thanh tịnh như vậy. Phần còn lại như trước nói.

Nếu các Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ tư, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại không có, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại không có, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có một. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Biến xứ, hiện tại không có, vị lai có tám. Trí, hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thích rộng ra như trước.

Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng Thiên nhĩ trí thông, Tha tâm trí thông, Túc trú tùy niệm trí thông, Sinh tử trí thông, lúc tu đạo ấy thì bốn Niệm trú cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai?

Đáp: Như Thần cảnh trí thông, cần phải tùy theo tướng mà nói, bởi vì năm loại này đều dựa vào bốn Tĩnh lự, dị sinh và Thánh giả đều có thể khởi lên. Nhưng lúc tu Thiên nhĩ trí thông-Sinh tử trí thông, thì đạo vô gián có Niệm trú hiện tại như Thần cảnh trí thông đã nói, bởi vì cùng duyên với sắc làm Thân niệm trú; lúc tu Tha tâm trí thông, thì đạo vô gián hiện tại chỉ khởi lên Tâm niệm trú; lúc tu Túc trú tùy niệm trí thông, thì đạo vô gián hiện tại chỉ khởi lên Pháp niệm trú. Phần còn lại tùy theo thích hợp đều nói như trước.

Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng Lậu tận trí thông, lúc tu đạo ấy thì bốn Niệm trú cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Đáp: Nếu dựa vào Định Vị chí chứng quả A-la-hán, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Tĩnh lự, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.

Niệm trú, hiện tại có một, đó là Pháp niệm trú, hoặc là xen tạpkhông xen tạp, bởi vì bốn Loại trí và hai Pháp trí, tùy theo một loại hiện rõ trước mắt.

Tĩnh lự, vị lai có bốn, bởi vì đoạn phiền não của Hữu Đảnh, cùng tu về đạo có năng lực đối trị của địa trên-dưới.

Không có Vô lượng…, bởi vì lúc bấy giờ không tu pháp hữu lậu, bởi vì pháp hữu lậu không có năng lực đối trị với Hữu Đảnh.

Vô sắc và Giải thoát, vị lai có ba, đó là ba Vô sắc trước và chính ba Giải thoát ấy đều gồm chung vô lậu.

Trí, hiện tại có hai, đó là Diệt trí và Pháp trí, hoặc là Đạo trí và Pháp trí, hoặc là Khổ trí và Loại trí, cho đến hoặc là Đạo trí và Loại trí. Vị lai có sáu, đó là trừ ra thế tục trí và Tha tâm trí, bởi vì trí ấy là hữu lậu, cho nên cùng với đạo vô gián trái ngược nhau.

Đẳng trì, hiện tại có một, đó là Không-Vô tướng-Vô nguyện, tùy theo một loại hiện rõ trước mắt, bởi vì Định Kim cang dụ tương ưng với sáu Trí. Trong này chỉ nói về đạo vô gián thứ chín đoạn phiền não của Hữu Đảnh, bởi vì đạo ấy có thể chứng được Lậu tận trí thông. Phần còn lại như trước nói.

Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ nhất chứng quả A-la-hán, thì lúc tu đạo

ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có bảy. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.

Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian chứng quả A-la-hán, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.

Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ hai chứng quả A-la-hán, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.

Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ ba-thứ tư chứng quả A-la-hán, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba. Đoạn này tùy theo thích hợp như trước giải thích.

Nếu dựa vào Định Vô sắc chứng quả A-la-hán, thì lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bốn, vị lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện tại có một, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại có một, vị lai có ba.

Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.

Dựa vào Định Vô sắc, đó là dựa vào Không vô biên xứ, hoặc là dựa vào Thức vô biên xứ, hoặc là dựa vào Vô sở hữu xứ, bởi vì ba địa này đều có đạo vô lậu, có thể lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Định lực của Phi tưởng phi phi tưởng xứ mơ hồ yếu kém, không phải là nơi nương tựa của đạo vô lậu, cho nên trong này không nói đến.

Đạo chi, hiện tại có bốn. Đây là ngăn chặn ý chấp về cõi Vô sắc có Giới vô lậu, và địa trên có Chánh tư duy. Bởi vì bốn Đại chủng không có nơi nương tựa, và bởi vì tâm của địa trên dần dần vi tế.

Hỏi: Như không có Đại chủng vô lậu mà có Giới vô lậu, như vậy tuy không có Đại chủng của địa ấy mà có Giới của địa ấy, điều này có gì sai?

Đáp: Giới vô lậu không rơi vào cõi- địa, tùy theo Đại chủng sở tạo của thân sở y, vì vậy tuy không có Đại chủng vô lậu mà có Giới vô lậu sở tạo. Giới hữu lậu nhất định rơi vào cõi-địa, chỉ là Đại chủng sở tạo của địa mình. Bởi vì cõi ấy không có Đại chủng, cho nên Giới cũng không có.

Hỏi: Nếu không có Giới vô lậu tùy theo Đại chủng sở tạo của thân sở y, thì sinh ở cõi Dục-Sắc lúc tiến vào Định Vô sắc thuộc vô lậu cần phải khởi lên Định ấy cùng với Giới vô lậu, bởi vì có Đại chủng của thân sở y?

Đáp: Tuy Giới vô lậu tùy theo Đại chủng sở tạo của thân sở y, nhưng hễ địa nào cần có Đại chủng tạo, thì Giới hữu lậu mới tùy theo chủng loại ấy mà dấy khởi Giới vô lậu. Trong Vô sắc không có Đại chủng tạo của Giới hữu lậu cho nên Giới vô lậu ở cõi ấy cũng không có, bởi vì dựa vào Giới vốn có ấy mà phát khởi vô lậu.

Hỏi: Vì sao Thể của Giới chỉ là sắc?

Đáp: Bởi vì ngăn chặn sắc ác dấy khởi. Vả lại, vốn là tánh của nghiệp thân-ngữ, bởi vì hai nghiệp thân-ngữ lấy sắc làm Thể.

Hỏi: Vì sao ý nghiệp không phải là Giới?

Đáp: Bởi vì không có thể tự mình ngăn chặn Giới ác.

Hỏi: Vì sao Giới ác không phải là ý nghiệp?

Đáp: Người chưa lìa dục đều thành tựu ý nghiệp bất thiện, lẽ nào những người ấy đều gọi là phạm giới, hoặc là không có luật nghi hay sao? Vì vậy cho nên Giới ác không phải là ý nghiệp. Vả lại, ý nghiệp thiện nếu là Giới thiện, thì lẽ ra tất cả những người không đoạn mất căn thiện đều gọi là trú trong luật nghi, bởi vì những người ấy đều thành tựu ý nghiệp thiện. Nếu chấp nhận như vậy, thì một hữu tình gọi là trú trong luật nghi, cũng gọi là trú trong không có luật nghi. Vậy là sẽ không có ba loại sai biệt, như vậy thì trái ngược với Thánh giáo, cho nên Giới thiện-Giới ác đều không phải là ý nghiệp. Vả lại, thế gian cùng chấp nhận phòng ngừa giữ gìn thân-ngữ thì nói là Giới, cho nên ý nghiệp không phải là Giới. Cần phải biết rằng ý nghiệp là nhân phát sinh Giới, không thể nào nhân của Giới mà gọi là Giới. Đừng làm cho nhân quả có lỗi tạp loạn. Vì vậy, trong Vô sắc thì Đạo chi chỉ có bốn, vị lai gồm tu vô lậu của địa dưới cho nên có đầy đủ tám.

Vô sắc và Giải thoát, hiện tại có một, đó là ba địa đã dựa vào trước đây tùy theo một địa. Phần còn lại như trước đã giải thích.

********

 

Bốn Niệm trú:

  1. Thân niệm trú.
  2. Thọ niệm trú.
  3. âm niệm trú.
  4. Pháp niệm trú.

Nhưng Niệm trú này nói chung chỉ là một, đó là một tự tánh của Tuệ trong tâm sở, Tuệ căn trong Căn, Tuệ lực trong Lực, Trạch pháp giác chi trong Giác chi, Chánh kiến trong Đạo chi. Hoặc là phân làm hai, đó là hữu lậu-vô lậu. Hoặc là phân làm ba, đó là hạ-trung-thượng. Hoặc là phân làm bốn, đó là hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc. Hoặc là phân làm năm, đó là hệ thuộc ba cõi và Học-Vô học. Cho đến nếu dùng sát-na nối tiếp nhau để phân biệt sai khác thì có vô lượng.

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn ở trong nghĩa này, ít thì tách ra-nhiều thì hợp lại, chỉ nói là bốn loại?

Đáp: Đức Phật dựa vào hành tướng-sở duyên của Chánh tuệ, thôtế không giống nhau mà kiến lập bốn loại.

Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao trong kinh nói quán xét trong- ngoài đều có mười hai loại khác nhau?

Đáp: Không vượt quá bốn cho nên chỉ nói bốn loại. Như cây bảy lá- Dự Lưu bảy đời, pháp ấy cũng như vậy.

Hỏi: Thể này là Tuệ, vì sao Đức Thế Tôn nói là Niệm trú?

Đáp: Tuệ do Niệm lực mà có thể trú trong sở duyên, cho nên gọi là Niệm trú; hoặc là Tuệ lực này khiến cho Niệm trú trong cảnh, cho nên gọi là Niệm trú. Hai loại này đối với cảnh lần lượt chuyển đổi giúp đỡ nhau mạnh hơn pháp khác, cho nên nói là Niệm trú. Giải thích rộng về Niệm trú, như nơi khác nói.

Bốn Chánh đoạn:

1. Đối với pháp ác bất thiện đã sinh làm cho phải đoạn trừ, phát sinh mong muốn thiết tha-thâu nhiếp tâm-giữ gìn tâm.

2. Đối với pháp ác bất thiện chưa sinh làm cho không sinh ra, còn lại nói như trước.

3. Đối với pháp thiện chưa sinh làm cho phải sinh ra, còn lại nói như trước.

4. Đối với pháp thiện đã sinh làm cho được an trú không quên, tu dưỡng thêm làm cho tăng rộng, còn lại nói như trước.

Nhưng Chánh đoạn này nói chung làm một, đó là một Thể của Tinh tiến trong tâm sở, Tinh tiến căn trong Căn, Tinh tiến lực trong Lực, Tinh tiến giác chi trong Giác chi, Chánh tinh tiến trong Đạo chi. Hoặc là phân làm hai, đó là hữu lậu-vô lậu. Hoặc là phân làm ba, đó là hạtrung-thượng. Hoặc là phân làm bốn, đó là hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc. Hoặc là phân làm năm, đó là hệ thuộc ba cõi và Học-Vô học. Cho đến nếu dùng sát-na nối tiếp nhau để phân biệt sai khác thì có vô lượng.

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn ở trong nghĩa này, ít thì tách ra-nhiều thì hợp lại, chỉ nói là bốn loại?

Đáp: Một Thể của Tinh tiến ở trong sát-na, có tác dụng không giống nhau mà kiến lập bốn loại, nghĩa là bởi vì đối với pháp ác đã sinh-chưa sinh thì đoạn trừ và không sinh ra, lại bởi vì đối với pháp thiện chưa sinh-đã sinh thì sinh ra và làm tăng rộng. Như ngọn đèn trong một niệm có bốn tác dụng sai biệt, đó là bấc đèn cháy-dầu khô cạn-đồ đựng nóng lên-bóng tối không còn; pháp ấy cũng như vậy.

Hỏi: Luận về Pháp Uẩn… nói: “Đoạn trừ pháp ác bất thiện đã sinh, thì có đủ bốn loại, nghĩa là đối với pháp ác bất thiện đã sinh làm cho phải đoạn trừ, phát sinh mong muốn thiết tha-thâu nhiếp tâm-giữ gìn tâm, đó là phần vị đoạn trừ pháp ác bất thiện đã sinh, cũng có thể làm cho pháp ác bất thiện ấy chưa sinh sẽ không sinh ra, lại làm cho pháp thiện chưa sinh sẽ được sinh ra-đã sinh thì an trú… Cho đến nói là tu pháp thiện đã sinh làm cho an trú… cũng có đủ bốn loại, nghĩa là đối với pháp thiện đã sinh làm cho được an trú không quên, tu dưỡng thêm làm cho tăng rộng, phát sinh mong muốn thiết tha-thâu nhiếp tâm-giữ gìn tâm, đó là phần vị tu dưỡng các pháp thiện đã sinh, cũng có thể làm cho pháp ác bất thiện đã sinh ấy phải đoạn trừ, chưa sinh sẽ không sinh ra, lại làm cho pháp thiện chưa sinh sẽ được sinh ra.” Như vậy thì thành mười sáu Chánh đoạn, vì sao ở đây chỉ nói là bốn?

Đáp: Dựa vào ý thích của người tu hành, đến phần vị gia hạnh cho nên đưa ra cách nói này, nghĩa là người ấy vào lúc trước đây khởi lên một ý thích, đến phần vị gia hạnh thì có đủ bốn loại. Như vậy dựa vào bốn loại ý thích ấy, đến phần vị gia hạnh cho nên đưa ra cách nói này. Nhưng lúc gia hạnh cũng chỉ có bốn loại, bởi vì không vượt quá bốn cho nên chỉ nói bốn loại. Như do ý thích gia hạnh mà nói, như vậy do tiến vào gia hạnh mà nói, do dựa vào gia hạnh mà nói, do thắng giải gia hạnh mà nói, nên biết cũng như vậy.

Đã nói về tự tánh, nay sẽ nói đến nguyên cớ. Hỏi: Bốn loại này vì sao nói là Chánh đoạn?

Đáp: Bởi vì bốn loại này có năng lực đoạn trừ đích thực.

Hỏi: Hai loại trước thì có thể như vậy, hai loại sau thì thế nào?

Đáp: Lấy loại đầu làm tên gọi, cho nên không có gì sai. Hoặc là bốn loại này đều có nghĩa của Đoạn, đó là hai loại trước đoạn bỏ chướng ngại của phiền não, hai loại sau đoạn bỏ chướng ngại của hiểu biết, bởi vì lúc tu pháp thiện thì đoạn bỏ sự hiểu biết về pháp, cho nên tạm thời Đoạn-vĩnh viễn Đoạn đều gọi là Đoạn. Có nơi nói loại này gọi là Chánh thắng, bởi vì thúc đẩy phát khởi không trái ngược để thành tựu việc làm tốt đẹp.

Hỏi: Ác và bất thiện sai biệt thế nào?

Đáp: Ác nghĩa là hữu phú vô ký, bất thiện nghĩa là các loại bất thiện.

Có người đưa ra cách nói này: Ác nghĩa là pháp nhiễm phần ít của cõi Dục và cõi Sắc-Vô sắc, bất thiện nghĩa là pháp nhiễm phần nhiều của cõi Dục.

Có người nói: Ác nghĩa là Thân kiến-Biên kiến của cõi Dục, bất thiện nghĩa là các phiền não khác của cõi Dục.

Hỏi: Vì sao pháp ác bất thiện đã sinh thì nói là làm cho đoạn trừ, chưa sinh thì nói là làm cho không sinh ra?

Đáp: Đã sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì đã có tác dụng cho nên nói là làm cho đoạn trừ; chưa sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì chưa có tác dụng cho nên nói là làm cho không sinh ra.

Có người nói: Đã sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì đã ngăn cản Thánh đạo cho nên nói là làm cho đoạn trừ; chưa sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì chưa ngăn cản Thánh đạo cho nên nói là làm cho không sinh ra.

Có người nói: Đã sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì đã chọn lấy quả-mang lại quả cho nên nói là làm cho đoạn trừ; chưa sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì chưa chọn lấy quảmang lại quả cho nên nói là làm cho không sinh ra.

Có người nói: Đã sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì đã chọn lấy quả Đẳng lưu-quả Dị thục cho nên nói là làm cho đoạn trừ; chưa sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì chưa chọn lấy quả Đẳng lưu-quả Dị thục cho nên nói là làm cho không sinh ra.

Có người nói: Đã sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì đã đền đáp với nhân Đồng loại-Biến hành cho nên nói là làm cho đoạn trừ; chưa sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì chưa đền đáp với nhân Đồng loại-Biến hành cho nên nói là làm cho không sinh ra.

Có người nói: Đã sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì đã đốt cháy-đã não hại cho nên nói là làm cho đoạn trừ; chưa sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì chưa đốt cháy-chưa não hại cho nên nói là làm cho không sinh ra.

Có người nói: Đã sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, đã làm thành chê trách, đã làm thành dơ bẩn, đã làm thành dính mắc, đã rơi vào ác ý, cho nên nói là làm cho đoạn trừ; chưa sinh là đối với sự nối tiếp nhau của mình, bởi vì chưa làm thành chê trách, chưa làm thành dơ bẩn, chưa làm thành dính mắc, chưa rơi vào ác ý, cho nên nói là làm cho không sinh ra.

Hỏi: Những pháp thiện đã tu, hễ sinh ra bao nhiêu thì diệt đi bấy nhiêu, không có pháp nào sinh rồi mà có nghĩa dừng lại quá một sát-na, làm sao lại nói là đối với pháp thiện đã sinh làm cho được an trú không quên, tu dưỡng thêm làm cho tăng rộng?

Đáp: Nên biết trong này nói về pháp thiện thuộc hai phần, đó là phần thuận theo Trú, phần thuận theo Thắng tiến. Làm cho được an trú không quên là nói về phần thuận theo Trú, khiến tu dưỡng thêm làm cho tăng rộng là nói về phần thuận theo Thắng tiến, cùng dựa vào sự nối tiếp nhau lần lượt chuyển đổi thắng tiến mà nói là an trú…, cho nên không có gì sai.

Có người nói: Trong này nói về pháp thiện thuộc ba phẩm, đó là Hạ-Trung-Thượng. Làm cho được an trú không quên, là nói dựa vào căn thiện thuộc phẩm Hạ chuyển đến phẩm Trung; khiến tu dưỡng thêm làm cho tăng rộng, là nói dựa vào căn thiện thuộc phẩm Trung chuyển đến phẩm Thượng. Tuy một sát-na sinh rồi liền diệt, mà dựa vào sự nối tiếp nhau cho nên đưa cách nói này.

Chánh đoạn này ở cõi Dục có bốn, ở cõi Sắc-Vô sắc cũng như vậy.

Hỏi: Cõi Dục có pháp ác bất thiện thì có thể nói là có bốn, vì sao cõi trên cũng nói là bốn?

Đáp: Cõi ấy tuy lỗi lầm tai họa không đầy đủ, mà có đủ công đức của cõi ấy.

Có người nói: Cõi ấy tuy không có sự đối trị thụ động mà có sự đối trị tự động.

Hỏi: Địa Vị chí thì có thể như vậy, địa trên thì thế nào?

Đáp: Có nhiều loại đối trị, nghĩa là đối trị thuộc về xả bỏ, đối trị thuộc về đoạn trừ, đối trị thuộc về giữ gìn, đối trị thuộc về phần xa, đối trị thuộc về chán ngán hư hoại; địa trên tuy không có đối trị thuộc về xả bỏ và đoạn trừ, mà có những đối trị khác.

Hỏi: Tĩnh lự thì có thể như vậy, Vô sắc thì thế nào?

Đáp: Vô sắc tuy không có đối trị thuộc về hư hoại, mà có đối trị thuộc về giữ gìn và phần xa.

Chánh đoạn này ở phần vị Học-Vô học đều có đủ bốn loại.

Hỏi: Phần vị Học thì có thể như vậy, bởi vì có pháp ác bất thiện, phần vị Vô học thì thế nào?

Đáp: Phần vị Vô học tuy không có lỗi lầm tai họa mà có công đức.

Có người nói: Phần vị Vô học tuy không có sự đối trị thụ động mà có sự đối trị tự động, đó là nhiều loại đối trị như trước nói, phần vị Vô học tuy không có đối trị thuộc về xả bỏ và đoạn trừ, mà có những loại khác.

Hỏi: Duyên với Niết-bàn thì Tinh tiến thuộc về Chánh đoạn nào?

Đáp: Có người nói: Thuộc về Chánh đoạn thứ nhất, bởi vì Đoạn tức là Niết-bàn.

Có người nói: Thuộc về Chánh đoạn thứ hai, bởi vì Niết-bàn là không sinh.

Có người nói: Thuộc về Chánh đoạn thứ ba, bởi vì lúc duyên với Niết-bàn thì pháp thiện phát sinh.

Có người nói: Thuộc về Chánh đoạn thứ tư, bởi vì lúc duyên với Niết-bàn thì pháp thiện tăng thêm.

Nói như vậy thì thuộc về bốn Chánh đoạn, bởi vì lúc duyên với Niết-bàn thì làm thành bốn sự việc, đó là lúc duyên với tánh Trạch diệt của các pháp, thì khiến cho tất cả các pháp ác bất thiện đã sinh phải đoạn trừ, chưa sinh thì sẽ không sinh ra, và khiến cho tất cả các pháp thiện thuộc thế gian-xuất thế gian chưa sinh thì sẽ sinh ra, đã sinh thì sẽ tăng rộng.

Bốn Thần túc:

  1. Tam-ma-địa về Dục đoạn hành thành tựu thần túc.
  2. Tam-ma-địa về Cần đoạn hành thành tựu thần túc.
  3. Tam-ma-địa về Tâm đoạn hành thành tựu thần túc.
  4. Tam-ma-địa về Quán đoạn hành thành tựu thần túc.

Hỏi: Vì sao gọi là Thần, vì sao gọi là Túc?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Tam-ma-địa gọi là Thần, bốn pháp như Dục… gọi là Túc. Bởi vì nhờ vào bốn pháp mà thâu nhiếp tiếp nhận làm cho Tam-ma-địa chuyển biến.

Hỏi: Đẳng trì cùng có nhiều pháp tương ưng, vì sao chỉ có bốn pháp này gọi là Thần túc?

Đáp: Bởi vì bốn pháp này đối với Đẳng trì tùy thuận mạnh hơn, nghĩa là ở trong pháp tương ưng cùng có, giúp đỡ thêm cho Đẳng trì thì bốn pháp này là mạnh hơn.

Lại có người nói: Tam-ma-địa là Thần cũng là Túc, bốn pháp như Dục… chỉ là Túc chứ không phải là Thần. Như Trạch pháp là Giác cũng là Chi, sáu pháp còn lại chỉ là Chi chứ không phải là Giác; Chánh kiến là Đạo cũng là Chi, bảy pháp còn lại là Chi chứ không phải là Đạo; lìa bỏ ăn không đúng lúc là Trai cũng là Chi, bảy pháp còn lại là Chi chứ không phải là Trai; pháp ấy cũng như vậy.

Hỏi: Nếu Tam-ma-địa là Thần cũng là Túc thì hoặc là nên thiết lập một, hoặc là nên thiết lập năm, vì sao nói là bốn?

Đáp: Chỉ riêng Tam-ma-địa thiết lập làm Thần túc, bởi vì từ bốn nhân mà sinh ra cho nên nói là bốn, nghĩa là phần vị gia hạnh, hoặc là do lực của Dục dẫn dắt phát khởi Đẳng trì khiến cho nó hiện khởi, nói rộng ra cho đến hoặc là do lực của Quán dẫn dắt khiến cho hiện khởi. Do phần vị gia hạnh mà bốn pháp tăng theo, khiến cho Đẳng trì phát khởi mà đạt được phần vị của Định, cho nên đối với một Đẳng trì kiến lập bốn loại.

Đã nói về tự tánh, nay sẽ nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Bốn pháp này vì sao nói là Thần túc?

Đáp: Là do sự suy nghĩ cầu mong các nguyện ước mong muốn, tất cả được như ý cho nên gọi là Thần, dẫn dắt phát khởi do Thần cho nên gọi là Thần túc. Nhưng sự Thần dụng này tóm lược có hai loại:

  1. Do sự vui mừng của thế tục.
  2. Do sự ưa thích của Thánh giả.

Nếu phân một làm nhiều, hợp nhiều thành một, thì những loại này gọi là do sự vui mừng của thế tục. Nếu đối với những sự việc vừa ý của thế gian, không trú vào Tưởng tùy thuận; đối với những sự việc không vừa ý của thế gian, không trú vào Tưởng trái ngược; đối với những sự việc vừa ý-không vừa ý, an trú vào Xả, suy nghĩ đúng đắn-nhận biết đúng đắn, thì những loại này gọi là do sự ưa thích của Hiền Thánh.

Lại có ba loại Thần dụng:

  1. Vận chuyển thân.
  2. Thắng giải.
  3. Thế lực của ý.

Thần dụng của sự vận chuyển thân, đó là toàn thân vút lên hư không giống như chim bay, cũng như Tiên bay đã họa trên bức tường. Thần dụng của sự thắng giải, đó là đối với xa tách ra làm thành gần, nhờ vào lực của pháp này; hoặc là ở châu này đưa tay sờ mặt trăng-mặt trời, hoặc là trong khoảng co duỗi cánh tay đã đi đến cõi trời Sắc Cứu Cánh. Thần dụng do thế lực của ý, đó là Nhãn thức lên đến cõi Hữu Đảnh, hoặc là lên đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, hoặc là vượt ngang qua vô số thế giới.

Hỏi: Ba loại Thần dụng này, ai thành tựu mấy loại?

Đáp: Có người nói: Thanh văn thành tựu một loại, đó là vận chuyển thân; Độc giác thành tựu hai loại, trừ ra thế lực của ý; chỉ riêng Phật Thế Tôn thành tựu đầy đủ ba loại.

Có người nói: Dị sinh thành tựu một loại, đó là vận chuyển thân; Nhị thừa thành tựu hai loại, trừ ra thế lực của ý, nhưng Thanh văn do vận chuyển thân mà hiện bày, Độc giác do ý hiểu rõ mà hiển bày; Phật thành tựu đầy đủ ba loại, do thế lực của ý mà hiển bày.

Hoặc lại có năm loại Thần dụng:

  1. Nghiệp.
  2. Dị thục.
  3. Biến hiện.
  4. Đức đầy đủ.
  5. Phát tâm.

Thần dụng của nghiệp, đó là như Trung hữu… Thần dụng của dị thục, đó là như các loài chim bay… Thần dụng của biến hiện, đó là dựa vào Tĩnh lự, phân một làm nhiều, hợp nhiều làm một… Thần dụng của đức đầy đủ, đó là bốn Thần túc. Thần dụng của phát tâm, đó là trời rồng…

Trong này, trời đó là trời cõi Dục. Ở trong năm loại Thần dụng đã nói, trong này nói về Thần dụng của đức đầy đủ.

Như trong kinh nói: “Tỳ kheo nên biết, Tam-ma-địa về Dục đoạn hành thành tựu tu đối với Thần túc, dựa vào lìa xa, dựa vào không nhiễm, dựa vào diệt, hồi hướng về xả. Tam-ma-địa về Cần, Tam-ma-địa về Tâm, Tam-ma-địa về Quán, nói cũng như vậy.” Hỏi: Trong này nói thế nào gọi là lìa xa…?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Là Tam-ma-địa. Người ấy nói nếu duyên với Tam-ma-địa làm cảnh để tu đối với Thần túc, thì do hai duyên cho nên gọi là dựa vào lìa xa…, đó là bởi vì ý thích và bởi vì sở duyên. Nếu duyên với pháp khác làm cảnh để tu đối với Thần túc, thì chỉ do một duyên mà gọi là lìa xa, đó là bởi vì ý thích chứ không phải là bởi vì sở duyên.

Có Sư khác nói: Là Niết-bàn tịch diệt. Vị ấy nói nếu duyên với Niết-bàn tịch diệt làm cảnh để tu đối với Thần túc, thì do hai duyên cho nên gọi là dựa vào lìa xa…, đó là bởi vì ý thích và bởi vì sở duyên. Nếu duyên với pháp khác làm cảnh để tu đối với Thần túc, thì chỉ do một duyên mà gọi là dựa vào lìa xa …, đó là bởi vì ý thích chứ không phải là bởi vì sở duyên.

Lại có người nói: Là Tam-ma-địa và Niết-bàn tịch diệt. Người ấy nói nếu duyên với hai pháp này làm cảnh để tu đối với Thần túc, thì do hai duyên cho nên gọi là lìa xa…, đó là bởi vì ý thích và bởi vì sở duyên. Nếu duyên với pháp khác làm cảnh để tu đối với Thần túc, thì chỉ do một duyên mà gọi là lìa xa…, đó là bởi vì ý thích chứ không phải là bởi vì sở duyên.

Nên biết trong này, dựa vào lìa xa đó là Tĩnh lự thứ nhất, dựa vào không nhiễm đó là Tĩnh lự thứ hai, dựa vào diệt đó là Tĩnh lự thứ ba, hồi hướng về xả đó là Tĩnh lự thứ tư.

Như trong kinh nói: “Tỳ kheo nên biết, như thế nào gọi là Thọ(tuổi thọ)? Đó là bốn Thần túc.”

Hỏi: Vì sao Thần túc lại nói là Thọ?

Đáp: Bởi vì pháp này là dựa vào Thọ không đoạn dứt, nghĩa là ở phần vị của Định thì Thọ chắc chắn không có đoạn dứt.

Có người nói: Bởi vì dựa vào pháp này lìa xa tai họa của Thọ, nghĩa là ở phần vị của Định thì lìa xa tai họa của Thọ.

Có người nói: Bởi vì dựa vào pháp này mà Thọ tự tại. Như trong kinh nói: “Nếu có Tỳ kheo-Tỳ kheo ni…, đối với bốn Thần túc hoặc tập- hoặc tu- hoặc tu tập nhiều, nếu người ấy mong cầu trú trong tuổi thọ một kiếp hoặc là hơn một kiếp, thì sẽ tùy ý tự tại.” Vì vậy cho nên nói Thần túc là Thọ.

Như trong kinh nói: “Có một Phạm Chí, đi đến chỗ của Tôn giả A-nan-đà, dùng nhiều lời nói thân thiện hoan hỷ thăm hỏi xong, lùi về ngồi một bên, hỏi A-nan rằng: Vì sao ở nơi Sa-môn Kiều-đáp-ma thường xuyên tu phạm hạnh?”

Hỏi: Vì sao Phạm Chí đưa ra câu hỏi này?

Đáp: Phạm Chí ấy là bạn thân thời xưa của A-nan, biết rõ Tôn giả là người thuộc về hành ái, trước kia ở trong năm dục luôn luôn đắm say, cho nên đến thử xem là vì cầu đoạn bỏ ái mà tu phạm hạnh, hay là vì cầu dục lạc thù thắng mà tu phạm hạnh, vì vậy đưa ra câu hỏi ấy.

“A-nan trả lời rằng: Tôi vì đoạn bỏ ái cho nên thường xuyên tu phạm hạnh ở nơi Đức Phật.”

Hỏi: Thường xuyên tu phạm hạnh thì đoạn bỏ bảy tùy miên, vì sao chỉ nói là tôi vì đoạn bỏ ái?

Đáp: Tôn giả Khánh Hỷ cũng biết Phạm Chí là người thuộc về hành ái, đắm say các dục, bởi vì đưa đường dẫn lối, cho nên có ý nói nếu ông bị sự ràng buộc của ái mà muốn cầu lìa xa, thì hãy rời bỏ phép tắc trong gia đình họ hàng, đến nơi Đức Thế Tôn theo tôi thường xuyên tu phạm hạnh thanh tịnh. Vì vậy phương tiện trả lời là tôi vì đoạn bỏ ái.

“Bà-la-môn nói: Sa-môn Kiều-đáp-ma thật sự có dấu tích của Đạo có thể đoạn bỏ ái hay không? A-nan-đà nói: Thật sự có, đừng nghi ngờ, nếu ông đến tu thì nhất định có thể đoạn bỏ ái. Phạm Chí thỉnh cầu: Mong nói cho nghe điều ấy, khiến tâm tôi mở mang thì sẽ nghe theo lời khuyên. Tôn giả nói cho biết rằng: Chỉ có Đức Thế Tôn của tôi, thấy biết đúng như thật nói về bốn Thần túc, dựa vào đó tu tập sẽ mau chóng lìa xa sự ràng buộc của ái.”

Hỏi: Nếu có người nào có thể đối với ba mươi bảy loại pháp phần Bồ-đề như bốn Niệm trú…, tùy theo một loại mà tu tập thì đều có thể đoạn bỏ ái, vì sao chỉ nói là tu bốn Thần túc?

Đáp: Bởi vì pháp này là đối trị gần của Kiết ái, đó là người có ái thì rong ruổi phân tán các duyên, Đẳng trì có thể làm đối trị gần của Kiết ấy.

“Phạm Chí lại nói: Như Nhân giả đã nói Thần túc vô biên, thì tu làm sao có thể hết được?”

Hỏi: Vì sao Phạm Chí đưa ra lời nói này?

Đáp: Ý của Phạm Chí nói Thể của bốn Thần túc này có khắp các phần vị Học-Vô học, pháp ấy chính là tu vô biên thì làm sao có thể tu hết được, nếu không hết thì làm sao có thể đoạn bỏ ái?

“A-nan lại nói: Pháp này không phải là vô biên. Phạm Chí lại nói: Xin giải thích nói rõ cho nghe. A-nan bảo rằng: Nay tôi hỏi ông có thể tùy ý trả lời, ý ông nghĩ thế nào? Ông đã từng nảy sinh mong muốn đi vào khu vườn dạo chơi phải không? Phạm Chí nói không sai. Lại hỏi: Đi vào khu vườn đã dạo chơi ngắm nhìn rồi nảy sinh mong muốn quay về phải không? Phạm Chí nói không sai. Lại hỏi: Mong muốn đã nảy sinh trong hai thời gian lẽ nào không có khác nhau? Phạm Chí nói không sai. Tôn giả bảo rằng: Như ông nảy sinh mong muốn trong hai thời gian có khác nhau, một là mong muốn đi vào khu vườn, hai là mong muốn quay trở ra, như vậy Thần túc ở phần vị Học-Vô học, tất cả cũng không giống nhau, pháp tu của phần vị Học là mong muốn đoạn bỏ ái, pháp tu của phần vị Vô học là niềm vui trong pháp hiện tại, tùy theo pháp tu khác nhau chứ không phải nói là vô biên, vì sao Phạm Chí nói là tu không hết? Phạm Chí nghe rồi hoan hỷ phát tâm thuần tịnh, quay về xuất gia theo Đức Phật tu phạm hạnh.”

Năm Căn, đó là Tín căn-Tinh tiến căn-Niệm căn-Định căn và Tuệ căn. Năm Lực cũng như vậy. Năm pháp này tùy theo tên gọi, tức là đều lấy một loại trong tâm sở làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao năm loại này gọi là Căn, gọi là Lực?

Đáp: Có thể sinh ra pháp thiện cho nên gọi là Căn, có thể phá bỏ pháp ác cho nên gọi là Lực.

Có người nói: Không có thể làm cho nghiêng ngã thì gọi là Căn, có thể phá hủy lấn át loại khác thì gọi là Lực.

Có người nói: Nghĩa về thế dụng tăng mạnh lên gọi là Căn, nghĩa về không thể nào khuất phục gọi là Lực. Nếu dùng phần vị để phân biệt thì phần vị dưới gọi là Căn, phần vị trên gọi là Lực. Nếu dùng Thật nghĩa thì trong mỗi phần vị đều có đủ hai loại. Giải thích rộng về hai loại này như nơi khác nói.

Bảy Giác chi:

  1. Niệm giác chi.
  2. Trạch pháp giác chi.
  3. Tinh tiến giác chi.
  4. Hỷ giác chi.
  5. Khinh an giác chi.
  6. Định giác chi.
  7. Xả giác chi.

Trạch pháp tức là Tuệ, Hỷ tức là Hỷ căn, Xả gọi là Hành xả, bốn pháp còn lại như tên gọi tức là đều lấy một loại trong tâm sở làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao bảy loại này gọi là Giác chi?

Đáp: Giác đó là Giác cứu cánh, tức là Tận trí-Vô sinh trí; hoặc là Giác như thật, tức là Tuệ vô lậu. Bảy là thành phần của pháp ấy, cho nên gọi là Chi. Trạch pháp cũng là Giác-cũng là Chi, sáu pháp còn lại là Chi chứ không phải là Giác. Giải thích rộng về bảy loại này như nơi khác nói.

Tám Đạo chi, đó là Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tiến, Chánh niệm, Chánh định.

Chánh kiến tức là Tuệ, Chánh tư duy tức là Tầm, Chánh ngữChánh nghiệp-Chánh mạng tức là ba căn tùy tâm chuyển mà phát khởi Vô biểu của thân-ngữ. Ba loại còn lại như tên gọi tức là tánh thuộc tâm sở.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao tám loại này gọi là Đạo chi?

Đáp: Nơi đi lại thông suốt cho nên gọi là Đạo. Tám là thành phần của pháp ấy cho nên gọi là Chi. Chánh kiến cũng là Đạo-cũng là Chi, bảy pháp còn lại là Chi chứ không phải là Đạo. Tám loại này cũng như nơi khác nói rộng ra.

Bốn Tĩnh lự, đó là Tĩnh lự thứ nhất cho đến Tĩnh lự thứ tư.

Có người nói: Tĩnh lự tương ưng với Tầm-Hỷ-Lạc-Xả, như thứ tự là bốn. Pháp này có hai loại:

  1. Tu đạt được.
  2. Sinh đạt được.

Tu đạt được, tức là địa ấy thâu nhiếp tâm vào tánh của một cảnh, nếu cùng với bạn bè giúp đỡ thì năm uẩn làm tánh. Sinh đạt được, là tùy theo địa đã hệ thuộc năm uẩn khác làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Bốn loại này vì sao nói là Tĩnh lự?

Đáp: Tĩnh nghĩa là yên lặng vắng vẻ, Lự nghĩa là suy nghĩ tính toán. Trong bốn địa này có Định-Tuệ bình đẳng cho nên gọi là Tĩnh lự, địa khác hễ có thiếu hụt thì không có được tên gọi này. Bốn loại này phân biệt rộng như nơi khác nói

Bốn Vô lượng, đó là Từ-Bi-Hỷ-Xả. Từ nghĩa là tác ý tương ưng với mang lại niềm vui, lấy căn thiện không có Sân làm tánh. Bi nghĩa là tác ý tương ưng với trừ bỏ khổ đau, lấy căn thiện không có Sân làm tánh. Có người nói: Lấy không Hại làm tánh. Hỷ nghĩa là tác ý tương ưng với thăm hỏi chúc mừng, lấy Hỷ căn làm tánh. Có người nói: Lấy vui mừng(hân) trong tâm sở thiện làm tự tánh. Xả nghĩa là tác ý tương ưng với bình đẳng, lấy căn thiện không có Tham làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao gọi là Vô lượng?

Đáp: Bởi vì bốn loại này duyên với vô lượng hữu tình, phát sinh vô lượng pháp thiện, dẫn đến vô lượng quả thù thắng. Nói rộng về bốn loại này, cũng như nơi khác nói.

Bốn Vô sắc, đó là Không vô biên xứ, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Pháp này cũng có hai loại:

  1. Tu đạt được.
  2. Sinh đạt được.

Tu đạt được, tức là địa ấy thâu nhiếp tâm vào tánh của một cảnh, nếu cùng với bạn bè giúp đỡ thì bốn uẩn làm tánh. Sinh đạt được, tức là địa ấy hệ thuộc bốn uẩn khác làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao bốn loại này gọi là Vô sắc?

Đáp: Bởi vì trong bốn địa này vượt lên trên tất cả các pháp có sắc, làm tổn hại đến tất cả các pháp có sắc, pháp có sắc ở địa này không có thể sinh khởi cho nên gọi là Vô sắc. Bốn loại này cũng như nơi khác nói rộng ra.

Tám Giải thoát:

  1. Bên trong có sắc quán các sắc giải thoát.
  2. Bên trong không có sắc tưởng quán sắc bên ngoài giải thoát.
  3. Tịnh giải thoát Thân tác chứng cụ túc trú.
  4. Không vô biên xứ giải thoát.
  5. Thức vô biên xứ giải thoát.
  6. Vô sở hữu xứ giải thoát.
  7. Phi tưởng phi phi tưởng giải thoát.
  8. Diệt thọ tưởng giải thoát Thân tác chứng cụ túc trú.

Trong này, ba loại trước lấy căn thiện không có Tham làm tánh, nếu cùng với bạn bè giúp đỡ thì năm uẩn làm tánh; bốn loại tiếp theo thì lấy bốn uẩn thiện gia hạnh của địa Căn bản ấy làm tánh. Có người nói: Cũng lấy tám đạo giải thoát trước của địa Cận phần ấy làm tánh.

Giải thoát cuối cùng lấy Đẳng chí Diệt tận làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao gọi là Giải thoát?

Đáp: Bởi vì giải thoát tất cả những gì có thể ngăn cản. Nghĩa còn lại như nơi khác nói rộng ra.

Tám Thắng xứ:

1. Bên trong có tưởng về sắc quán ít sắc bên ngoài, cho đến nói rộng ra.

2. Bên trong có tưởng về sắc quán nhiều sắc bên ngoài, cho đến nói rộng ra.

3. Bên trong không có tưởng về sắc quán ít sắc bên ngoài, cho đến nói rộng ra.

4. Bên trong không có tưởng về sắc quán nhiều sắc bên ngoài, cho đến nói rộng ra; quán về xanh-vàng-đỏ-trắng, lại làm thành bốn loại.

Tám loại này đều lấy căn thiện không có Tham làm tánh, cho đến cùng với bạn bè giúp đỡ thì năm uẩn làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao gọi là Thắng xứ?

Đáp: Bởi vì làm cho sở duyên phải hàng phục và hủy diệt tham ái, cho nên gọi là Thắng xứ. Nghĩa phân biệt rộng ra như nơi khác nói.

Mười Biến xứ, đó là quán phân biệt về xanh-vàng-đỏ-trắng-địathủy-hỏa-phong, tức là tám loại trước, chín là Không vô biên xứ, mười là Thức vô biên xứ.

Trong này, tám loại trước lấy căn thiện không có Tham làm tánh, nếu cùng với bạn bè giúp đỡ thì năm uẩn làm tánh; hai Biến xứ sau thì lấy bốn uẩn thiện gia hạnh hữu lậu của địa ấy cùng phẩm Thắng giải ấy làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao gọi là Biến xứ?

Đáp: Sở duyên rộng khắp, Thắng giải vô biên cho nên gọi là Biến xứ. Nghĩa còn lại như nơi khác nói.

Tám Trí, đó là Pháp trí, Loại trí, Thế tục trí, Tha tâm trí, Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, Đạo trí; không phải là Tận trí và Vô sinh trí, bởi vì phần vị hạn chế.

Tám Trí này đều lấy Tuệ trong tâm sở pháp làm tự tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao gọi là Trí?

Đáp: Quán xét quyết định đối với pháp sở duyên, cho nên gọi là Trí. Nghĩa còn lại như nơi khác nói rộng ra.

Ba Đẳng trì:

  1. Không.
  2. Vô nguyện.
  3. Vô tướng.

Ba loại này đều lấy Tam-ma-địa trong tâm sở pháp làm tánh, gồm chung hữu lậu và vô lậu.

Trong này chỉ nói đến môn giải thoát vô lậu. Nếu đi cùng hai hành tướng là Không-Vô ngã, thì Đẳng trì vô lậu gọi là Tam-ma-địa Không. Nếu đi cùng mười hành tướng là Vô thường-Khổ-Nhân-TậpSinh-Duyên-Đạo-Như-Hành-Xuất,thì Đẳng trì vô lậu gọi là Tam-mađịa Vô nguyện. Nếu đi cùng bốn hành tướng là Diệt-Tĩnh-Diệu-Ly, thì Đẳng trì vô lậu gọi là Tam-ma-địa Vô tướng.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao gọi là Đẳng trì?

Đáp: Giữ gìn tâm bình đẳng khiến cho tập trung vào một cảnh, bởi vì có sự thành tựu cho nên gọi là Đẳng trì. Nói rộng về ba loại này, như nơi khác phân tích.

Bốn quả Sa-môn:

  1. Quả Dự lưu.
  2. Quả Nhất lai.
  3. Quả Bất hoàn.
  4. Quả A-la-hán.

Bốn quả này đều lấy hai pháp làm tánh:

  1. Vô vi.
  2. Hữu vi.

Quả vô vi, đó là quả Dự lưu dùng Đoạn-Trạch diệt do kiến mà đoạn của ba cõi làm tánh; quả Nhất lai dùng Đoạn do kiến mà đoạn của ba cõi, và Đoạn-Trạch diệt thuộc sáu phẩm trước do tu mà đoạn của cõi Dục làm tánh; quả Bất hoàn dùng Đoạn do kiến mà đoạn của ba cõi, và Đoạn-Trạch diệt do tu mà đoạn của cõi Dục làm tánh; quả A-la-hán dùng Đoạn-Trạch diệt do kiến-tu mà đoạn của ba cõi làm tánh.

Quả hữu vi, tùy theo sự thích hợp đều dùng năm uẩn vô lậu làm tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao gọi là quả Sa-môn?

Đáp: Dũng mãnh không ngừng trừ bỏ pháp nhiễm, đó gọi là Samôn; là do các Sa-môn đã dẫn đến-đã chứng được, đó gọi là quả Samôn. Loại này cũng như nơi khác nói rộng ra.

Năm Thông:

  1. Thần cảnh trí thông.
  2. Thiên nhãn trí thông.
  3. Thiên nhĩ trí thông.
  4. Tha tâm trí thông.
  5. Túc trú tùy niệm trí thông.

Năm loại này đều dùng Tuệ làm tự tánh.

Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ.

Hỏi: Vì sao gọi là Thông?

Đáp: Bởi vì đối với sở duyên của mình thông hiểu rõ ràng không trái ngược, hoạt dụng vi diệu không ngăn ngại gì cho nên gọi là Thông.

Cõi, bốn loại chỉ hệ thuộc cõi Sắc, Tha tâm trí thông hệ thuộc cõi Sắc và không hệ thuộc.

Địa, thì thuộc về địa Căn bản của bốn Tĩnh lự, không phải là Cận phần, không phải là Vô sắc. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu địa có Tamma-địa thù thắng làm sở y của năm Thông, thì địa ấy có năm Thông; Cận phần và Vô sắc không có Tam-ma-địa thù thắng làm sở y của năm Thông, vì vậy ở đó không có các Thông này.

Có người nói: Nếu địa có Xa-ma-tha và Tỳ-bát-xá-na thâu nhiếp tiếp nhận bình đẳng, thì địa ấy có năm Thông; Cận phần và Vô sắc thiếu đi một loại tùy theo, cho nên không có năm Thông.

Sở y, đều dựa vào cõi Dục-Sắc.

Hành tướng, bốn loại chỉ là hành tướng không rõ ràng; Tha tâm trí thông, nếu như hữu lậu thì cũng là hành tướng không rõ ràng, nếu là vô lậu thì làm bốn hành tướng của Đạo.

Sở duyên, Thần cảnh trí thông duyên với cõi Dục-Sắc, hoặc là bốn Xứ, hoặc là hai Xứ; Thiên nhãn trí thông duyên với Sắc xứ của cõi Dục-Sắc; Thiên nhĩ trí thông duyên với Thanh xứ của cõi Dục-Sắc; Tha tâm trí thông duyên với tâm-tâm sở của cõi Dục-Sắc và không hệ thuộc; Túc trú tùy niệm trí thông duyên với năm uẩn của cõi Dục-Sắc.

Niệm trú, ba loại trước chỉ là Thân niệm trú, Tha tâm trí thông là ba Niệm trú trừ ra Thân, Túc trú tùy niệm trí thông chỉ là Pháp niệm trú.

Trí, bốn loại chỉ là Thế tục trí, Tha tâm trí thông nếu hữu lậu là Thế tục trí và Tha tâm trí, nếu vô lậu là Pháp trí-Loại trí-Đạo trí và Tha tâm trí.

Tam-ma-địa đi cùng, bốn loại không phải là Tam-ma-địa đi cùng, Tha tâm trí thông nếu hữu lậu thì cũng không phải là Tam-ma-địa đi cùng, nếu vô lậu thì đi cùng với Tam-ma-địa Vô nguyện thuộc Đạo.

Căn tương ưng, dựa vào chủng loại thì nói là tương ưng với ba căn, đó là Lạc căn-Hỷ căn và Xả căn.

Đời, năm loại đều rơi vào ba đời, bốn loại trước thì quá khứ duyên với quá khứ, hiện tại duyên với hiện tại, vị lai nếu sinh khởi thì duyên thì duyên với vị lai, không sinh khởi thì duyên với ba đời. Túc trú tùy niệm trí thông, quá khứ và hiện tại duyên với quá khứ, vị lai duyên với ba đời.

Thiện…, Thiên nhãn thông-Thiên nhĩ thông là vô ký duyên với ba loại, Thần cảnh trí thông là thiện thì duyên với vô ký, còn lại là thiện thì duyên với ba loại.

Hệ thuộc cõi Dục…, bốn loại là hệ thuộc cõi Sắc, duyên với hệ thuộc cõi Dục-Sắc; Tha tâm trí thông là hệ thuộc cõi Sắc và không hệ thuộc, duyên với hệ thuộc cõi Dục-Sắc và không hệ thuộc.

Học…, bốn loại là Phi học phi vô học, duyên với Phi học phi vô học; Tha tâm trí thông là Học-Vô học và Phi học phi vô học, duyên với Học-Vô học và Phi học phi vô học.

Do kiến mà đoạn…, ba loại là do tu mà đoạn, duyên với do tu mà đoạn; Tha tâm trí thông là do tu mà đoạn và không đoạn, duyên với do kiến-tu mà đoạn và không đoạn; Túc trú tùy niệm trí thông là do tu mà đoạn, duyên với do kiến-tu mà đoạn.

Duyên với danh-duyên với nghĩa, Túc trú tùy niệm trí thông duyên chung với danh và nghĩa, bốn loại còn lại chỉ duyên với nghĩa.

Duyên với Tự tương tục…, Tha tâm trí thông chỉ duyên với Tha tương tục, bốn loại còn lại duyên chung với Tự-Tha tương tục và Phi tương tục.

Về gia hạnh đắc và ly nhiễm đắc.

Hỏi: Năm Thông này là gia hạnh đạt được, hay là lìa nhiễm đạt được? Nếu gia hạnh đạt được thì chương Trí Uẩn đã nói làm sao thông hiểu? Như nói: “Nếu thành tựu Tha tâm trí hiện tại, thì cũng thành tựu quá khứ- vị lai chăng?

Đáp: Đúng như vậy.” Nếu lìa nhiễm đạt được thì trong Uẩn này nói làm sao thông hiểu? Như nói: “Dùng đạo vô gián chứng Thần cảnh trí thông, thì Niệm trú hiện tại tu một, vị lai tu bốn…, không phải là có vị lai tu khởi lên trước lúc đạt được.”

Đáp: Có người nói: Chỉ có gia hạnh đạt được.

Hỏi: Chương Trí Uẩn đã nói làm sao thông hiểu?

Đáp: Văn ấy nên đưa ra cách nói này: Nếu thành tựu Tha tâm trí hiện tại, thì vị lai nhất định thành tựu, quá khứ nếu đã diệt không mất thì thành tựu, nếu chưa hẳn đã diệt hoặc là đã diệt mà mất thì không thành tựu. Nhưng mà không nói như vậy, là bởi vì thế lực đã dẫn dắt cho nên trả lời tóm lược toàn bộ. Có người nói: Chỉ có lìa nhiễm đạt được.

Hỏi: Trong Uẩn này trước đây đã nói làm sao thông hiểu?

Đáp: Có người nói: Trở lại điều hòa luyện tập pháp phần Bồ-đề chứ không phải là bắt đầu đạt được tu, bởi vì lúc bấy giờ chỉ làm cho pháp đã đạt được trước đây chuyển sang rõ ràng hơn.

Nói như vậy thì đều gồm chung gia hạnh đạt được và lìa nhiễm đạt được, trong Uẩn này chỉ nói về gia hạnh đạt được, chương Trí Uẩn chỉ nói về lìa nhiễm đạt được. Như vậy thì làm cho hai cách nói dễ dàng thông suốt.

Có người nói: Ở trong sự lìa nhiễm đạt được ấy, có lúc đã từng luyện tập, có lúc chưa từng luyện tập, chương Trí Uẩn nói về đã từng luyện tập, trong Uẩn này nói về chưa từng luyện tập, như vậy cũng làm cho hai cách nói dễ dàng thông suốt.

Lìa nhiễm đạt được, đó là do Tĩnh lự thứ nhất đã dẫn dắt phát khởi, lúc lìa nhiễm của cõi Dục thì đạt được, cho đến do Tĩnh lự thứ tư đã dẫn dắt phát khởi, lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba thì đạt được. Nếu các Thánh giả và dị sinh ở thân đời sau, thì cùng đạt được đã từng luyện tập-chưa từng luyện tập, còn lại chỉ đạt được chưa từng luyện tập. Lìa nhiễm đạt được rồi gia hạnh hiện rõ trước mắt, Phật không có gia hạnh, Độc giác gia hạnh bậc Hạ, Thanh văn hoặc là bậc Trung-hoặc là bậc Thượng. Vả lại, tùy theo đạo giải thoát lúc lìa nhiễm, thì pháp do tu mà đạt được đều là lìa nhiễm đạt được, nếu ở lúc khác mà tu đạt được thì đều là gia hạnh đạt được.

Hỏi: Ở nơi nào khởi lên?

Đáp: Cõi Dục-Sắc đều có thể khởi lên, trong cõi Dục chỉ có người và trời. Trong loài người chỉ có ba châu, gồm chung thân nam-thân nữ, dị sinh-Thánh giả, Học và Vô học đều có thể hiện khởi.

Hỏi: Các Thông là đạo vô gián thâu nhiếp, hay là đạo giải thoát thâu nhiếp? Nếu như đạo vô gián thâu nhiếp, thì kinh đã nói làm sao thông hiểu? Như nói: “Phân một làm nhiều, hợp nhiều làm một”. Không phải là đạo vô gián trong một sát-na mà có sự việc như vậy. Nếu như đạo giải thoát thâu nhiếp, thì luận Phẩm Loại Túc nói nên thông hiểu thế nào? Như nói: “Thông là thế nào? Đó là Tuệ thiện.” Thiên nhãn thôngThiên nhĩ thông-đạo giải thoát, là Tuệ vô ký vì sao gọi là Thông?

Đáp: Các Thông là đạo giải thoát thâu nhiếp, như quả Sa-môn do đạo giải thoát thâu nhiếp chứ không phải là đạo vô gián; ở đây cũng như vậy.

Hỏi: Luận Phẩm Loại Túc nói nên thông hiểu thế nào?

Đáp: Luận ấy đã nói về Thông cùng với luận này nói khác nhau. Luận ấy nói Tuệ thiện đều gọi là Thông, bởi vì nói tất cả các pháp đều là do Thông mà đạt được; trong này đã nói Tuệ thù thắng gọi là Thông, Thông này hoặc là thiện, hoặc là vô ký.

Thông và Tuệ thiện có thể làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc là Thông mà không phải là Tuệ thiện, đó là Thiên nhãn thông-Thiên nhĩ thông.

2. Có lúc là Tuệ thiện mà không phải là Thông, đó là trừ ra Thông, còn lại Tuệ thiện.

3. Có lúc là Thông mà cũng là Tuệ thiện, đó là bốn Thông còn lại.

4. Có lúc không phải là Thông mà cũng không phải là Tuệ thiện, đó là trừ ra tướng trước.

Hỏi: Năm Thông này là như thuyết mà sinh khởi, hay là không phải như vậy?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Như thuyết mà sinh khởi, đó là Thần cảnh trí thông khởi lên trước cho nên Đức Phật nói trước, cho đến Túc trú tùy niệm trí thông khởi lên sau cho nên Đức Phật nói sau. Nghĩa là lúc ấy nghe về trời cõi Sắc mà không có thể đi đến, cho nên trước tiên khởi lên Thần cảnh thông để đi đến; mà không có thể nhìn thấy sắc của họ, cho nên tiếp tục khởi lên Thiên nhãn thông để nhìn thấy; mà không có thể nghe được lời nói của họ, cho nên tiếp tục khởi lên Thiên nhĩ để nghe được; mà không có thể biết được tâm của họ, cho nên tiếp tục khởi lên Tha tâm thông để biết tâm của họ; biết tâm của họ rồi mà chưa biết đời trước đã từng gặp nhau hay không, cho nên sau cuối khởi lên Túc trú thông. Đức Thế Tôn dựa vào thứ tự này mà nói.

Nói như vậy thì thứ tự không có nhất định, nghĩa là hoặc trước tiên khởi lên Thần cảnh thông, cho đến hoặc là trước tiên khởi lên Túc trú thông; hoặc có người chỉ đạt được Thần cảnh thông, như Thiên Thụ…; hoặc có người chỉ đạt được Thiên nhãn thông, như Thiện Tinh…Vì vậy, các Thông không có sự tiến vào theo chiều thuận-tiến vào theo chiều nghịch, cũng không có vượt qua thứ tự như các Đẳng chí, hoặc là như Vô lượng-Giải thoát-Thắng xứ-Biến xứ.

Hỏi: Lúc tu khởi lên Thần cảnh thông-Thiên nhãn thông, cùng có ánh sáng thì điều này có gì khác nhau?

Đáp: Nếu do tu Thần cảnh thông mà dẫn đến ánh sáng, thì hoặc là do biến hóa đã làm ra, hoặc là do tự tánh vốn có. Nếu do tu Thiên nhãn thông mà dẫn đến ánh sáng, thì không phải là do biến hóa đã làm ra, mà chỉ do tự tánh vốn có.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.