Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Năm trăm Đại A-la-hán cùng tạo luận
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch Phạn sáng Hán
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

CHƯƠNG V: ĐẠI CHỦNG UẨN

Phẩm Thứ Hai: LUẬN VỀ DUYÊN

(Từ cuối quyển 131 – đầu quyển 134)

Đại chủng làm mấy duyên cho Đại chủng? Các chương như vậy và giải thích về nghĩa của từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp đến nên phân biệt rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Bởi vì cần phải ngăn chặn cách nói của phái Thí Dụ, phái ấy nói tánh của duyên không phải là pháp có thật.

Hỏi: Vì sao họ đưa ra cách nói này?

Đáp: Bởi vì dựa vào kinh. Như trong kinh nói: “Vô minh duyên Hành.” Tướng của Hành có khác nhau, Vô minh chỉ có một tướng, làm sao một tướng của Vô minh làm duyên sinh ra tướng khác nhau của Hành, mà duyên là thật?

Tôn giả cũng nói: “Duyên là tên gọi mà các Sư tạm thời thiết lập, Thể không phải là có thật.” Cũng vì ngăn chặn những cách nói như vậy để hiển bày rõ ràng thể của các duyên là có thật. Nếu tánh của các duyên không phải là có thật, thì tất cả các pháp đều không phải là có thật, bởi vì Nhân duyên thâu nhiếp tất cả các pháp hữu vi; Đẳng vô gián duyên thâu nhiếp quá khứ-hiện tại, trừ ra tụ tâm cuối cùng của A-lahán, còn lại tâm-tâm sở pháp; Sở duyên duyên và Tăng thượng duyên thâu nhiếp tất cả các pháp. Vả lại, nếu tánh của duyên không phải là có thật, thì lẽ ra không thi thiết các pháp rất sâu xa, nghĩa là không dựa vào nhân duyên quán sát bởi vì tánh của các pháp thô thiển dễ biết. Nếu dùng nhân duyên mà quán sát, thì nghĩa rất sâu xa vượt quá bốn biển lớn, chỉ riêng Đức Phật mới có năng lực biết được chứ không phải là ai khác mà biết được. Lại nữa, nếu tánh của duyên không phải là có thật, thì lẽ ra không thi thiết có ba loại Bồ-đề, đó là dùng trí bậc Thượng quán xét nhân duyên cho nên đạt được Bồ-đề của Phật, dùng trí bậc Trung quán xét đạt được Bồ-đề của Độc giác, dùng trí bậc Hạ quán xét đạt được Bồ-đề của Thanh văn. Lại nữa, tánh của nhân duyên không phải là thật có, thì lẽ ra không thi thiết có ba phẩm Tuệ, đó là Tuệ phẩm Hạ sẽ luôn luôn là phẩm Hạ, phẩm Trung sẽ luôn luôn là phẩm Trung, phẩm Thượng sẽ luôn luôn là phẩm Thượng, bởi vì không có lực của duyên thật sự làm cho tăng giảm. Nếu như vậy thì không có thầy tròdạy dỗ-luyện tập, và tánh của thầy trò lẽ ra không có thay đổi gì cả.

Tôn giả Diệu Âm cũng đưa ra cách nói này: “Nếu duyên không phải là thật thì lẽ ra thầy không nên làm cho giác tuệ của học trò chuyển từ bậc Hạ thành bậc Trung, chuyển từ bậc Trung thành bậc Thượng. Bởi vì không có duyên tu tập làm cho tăng trưởng, cho nên thầy trò-dạy dỗ sẽ không được thành lập, thầy sễ luôn luôn là thầy-học trò cũng như vậy.”

Bởi vì những lý lẽ đã nói như vậy, cho nên biết tự tánh của duyên quyết định là có thật.

Hỏi: Nếu duyên là có thật thì nghĩa của kinh mà phái Thí Dụ đã dẫn ra nên thông hiểu thế nào?

Đáp: Vô minh tuy là một mà tác dụng có nhiều, phần nhiều dùng làm duyên sinh ra tướng khác nhau của hành. Bởi vì pháp hữu vi tùy theo các duyên nương nhờ, cho nên có vô lượng môn với tác dụng khác nhau, ví như một người mà có năm khả năng nhưng không trái ngược nhau, điều ấy cũng như vậy.

Có người nói: Bởi vì hiển bày tự tánh của các pháp hữu vi yếu kém, không có thể tự mình dấy khởi mà chắc chắn phải nhờ vào duyên khác, không có tác dụng thật sự-không có tự tại, cho nên soạn ra phần luận này.

Trong này, tự tánh nghĩa là tự Thể của pháp. Hoặc là nói ở đây hiển bày về tự tánh yếu kém của các pháp đã sinh ra, bởi vì yếu kém cho nên có lúc nhờ vào bốn duyên, hoặc là ba-hoặc là hai mới được sinh khởi. Hãy còn không có pháp nào nhờ vào một duyên mà sinh khởi, huống gì là không có nơi nào nhờ cậy? Như người bệnh hoạn yếu đuối, nhất định phải nhờ vào hoặc là bốn-hoặc là ba-hoặc là hai duyên đã nương nhờ mà được sinh khởi chuyển đổi, hãy còn không có nhờ vào một duyên, huống gì là hoàn toàn không nương nhờ?

Hoặc là nói ở đây hiển bày về tự tánh yếu kém của Nhân duyên tự nhiên sinh ra(năng sinh), bởi vì yếu kém cho nên hoặc là bốn-hoặc là ba-hoặc là hai giúp đỡ nhau mới có thể sinh ra pháp. Như người yếu đuối, hoặc là bốn-hoặc là ba-hoặc là hai dựa vào nhau mới có thể làm được một công việc. Như trong kinh nói: “Sắc là vô thường, nhân duyên của sắc cũng là tánh vô thường. Do vô thường mà khởi lên thì sắc làm sao thường? Bởi vì tánh của các pháp hữu vi yếu kém cho nên không có thể tự nhiên dấy khởi, nghĩa là pháp ấy không có sức mạnh để có thể tự mình sinh khởi. Bởi vì không tự mình sinh khởi cho nên nhờ vào nơi khác mà sinh khởi, cần phải nhờ vào sức mạnh của duyên mới được sinh khởi. Bởi vì nhờ vào duyên khác cho nên không có tác dụng, nghĩa là pháp không có mong muốn dấy lên ý nghĩ này: Mình phải làm vì ai, ai khiến mình phải làm? Bởi vì không có tác dụng cho nên sẽ không có tự tại, nghĩa là trong các pháp hữu vi không tự tại mình đừng khởi lênmình đừng diệt đi.”

Có người nói: Vì loại bỏ những ngu dốt về duyên khởi, cho nên soạn ra phần luận này. Ngu dốt về duyên khởi, nghĩa là lúc ấy nghe nói Vô minh duyên Hành, cho đến Sinh duyên Lão tử, liền cho rằng chỉ riêng pháp này là pháp duyên khởi. Nay cần phải quyết định hiển bày rõ ràng từ duyên mà sinh ra, các pháp trong-ngoài đều là duyên khởi.

Vì những duyên này cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Đại chủng cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu-Đồng loại. Cùng sinh và hướng về với nhau là nhân Câu hữu, sinh trước và sinh sau là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại. Đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói.

Nhưng bốn Đại chủng có mười một loại, đó là sở y của Nhãn xứ cho đến sở y của Pháp xứ. Sở y của Nhãn xứ cùng với sở y của Nhãn xứ làm Nhân-Tăng thượng, cùng với sở y khác chỉ là một Tăng thượng, cho đến Sở y của Pháp xứ cùng với sở y của Pháp xứ làm Nhân-Tăng thượng, cùng với sở y khác chỉ là một Tăng thượng.

Đại chủng sở y của Nhãn xứ lại có hai loại, đó là trái và phải. Sở y của bên trái cùng với bên trái làm Nhân-Tăng thượng, cùng với sở y của bên phải chỉ là một Tăng thượng. Sở y của bên phải cùng với bên phải làm Nhân-Tăng thượng, cùng với sở y của bên trái chỉ là một Tăng thượng.

Đại chủng sở y của Nhãn bên trái lại có hai loại, đó là do nuôi lớn và dị thục sinh. Nuôi lớn cùng với nuôi lớn làm Nhân-Tăng thượng, cùng với dị thục sinh chỉ là một Tăng thượng. Dị thục cùng với dị thục làm Nhân-Tăng thượng, cùng với nuôi lớn chỉ là một Tăng thượng.

Đại chủng dị thục lại có hai loại, đó là dị thục của nghiệp thiện và dị thục của nghiệp bất thiện. Dị thục của nghiệp thiện cùng với dị thục của nghiệp thiện làm Nhân-Tăng thượng, cùng với dị thục của nghiệp bất thiện chỉ là một Tăng thượng. Nghiệp bất thiện nói cũng như vậy.

Đại chủng dị thục của nghiệp thiện lại có hai loại, đó là trời và người. Trời và trời làm Nhân-Tăng thượng, cùng với người chỉ là một Tăng thượng. Loài người nói cũng như vậy. Đại chủng của trời lại có hai loại, đó là cõi Dục-Sắc. Cõi Dục cùng với cõi Dục làm Nhân-Tăng thượng, cùng với cõi Sắc chỉ là một Tăng thượng. Cõi Sắc nói cũng như vậy.

Đại chủng của cõi Sắc lại có bốn loại, đó là Tĩnh lự thứ nhất cho đến Tĩnh lự thứ tư. Tĩnh lự thứ nhất cùng với Tĩnh lự thứ nhất làm NhânTăng thượng, cùng với Tĩnh lự khác chỉ là một Tăng thượng; cho đến Tĩnh lự thứ tư nói cũng như vậy.

Đại chủng dị thục của nghiệp bất thiện lại có ba loại, đó là địa ngục-bàng sinh và ngạ quỷ. Địa ngục cùng với địa ngục làm Nhân-Tăng thượng, cùng với hai nẽo khác chỉ là Tăng thượng. Bàng sinh và ngạ quỷ nói cũng như vậy.

Như nói về dị thục, nuôi lớn cũng như vậy. Như nói về bên trái, bên phải cũng như vậy. Như nói về Đại chủng sở y của Nhãn xứ, cho đến Đại chủng sở y của Pháp xứ cũng như vậy. Trong này khác nhau, đó là năm xứ bên ngoài có thân mình và thân khác; tình và phi tình… sai biệt nên suy nghĩ!

Hỏi: Cùng nẽo-cùng địa mà xứ sở sai biệt, lần lượt chuyển đổi hướng về nhau là có nhân hay không?

Đáp: Có người nói: Không có nhân.

Điều này không hợp lý, bởi vì có Đại chủng là sát-na, đó là Ngũ tịnh cư vốn có Đại chủng, từ vô thỉ sinh tử chưa hề dấy khởi. Mười một loại như các sắc sở tạo… dựa theo Đại chủng trước đây nói rộng ra nên biết.

Hỏi: Đại chủng cùng với sắc sở tạo là mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Sinh khởi-nhân Nương tựa-nhân Tồn tại-nhân Duy trì và nhân Nuôi dưỡng. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại.

Có người nói: Đại chủng cùng với Xúc sở tạo làm nhân Đồng loại.

Điều này không hợp lý, bởi vì Đại chủng và Xúc sở tạo không phải là đồng loại.

Hỏi: Sắc sở tạo cùng với sắc sở tạo làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Câu hữu- Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại. Đây là nói theo tướng chung, nói sai biệt thì dựa theo Đại chủng trước đây như lý nên suy nghĩ!

Hỏi: Sắc sở tạo cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại.

Có người nói: Tạo xúc cùng với các Đại chủng làm nhân Đồng loại. Điều này không hợp lý, bởi vì Tạo xúc và Đại chủng không phải là đồng loại.

Hỏi: Đại chủng cùng với tâm-tâm sở pháp làm mấy duyên?

Đáp: Sở duyên và Tăng thượng. Sở duyên, nghĩa là làm sở duyên cho pháp tương ưng với Thức thân kia, và làm sở duyên cho pháp tương ưng với Ý thức kia. Thân thức và pháp tương ưng, chọn lấy tự tướng; Ý thức và pháp tương ưng, chọn lấy tự tướng-cọng tướng. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Tâm-tâm sở pháp cùng với tâm-tâm sở pháp làm mấy duyên?

Đáp: Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là Tương ưng-Câu hữu-Đồng loại-Biến hành và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là tâm- tâm sở pháp đẳng vô gián, tâm-tâm sở pháp hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, nghĩa là tâm-tâm sở pháp cùng với tâm-tâm sở pháp làm sở duyên. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Tâm-tâm sở pháp cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng cùng với Nhãn xứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Nhãn xứ cùng với Nhãn xứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Nhãn xứ cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Như Nhãn xứ, nhĩ-tỷ-thiệt-thân-hương-vị xứ cũng như vậy.

Hỏi: Đại chủng cùng với Sắc xứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc xứ cùng với Sắc xứ làm mấy duyên?

Đáp? Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc xứ cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục.Tăng thượng, nói như trước. Như Sắc xứ, thanh-xúc xứ cũng như vậy.

Nói chung thì tuy là như vậy mà nghĩa có khác, đó là Đại chủng cùng với Thanh xứ làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước. Thanh xứ cùng với Thanh xứ làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại; Tăng thượng, nói như trước. Thanh xứ cùng với Đại chủng làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục; Tăng thượng, nói như trước.

Đại chủng cùng với Xúc xứ làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là bảy nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi…, và Câu hữu-Đồng loại; Tăng thượng, nói như trước. Xúc xứ cùng với Xúc xứ làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là bảy nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi…,và Câu hữuĐồng loại; Tăng thượng, nói như trước. Xúc xứ cùng với Đại chủng làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Câu hữu và Đồng loại; Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng cùng với Ý xứ làm mấy duyên?

Đáp: Sở duyên và Tăng thượng. Sở duyên, đó là làm sở duyên cho Thân thức và Ý thức, Thân thức chọn lấy tự tướng, Ý thức chọn lấy tự tướng-cọng tướng, Thân thức chọn lấy thì hoặc là một-hoặc là nhiều, nói rộng ra như trước.

Hỏi: Ý xứ cùng với Ý xứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Đồng loại-Biến hành và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Ý xứ đẳng vô gián, Ý xứ hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là Ý xứ làm sở duyên cho Ý xứ. Tăng thượng, nói như trước.

Đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nhưng Ý xứ có sáu loại, đó là Nhãn thức cho đến Ý thức. Trong này, Nhãn thức cùng với Nhãn thức làm Nhân-Đẳng vô gián-Tăng thượng, không phải là Sở duyên. Nhân là hai nhân, đó là Đồng loại và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Nhãn thức đẳng vô gián, Nhãn thức hiện rõ ở trước mắt. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là Sở duyên, bởi vì Nhãn thức chỉ duyên với sắc, Nhãn thức không phải là sắc. Như Nhãn thức cùng với Nhãn thức, Nhãn thức cùng với nhĩ-tỷ-thiệt-thân thức cũng như vậy. Nhãn thức cùng với Ý thức làm Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và

Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Đồng loại và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Nhãn thức đẳng vô gián, Ý thức hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, nghĩa là Nhãn thức làm sở duyên cho Ý thức. Tăng thượng, nói như trước. Như Nhãn thức đối với sáu thức, nhĩ-tỷ-thiệt-thân thức đối với sáu thức cũng như vậy.

Ý thức cùng với Ý thức làm Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Đồng loại-Biến hành và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Ý thức đẳng vô gián, Ý thức hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, nghĩa là Ý thức làm sở duyên cho Ý thức. Tăng thượng, nói như trước.

Ý thức cùng với Nhãn thức làm Nhân-Đẳng vô gián-Tăng thượng, không phải là Sở duyên. Nhân là ba nhân, đó là Đồng loại-Biến hành và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Ý thức đẳng vô gián, Nhãn thức hiện rõ ở trước mắt. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là Sở duyên, bởi vì Nhãn thức chỉ duyên với sắc, Ý thức không phải là sắc. Như Ý thức đối với Nhãn thức, Ý thức đối với thức khác cũng như vậy.

Hỏi: Năm thức như nhãn…lần lượt chuyển đổi không gián đoạn hiện rõ ở trước mắt hay không?

Đáp: Các sư Du-già nói: Năm thức như nhãn… lần lượt chuyển đổi không gián đoạn không hiện rõ ở trước mắt, bởi vì đều từ ý thức không gián đoạn mà sinh ra.

Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: Năm thức như nhãn… lần lượt chuyển đổi đều nhất định không gián đoạn mà khởi lên. Nếu không như vậy thì trái với chương Căn Uẩn nói, như chương ấy nói: “Khổ căn cùng với Khổ căn làm Nhân-Đẳng vô gián-Tăng thượng, không phải là

Sở duyên.”

Hỏi: Ý xứ cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục; Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng cùng với Pháp xứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là bảy nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi…, và Câu hữu-Đồng loại. Sở duyên, đó là làm sở duyên cho pháp tương ưng với Thân thức và pháp tương ưng với Ý thức. Tăng thượng, nói như trước.

Pháp xứ cùng với Pháp xứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, tức là năm nhân như Tương ưng. Đẳng vô gián, nghĩa là Pháp xứ đẳng vô gián, Pháp xứ hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, nghĩa là Pháp xứ làm sở duyên cho Pháp xứ. Tăng thượng, nói như trước.

Pháp xứ cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Câu hữuĐồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng cùng với Nhãn căn làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Nhãn căn cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Như nhãn căn, nhĩ-tỷ-thiệt-thân-nam-nữ căn cũng như vậy.

Hỏi: Đại chủng cùng với Mạng căn làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Mạng căn cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng cùng với Ý căn làm mấy duyên?

Đáp: Sở duyên và Tăng thượng, nghĩa về Sở duyên và Tăng thượng đều nói như trước.

Hỏi: Ý căn cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục; Tăng thượng, nói như trước. Như Ý căn, lạc-khổ-hỷ-ưu-xả-tín-tinh tiến-niệm-định-tuệ căn cũng như vậy.

Hỏi: Đại chủng cùng với Vị tri đương tri căn làm mấy duyên?

Đáp: Sở duyên và Tăng thượng. Sở duyên, nghĩa là các Đại chủng làm sở duyên cho Khổ nhẫn-Khổ trí, Tập nhẫn-Tập trí, và căn tương ưng. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Vị tri đương tri căn cùng với Đại chủng làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Như Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn cũng như vậy.

Hỏi: Đại chủng đối với Xứ hỏi-đáp có ba, vì sao đối với Căn hỏiđáp chỉ có hai?

Đáp: Bởi vì ý của người soạn luận muốn như vậy, nghĩa là luận đã soạn ra tùy theo ý muốn của người ấy mà soạn luận, nhưng làm cho không trái với pháp tướng, vì vậy không cần phải vặn hỏi về điều ấy.

Có người nói: Đây là cách nói có khác. Có người nói: Trong này thể hiện nhiều loại văn từ-nhiều loại giải thích, nêu bày rõ ràng về nghĩa khiến cho dễ hiểu. Có người nói: Trong này thể hiện hai môn loại-hai phương thức cho đến nói rộng ra. Có người nói: Các Căn tức là do Xứ thâu nhiếp, nếu nói đến Xứ thì nên biết là đã nói đến Căn, vì vậy không hỏi đến. Có người nói: Trong này mở rộng và tóm lược dần dần, nghĩa là bắt đầu hỏi là bốn-tiếp theo là ba-sau cùng là hai, bởi vì trước nói mở rộng-sau có thể dựa theo biết được, vì bỏ bớt văn phức tạp dần dần tóm lược mà nói.

Hỏi: Sắc pháp đối với Sắc pháp có nhân Đồng loại hay không?

Đáp: Các Sư phương Tây- Tôn giả Thí Dụ nói: “Sắc đối với Sắc không có nhân Đồng loại.” Các Sư phái Đối Pháp nói: “Sắc đối với Sắc có nhân Đồng loại.” Như trong phần nhân Đồng loại ở chương Tạp Uẩn trước đây đã phân biệt nhiều.

Hỏi: Vì sao bốn Đại chủng cùng sinh-cùng trú-cùng diệt mà không tương ưng, tâm-tâm sở pháp cùng sinh-cùng trú-cùng diệt mà lại nói là tương ưng?

Đáp: Như bốn Đại chủng có lúc giảm-có lúc tăng, tâm-tâm sở pháp thì không như vậy. Trong này, sinh nghĩa là năng sinh-sở sinh, trú nghĩa là năng trú-sở trú và năng dị-sở dị, diệt nghĩa là năng diệt-sở diệt.

Hỏi: Các pháp hữu vi đều có sinh-trú-diệt, vì sao lại nói là cùng sinh- cùng trú- cùng diệt?

Đáp: Có nhân duyên cho nên nói đều có sinh-trú-diệt, nghĩa là có các tướng khác nhau, nhiều tướng cho nên không phải là một tướng. Có nhân duyên cho nên nói cùng sinh- cùng trú-cùng diệt, nghĩa là tất cả đều không lìa khỏi thời gian một sát-na…, bởi vì sinh-trú-diệt ở trong một lúc.

Hỏi: Thể của bốn Đại chủng có tăng giảm hay không? Giả sử như vậy thì có gì sai? Cả hai đều có sai lầm. Nếu có tăng giảm thì lẽ nào không tách rời nhau? Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu trong vật cứng mà cực vi của địa nhiều thì thủy-hỏa-phong sẽ ít, cực vi của địa tùy theo lượng xen tạp của thủy…, loại khác thì tách rời nhau; cho đến vật động nói cũng như vậy. Nếu không có tăng giảm thì các vật như nước-đá…, lẽ ra không có thể trở thành khác nhau như cứng-mềm…?

Đáp: Nên nói là Thể của Đại chủng có tăng giảm.

Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao nói là không tách rời nhau?

Đáp: Tuy có tăng giảm mà không tách rời nhau, bởi vì lần lượt chuyển đổi giúp đỡ nhau cùng làm những việc làm. Như trong vật cứng tuy cực vi của địa nhiều mà thủy-hỏa-phong ít, nhưng tách rời thủy… thì địa yếu ớt không có thể làm được những việc làm; cho đến vật động nói cũng như vậy. Như nhiều thôn xóm cùng nhau lo liệu một sự việc, tuy có số người nhiều ít không giống nhau, mà cần phải hỗ trợ lẫn nhau chứ không có thể tách rời nhau.

Hỏi: Thể của tâm-tâm sở cũng có tăng giảm, tại sao lại nói thì không như vậy? Nghĩa là tâm sở pháp có nhiều-có ít ở trong các tụ tâm của ba cõi- ba tánh- hữu lậu- vô lậu.

Đáp: Bởi vì sự việc bằng nhau cho nên không gọi là tăng giảm, nếu trong một tâm có hai Tưởng-một Thọ… thì có thể gọi là tăng giảm, nhưng trong một tâm thì một Tưởng-một Thọ bằng nhau cho nên khác với Đại chủng.

Có người nói: Thể của Đại chủng không có tăng giảm.

Hỏi: Đá-gỗ…vì sao cứng-mềm… khác nhau?

Đáp: Bởi vì thế lực của Đại chủng có tăng thêm cực vi, như cực vi của bốn Đại trong vật cứng, số lượng của Thể tuy bằng nhau mà thế lực ấy tăng thêm cực vi của địa; cho đến vật động nói cũng như vậy. Như một lạng muối hòa với một lạng bột đặt ở trên lưỡi, muối sinh ra thức mạnh hơn-bột sinh ra thức yếu hơn nhiều; ở đây cũng như vậy. Thí dụ về nước-giấm cùng hòa vào nhau sinh ra Thiệt thức, thí dụ về kim nhọnlông chim sinh ra Thân thức, nói rộng ra cũng như vậy.

Hỏi: Tâm-tâm sở pháp cũng có tăng thêm cực vi, như Chỉ Man là lợi căn, Xà Nô là độn căn, tại sao nói là không như vậy?

Đáp: Như bốn Đại chủng có thế lực thô thiển rõ ràng, cực vi tăng lên dễ dàng biết rõ, vì vậy nói đến điều ấy; tâm-tâm sở pháp thì không như vậy. Vì vậy, Đại chủng không nói đến tương ưng.

Vả lại, tâm-tâm sở pháp đều có sở duyên, bốn Đại chủng không có sở duyên, không phải là pháp không có sở duyên mà có thể nói đến tương ưng. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tâm-tâm sở pháp có sở y, có hành tướng, có phát ngộ, cho nên chắc chắn có sở duyên, có sở duyên cho nên luôn luôn tương ưng không tách rời nhau; bốn Đại chủng trái ngược với điều này, cho nên không có sở duyên, bởi vì không có sở duyên cho nên tuy không tách rời nhau mà không tương ưng.

Không tách rời nhau có hai loại:

  1. Đại chủng không tách rời nhau cùng tạo ra một sắc.
  2. Tâm-tâm sở pháp không tách rời nhau cùng duyên vào một cảnh.

Năm uẩn tuy là cùng thuộc về một thân, mà không có hai sự việc này chứ không phải là không tách rời nhau, vì vậy Đại chủng không nói đến tương ưng.

Hỏi: Vì sao biết được bốn Đại chủng này luôn luôn không tách rời nhau?

Đáp: Bởi vì tự tướng tác nghiệp trong tất cả các tụ đều có thể đạt

được.

Nghĩa là trong tụ cứng thì tự tướng của địa giới hiện bày rõ ràng có thể đạt được, cho nên có nghĩa thành tựu cao nhất. Ở trong tụ này nếu không có thủy giới, thì vàng-bạc-sắt thép…sẽ không có thể tiêu mất, và nếu nước không có thì Đại chủng ấy sẽ phân tán. Nếu không có hỏa giới thì đá sỏi…đánh vào nhau không sinh ra lửa, và nếu lửa không có thì không có thể thành thục, Đại chủng ấy sẽ thối rữa hư hoại. Nếu không có phong giới thì sẽ không có chuyển động, và nếu không có gió thì Đại chủng ấy sẽ không có sự tăng trưởng.

Ở trong tụ ướt thì tự tướng của thủy giới hiện bày rõ ràng có thể đạt được, cho nên có nghĩa thành tựu cao nhất. Ở trong tụ này nếu không có địa giới thì đến phần vị giá rét sẽ không thành băng lạnh, và nếu đất không có thì thuyền bè… sẽ chìm mất. Nếu không có hỏa giới thì sẽ không có thời tiết nóng ấm, và nếu lửa không có thì Đại chủng ấy sẽ thối rữa hư hoại. Nếu không có phong giới thì sẽ không có chuyển động, và nếu gió không có thì sẽ không có sự tăng trưởng.

Ở trong tụ nóng thì tự tướng của hỏa giới hiện bày rõ ràng có thể đạt được, cho nên có nghĩa thành tựu cao nhất. Ở trong tụ này nếu không có địa giới thì đèn nến… sẽ không thể nào cháy lại được, và nếu đất không có thì sẽ không duy trì được mọi vật. Nếu không có thủy giới thì sẽ không sinh ra dòng chảy, và nếu không có lửa thì ngọn lửa sẽ không tụ lại được. Nếu không có phong giới thì sẽ không chuyển động, và nếu không có gió thì sẽ không có sự tăng trưởng.

Ở trong tụ động thì tự tướng của phong giới hiện bày rõ ràng có thể đạt được, cho nên có nghĩa thành tựu cao nhất. Ở trong tụ này nếu không có địa giới thì chạm vào tường vách… ngăn ngại sẽ không quay trở lại, và nếu đất không có thì sẽ không duy trì được mọi vật. Nếu không có thủy giới thì sẽ không có gió lạnh, và nếu nước không có thì Đại chủng ấy sẽ phân tán. Nếu không có hỏa giới thì sẽ không có gió nóng, và nếu lửa không có thì Đại chủng ấy sẽ thối rữa hư hoại.

Hỏi: Tướng của bốn Đại chủng này khác nhau, lần lượt chuyển đổi trái ngược nhau, tại sao cùng lúc không rời nhau mà khởi lên?

Đáp: Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói như vậy:“Tướng khác nhau-trái ngược nhau-nhân duyên khác nhau, không phải là các tướng khác nhau đều nhất định trái ngược nhau. Các pháp không trái ngược nhau mà tướng khác nhau, có thể cùng lúc dấy khởi không tách rời lẫn nhau, như bốn Đại chủng và hương-vị-xúc-xanh-vàng… Các pháp có tướng khác nhau mà trái ngược lẫn nhau, chắc chắn không cùng lúc dấy khởi mà không tách rời nhau, như củi và lửa, mưa đá và lúa mạ, thuốc và bệnh, sáng và tối.”

********

Hỏi: Nếu vật cứng-không cứng làm thay đổi tướng, thì vì sao các pháp không rời bỏ tự tướng? Vì sao làm thay đổi tướng? Như tánh mềm của nước đến mùa Đông thì ngưng tụ rắn chắc, rìu chặc hãy còn khó; tánh cứng của vàng-bạc…, nếu đưa vào lò nóng thì tan chảy như nước. Như vậy lẽ nào không phải là các pháp rời bỏ tự tướng hay sao?

Đáp: Không phải là các vật cứng thay đổi làm thành vật không cứng, cũng không phải là vật không cứng thay đổi làm thành vật cứng, nhưng pháp cứng- không cứng trú ở đời vị lai, nếu gặp duyên cứng thì pháp không cứng diệt đi- pháp cứng tiếp tục sinh ra, gặp duyên không cứng thì pháp cứng diệt đi- pháp không cứng tiếp tục sinh ra, pháp khác cũng như vậy, cho nên không có lỗi là các pháp rời bỏ tự tướng.

Hỏi: Trong các tụ của Đại chủng có kẽ hở hay không? Giả sử như vậy thì có gì sai? Cả hai đều có sai lầm. Nếu có kẽ hở thì lẽ nào không tách rời nhau? Nếu không có kẽ hở thì vì sao không trở thành một?

Đáp: Có người nói: Tụ của Đại chủng này có kẽ hở, bởi vì Không giới xen lẫn nhau ở trong đó.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao nói là không tách rời nhau?

Đáp: Không giới ở trong đó luôn luôn tự giấu kín mình, khiến cho đối với các vật trông thấy không tách rời nhau, như cô gái tự giấu kín thân mình trong lùm cây.

Có người nói: Tụ của Đại chủng này không có kẽ hở, bởi vì lần lượt chuyển đổi áp sát nhau không gián đoạn mà tồn tại.

Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao không trở thành một?

Đáp: Tuy không có kẽ hở mà không trở thành một, như Uẩn-Xứ- Giới trong ba đời…, tuy không có kẽ hở mà không trở thành một; các tụ ấy cũng như vậy. Vả lại, tự Thể-tác dụng của các Đại chủng, tất cả đều

khác nhau cho nên không thể trở thành một.

Hỏi: Các cực vi có tiếp xúc lẫn nhau hay không? Giả sử như vậy thì có gì sai? Cả hai đều có sai lầm. Nếu tiếp xúc lẫn nhau thì lẽ nào không trở thành một, hoặc là trở thành có phạm vi? Nếu không tiếp xúc lẫn nhau thì lúc va đập sẽ rời ra, hoặc là sẽ không có tiếng?

Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Cực vi không tiếp xúc lẫn nhau. Nếu tiếp xúc thì lẽ ra hoặc là có khắp nơi-hoặc là có phạm vi, tiếp xúc khắp nơi thì có lỗi trở thành một Thể, tiếp xúc theo phạm vi thì có lỗi trở thành có phạm vi. Nhưng các cực vi lại không có phạm vi nhỏ bé.

Hỏi: Tụ sắc va đập nhau lẽ nào không rời ra hay sao?

Đáp: Phong giới thâu nhiếp duy trì vì vậy khiến cho không rời ra.

Hỏi: Lẽ nào không phải là phong giới có thể đưa đẩy phân tán hay sao?

Đáp: Có lúc có thể đưa đẩy phân tán, như lúc kiếp Hoại; có lúc có thể thâu nhiếp duy trì, như lúc kiếp Thành.

Hỏi: Nếu không tiếp xúc thì ngay lúc va vào nhau vì sao phát ra tiếng?

Đáp: Tức là do nhân này mà khiến cho tiếng phát ra. Nếu tiếp xúc lẫn nhau thì làm sao phát ra tiếng? Nghĩa là Thể của các cực vi tiếp xúc lẫn nhau, tay chân… hòa vào nhau, Thể sẽ xen tạp vào nhau, bên trong không có kẽ hở làm sao phát ra tiếng?

Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói như vậy: “Nếu các cực vi tiếp xúc lẫn nhau, thì lúc ấy sẽ được tồn tại đến sát-na sau cùng.”

Đại đức nói rằng: “Thật ra không tiếp xúc lẫn nhau, chỉ ở trong sự quy tụ không gián đoạn mà sinh ra, thuận theo thế tục đế tạm gọi là tiếp xúc lẫn nhau.”

Hỏi: Các vật là tiếp xúc, là sự tiếp xúc này làm nhân mà sinh ra, hay là không phải tiếp xúc làm nhân mà sinh ra? Các vật không phải là tiếp xúc, là không phải tiếp xúc làm nhân mà sinh ra, hay là tiếp xúc làm nhân mà sinh ra?

Đáp: Có lúc là tiếp xúc làm nhân, sinh ra không phải là tiếp xúc, đó là lúc vật hòa hợp đang ly tán. Có lúc không phải là tiếp xúc làm nhân, sinh ra là tiếp xúc, đó là lúc vật ly tán đang hòa hợp. Có lúc là tiếp xúc làm nhân, sinh ra là tiếp xúc, đó là lúc vật hòa hợp tiếp tục hòa hợp. Có lúc không phải là tiếp xúc làm nhân, sinh ra không phải là tiếp xúc, đó là hướng đến những pháp đồng loại nối tiếp nhau.

Hỏi: Cực vi nên nói là có thể thấy hay là không có thể thấy?

Đáp: Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Cực vi nên nói là có thể thấy, bởi vì là cảnh của tuệ nhãn.”

Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: “Cực vi nên nói là không có thể thấy, bởi vì không phải là nhục nhãn-thiên nhãn mà có thể thấy được. Trong này không dựa vào tuệ nhãn để làm câu hỏi, bởi vì đối với các pháp không có gì sai biệt.”

Có thể có Đại chủng quá khứ tạo ra sắc quá khứ chăng? Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn nghĩa của người khác để hiển bày về nghĩa của mình. Nghĩa là có Bộ khác bác bỏ không có quá khứ-vị lai, nói đời hiện tại là pháp vô vi. Muốn ngăn chặn ý đó để hiển bày là có quá khứ- vị lai, cũng nói rõ hiện tại là pháp hữu vi, nói rộng ra như trước.

Lại có ngoại đạo, dựa vào thí dụ về đời hiện tại, chấp là pháp hữu vi sau làm nhân cho trước. Người ấy đưa ra cách nói này: Hiện thấy dòng nước trước bị dòng nước sau thúc ép khiến cho tuôn chảy ào ạt, như vậy các pháp bởi vì pháp vị lai thúc ép khiến cho tiến vào hiện tại, lại bởi vì pháp hiện tại thúc ép khiến cho tiến vào quá khứ, cho nên pháp hữu vi sau làm nhân cho trước.

Nay muốn ngăn chặn cách nói của ngoại đạo kia, hiển bày về pháp hữu vi trước có thể sinh ra pháp sau chứ không phải là sau làm nhân cho trước. Không như vậy thì trái với duyên khởi trong-ngoài, nghĩa là thế hệ cha mẹ sẽ từ con sinh ra, nhãn sắc sẽ từ nhãn thức mà khởi lên, vô minh… sẽ từ hành… sinh ra, hạt giống… sẽ từ mầm non… mà dấy khởi, trước nhận lấy quả báo khổ vui rồi sau mới tạo ra nghiệp thiện ác, trước đạt được Bồ-đề rồi sau đó mới tu hành, chưa làm mà đã có được thì lẽ ra đã làm mà mất. Nếu như vậy thì không có lý nào được giải thoát. Lại muốn ngăn chặn cách nói Đại chủng và sắc sở tạo chắc chắn cùng thời gian, để hiển bày là có thời gian khác nhau. Bởi vì nhân duyên này, cho nên soạn ra phần luận này.

Các sắc sở tạo Hữu đối và sắc Vô biểu tùy tâm chuyển, hễ ở đời nào thì Đại chủng tạo ra ở đời ấy, nghĩa là quá khứ tạo ra quá khứ, hiện tại tạo ra hiện tại, vị lai tạo ra vị lai. Nếu do Biểu mà dấy khởi các sắc Vô biểu, thì lại có ba loại tạo ra với thời gian không như nhau. Nghĩa là sát-na thứ nhất như Hữu đối…, đều là Đại chủng sở tạo cùng đời; sát-na thứ hai nếu ở quá khứ- hiện tại thì đều là Đại chủng sở tạo thuộc quá khứ, nếu ở vị lai thì cùng là Đại chủng sở tạo thuộc hiện tại-vị lai; các sát-na sau là quá khứ-hiện tại như trước. Nếu ở vị lai thì cùng là Đại chủng sở tạo thuộc ba đời. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì các hữu tình dựa vào Biểu phát khởi luật nghi và không luật nghi chứ không phải là hai loại Vô biểu, Biểu-Vô biểu sắc trong sát-na thứ nhất, cùng với Biểu này và Đại chủng năng tạo khác hiện tại đều diệt, diệt đến sát-na thứ hai về sau thì Biểu và Đại chủng đều ở quá khứ. Các sắc Vô biểu có lúc ở quá khứ, có lúc ở vị lai, có lúc ở hiện tại. Đó gọi là Tỳ-bà-sa tóm lược tại nơi này.

Hỏi: Có thể có Đại chủng quá khứ tạo ra sắc quá khứ chăng?

Đáp: Có, đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối ở quá khứ, Vô biểu tùy tâm chuyển, do Biểu mà dấy khởi Vô biểu, chỉ là Đại chủng sở tạo ở quá khứ.

Hỏi: Có thể có Đại chủng quá khứ tạo ra sắc vị lai chăng?

Đáp: Có, đó là có Biểu đã dấy khởi Vô biểu thuộc vị lai, chỉ là Đại chủng sở tạo ở quá khứ.

Hỏi: Có thể có Đại chủng quá khứ tạo ra sắc hiện tại chăng?

Đáp: Có, đó là có Biểu đã dấy khởi Vô biểu thuộc hiện tại, chỉ là Đại chủng sở tạo ở quá khứ.

Hỏi: Có thể có Đại chủng vị lai tạo ra sắc vị lai chăng?

Đáp: Có, đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối ở vị lai, Vô biểu tùy tâm chuyển, và có Biểu đã dấy khởi Vô biểu thuộc vị lai, chỉ là Đại chủng sở tạo ở vị lai.

Hỏi: Có thể có Đại chủng vị lai tạo ra sắc quá khứ-hiện tại chăng?

Đáp: Không có, đó là bởi vì không có lý quả trước nhân sau.

Hỏi: Có thể có Đại chủng hiện tại tạo ra sắc hiện tại chăng?

Đáp: Có, đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối ở hiện tại, Vô biểu tùy tâm chuyển, và có Biểu đã dấy khởi Vô biểu thuộc hiện tại, chỉ là Đại chủng sở tạo ở hiện tại.

Hỏi: Có thể có Đại chủng hiện tại tạo ra sắc quá khứ chăng?

Đáp: Không có, đó là bởi vì không có lý quả trước nhân sau.

Hỏi: Có thể có Đại chủng hiện tại tạo ra sắc vị lai chăng?

Đáp: Có, đó là có Biểu đã dấy khởi Vô biểu thuộc vị lai, chỉ là Đại chủng sở tạo ở hiện tại.

Các Vô biểu tùy tâm chuyển là Đẳng lưu, không có chấp thọ thuộc về số hữu tình; Đại chủng năng tạo kia là Trưởng dưỡng, không có chấp thọ thuộc về số hữu tình. Các Biểu đã dấy khởi Vô biểu là Đẳng lưu, không có chấp thọ thuộc về số hữu tình; Đại chủng năng tạo kia là Đẳng lưu, có chấp thọ thuộc về số hữu tình.

Các Vô biểu tùy tâm chuyển, có hai loại:

  1. Do luật nghi Tĩnh lự thâu nhiếp.
  2. Do luật nghi Vô lậu thâu nhiếp.

Hai loại này đều có bảy, đó là lìa bỏ giết hại sinh mạng, cho đến lìa bỏ lời nói tạp uế. Bảy loại do luật nghi Tĩnh lự thâu nhiếp, cùng chung bốn Đại chủng sở tạo; bảy loại do luật nghi Vô lậu thâu nhiếp cũng như vậy.

Các Biểu đã dấy khởi Vô biểu có ba loại:

  1. Do luật nghi thâu nhiếp.
  2. Do không luật nghi thâu nhiếp.
  3. Do phi luật nghi phi bất luật nghi thâu nhiếp.

Do luật nghi thâu nhiếp lại có bảy loại, đó là lìa bỏ giết hại sinh mạng, cho đến lìa bỏ lời nói tạp uế. Bảy loại như vậy đều cùng chung bốn Đại chủng sở tạo. Lìa bỏ giết hại sinh mạng lại có hai loại, đó là Biểu-Vô biểu; hai loại này đều cùng chung bốn Đại chủng sở tạo.

Có Sư khác nói: Biểu-Vô biểu này cùng chung bốn Đại chủng sở tạo.

Hỏi: Vì thế vị ấy hỏi rằng có thể có cùng chung bốn Đại chủng tạo ra sắc của hai xứ chăng?

Đáp: Có, đó là Sắc xứ-Pháp xứ, và Thanh xứ-Pháp xứ.

Tôn giả Diệu Âm cũng đưa ra cách nói này.

Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: Vị ấy nói phi lý, không có thể cùng chung bốn Đại chủng tạo ra hai quả thô-tế, vì vậy như trước đã nói là hợp lý.

Như lìa bỏ giết hại sinh mạng, Biểu và Vô biểu đều cùng chung bốn Đại chủng sở tạo. Như vậy cho đến lìa bỏ lời nói tạp uế cũng như thế.

Do không luật nghi thâu nhiếp cũng có bảy loại, đó là giết hại sinh mạng cho đến nói lời tạp uế. Do phi luật nghi phi bất luật nghi thâu nhiếp có hai thứ bảy loại, đó là giết hại sinh mạng-lìa bỏ giết hại sinh mạng, cho đến nói lời tạp uế-lìa bỏ nói lời tạp uế. Hai thứ bảy loại này đều cùng chung bốn Đại chủng sở tạo. Như vậy các thứ bảy loại lại đều có hai loại, đó là Biểu-Vô biểu, Biểu-Vô biểu này cũng cùng chung bốn Đại chủng tạo ra. Sư khác nói đều như trước nên biết.

Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là sắc sở tạo quá khứ chăng? Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Muốn ngăn chặn sự bác bỏ không có hai đời quá khứ-vị lai, và nói Thể thành tựu-không thành tựu không phải là có thật, ý hiển bày về đời quá khứ-vị lai, và thành tựu… là pháp có thật, cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là sắc sở tạo quá khứ chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng quá khứ, có thành tựu sắc sở tạo quá khứ, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú trong luật nghi. Nếu trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước có Biểu của thân-ngữ không mất. Nếu sinh vào cõi Sắc, hoặc là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Cũng có người Học sinh đến cõi Vô sắc không thành tựu sắc sở tạo quá khứ, đó là người ấy lúc trước ở cõi Dục-Sắc, chưa khởi-chưa diệt các đạo vô lậu, mạng chung sinh đến cõi Vô sắc, cũng không thành tựu sắc sỏ tạo quá khứ, làm sao lại nói hoặc là những người Học sinh đến cõi Vô sắc thành tựu sắc sở tạo quá khứ?

Đáp: Dựa vào người thành tựu đưa ra cách nói như vậy, nghĩa là những người Hữu học trước ở cõi Dục-Sắc, đã khởi-đã diệt các đạo vô lậu, cho nên họ thành tựu sắc sở tạo quá khứ.

Có người nói: Lúc họ ở cõi Dục-Sắc, nhất định đã khởi-diệt các đạo vô lậu, như đạo thắng tiến nhất định dấy khởi hiện rõ trước mắt, cho nên không có trú vào quả mà mạng chung.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là Đại chủng vị lai chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng quá khứ-vị lai.

Hỏi: Vì sao không có thành tựu Đại chủng quá khứ-vị lai?

Đáp: Bởi vì Đại chủng ấy chỉ có thế lực thành tựu như vậy, sátna hiện rõ trước mắt thì có thành tựu, đã diệt chưa hiện rõ thì không có thành tựu. Nghĩa là các Đại chủng cùng với thành tựu đạt được nhất định phải cùng một đời, lúc này Đại chủng đạt được ấy không hiện rõ ở trước mắt cho nên không thành tựu.

Có người nói: Tập khí của Đại chủng không vững bền, cho nên không thành tựu Đại chủng ở đời quá khứ-vị lai, bởi vì tánh vô ký này yếu kém, nghĩa là tập khí của thiện ác… vững bền, cho nên có thành tựu Đại chủng ở đời quá khứ-vị lai; pháp vô ký yếu kém thì không như vậy. Như nắm giữ đò vật-hương hoa rất thơm trong chốc lát, tuy lau chùi rửa sạch mà tập khí hãy còn vương vấn, không giống như nắm giữ những loại gỗ-đá…, tay vừa mới buông bỏ thì tập khí này liền không còn.

Có người nói: Nếu thành tựu Đại chủng của đời quá khứ-vị lai, thì một nẽo thành tựu Đại chủng của năm nẽo, như vậy một thân đã có thân của năm nẽo, vậy thì phá hỏng nẽo mà sở y cũng phá hỏng. Muốn làm cho không có lỗi lầm như vậy, cho nên Đại chủng không thành tựu ở quá khứ-vị lai.

Hỏi: Như sinh ở một nẽo, thành tựu các nghiệp-phiền não của năm nẽo mà không phải là phá hỏng nẽo, ở đây cũng phải như vậy?

Đáp: Bởi vì quả dị thục cho nên nói các nẽo sai biệt, chứ không vì nghiệp-phiền não. Nhưng các Đại chủng hoặc có lúc là quả dị thục, thì có lỗi lầm phá hỏng nẽo và phá hỏng sở y, vì vậy điều ấy không phải là khó.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là sắc sở tạo vị lai chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng quá khứ, có thành tựu sắc sở tạo vị lai, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc; hoặc là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc, bởi vì lúc ấy nhất định thành tựu sắc sở tạo vị lai.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là Đại chủng hiện tại chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng quá khứ, có thành tựu Đại chủng hiện tại, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc, bởi vì không hề có sinh ở cõi Dục-Sắc mà không thành tựu Đại chủng.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là sắc sở tạo hiện tại chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng quá khứ, có thành tựu sắc sở tạo hiện tại, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc, bởi vì không hề có sinh ở cõi Dục-Sắc mà không thành tựu sắc sở tạo.

Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo quá khứ thì đó là Đại chủng vị lai chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng vị lai, có thành tựu sắc sở tạo quá khứ, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi, hoặc là trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước có Biểu của thân-ngữ không mất; hoặc là sinh vào cõi Sắc; hoặc là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo quá khứ thì đó là sắc sở tạo vị lai chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ mà không phải là sắc sở tạo vị lai, đó là sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi, không đạt được tâm thiện của cõi Sắc; hoặc là trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước có Biểu của thân-ngữ không mất.

2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị lai mà không phải là sắc sở tạo quá khứ, đó là A-la-hán sinh đến cõi Vô sắc.

3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng là sắc sở tạo vị lai, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc; hoặc là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.

4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng không phải là sắc sở tạo vị lai, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước không có Biểu của thân-ngữ, giả sử có mà mất; hoặc là các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo quá khứ thì đó là Đại chủng hiện tại chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ mà không phải là Đại chủng hiện tại, đó là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.

2. Có lúc thành tựu Đại chủng hiện tại mà không phải là sắc sở tạo quá khứ, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước không có Biểu của thân- ngữ, giả sử có mà mất.

3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng là Đại chủng hiện tại, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi, hoặc là trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước có Biểu của thân-ngữ không mất, nếu sinh vào cõi Sắc.

4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng không phải là Đại chủng hiện tại, đó là A-la-hán, hoặc là các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo quá khứ thì đó là sắc sở tạo hiện tại chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ mà không phải là sắc sở tạo hiện tại, đó là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.

2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hiện tại mà không phải là sắc sở tạo quá khứ, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước không có Biểu của thân- ngữ, giả sử có mà mất.

3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng là sắc sở tạo hiện tại, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi, hoặc là trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước có Biểu của thân- ngữ không mất, nếu sinh vào cõi Sắc.

4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng không phải là sắc sở tạo hiện tại, đó là A-la-hán, hoặc là các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc, bởi vì quá khứ đã rời bỏ, hiện tại không có sắc thân.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng vị lai thì đó là sắc sở tạo vị lai chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng vị lai, có thành tựu sắc sở tạo vị lai, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc, hoặc là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng vị lai thì đó là Đại chủng hiện tại chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng vị lai, có thành tựu Đại chủng hiện tại, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc, bởi vì không hề có sinh ở cõi Dục- Sắc mà không thành tựu Đại chủng.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng vị lai thì đó là sắc sở tạo hiện tại chăng?

Đáp: Không có thành tựu Đại chủng vị lai, có thành tựu sắc sở tạo hiện tại, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc, bởi vì không hề có sinh ở cõi Dục- Sắc mà không thành tựu sắc sở tạo hiện tại.

Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo vị lai thì đó là Đại chủng hiện tại chăng

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị lai mà không phải là Đại chủng hiện tại, đó là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.

2. Có lúc thành tựu Đại chủng hiện tại mà không phải là sắc sở tạo vị lai, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục không đạt được tâm thiện của cõi Sắc.

3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị lai cũng là Đại chủng hiện tại, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc.

4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo vị lai cũng không phải là Đại chủng hiện tại, đó là các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo vị lai thì đó là sắc sở tạo hiện tại chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị lai mà không phải là sắc sở tạo hiện tại, đó là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.

2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hiện tại mà không phải là sắc sở tạo vị lai, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục không đạt được tâm thiện của cõi Sắc.

3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị lai cũng là sắc sở tạo hiện tại, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc.

4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo vị lai cũng không phải là sắc sở tạo hiện tại, đó là các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hiện tại thì đó là sắc sở tạo hiện tại chăng?

Đáp: Đúng như vây.

Hỏi: Giả sử thành tựu sắc sở tạo hiện tại thì đó là Đại chủng hiện tại chăng?

Đáp: Đúng như vậy, bỏi vì không phải là Đại chủng hiện tại không có quả, cũng không phải là sắc sở tạo hiện tại không có nhân.

Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Câu hữu- Đồng loại, cùng sinh và hướng về nhau là nhân Câu hữu, sinh trước cùng với sinh sau là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại.

Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với sắc sở tạo quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Sinh khởi, nhân Nương tựa, nhân Tồn tại, nhân Duy trì và nhân Nuôi dưỡng. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với sắc sở tạo quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Câu hữu- Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với Đại chủng vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với Đại chủng vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Câu hữu. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu và nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân thì có người nói: Trong này dựa vào sát-na hiện tại mà làm luận, cho nên chỉ có một nhân, đó là nhân Câu hữu. Có người nói: Trong này cùng dựa vào phần vị và sát-na hiện tại của một đời mà làm luận, cho nên có hai nhân, đó là nhân Câu hữu và Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với sắc sở tạo hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với sắc sở tạo hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân thì có người nói: Trong này dựa vào sát-na hiện tại mà làm luận, cho nên chỉ có một nhân, đó là nhân Câu hữu. Có người nói: Trong này cùng dựa vào phần vị và sát-na hiện tại của một đời mà làm luận, cho nên có ba nhân, đó là nhân Câu hữu- Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với Đại chủng vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với sắc sở tạo quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với sắc sở tạo quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với sắc sở tạo quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với sắc sở tạo hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại- Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với sắc sở tạo quá khứ làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, tức là năm nhân như Sinh khởi…Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với Đại chủng vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với Đại chủng vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với sắc sở tạo hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với Đại chủng vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với sắc sở tạo hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với sắc sở tạo hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Những cách nói trong này dựa vào phần vị và sát-na hiện tại của một đời mà làm luận, thì phù hợp với cách trả lời này. Những cách nói trong này chỉ dựa vào sát-na hiện tại mà làm luận, thì nên trả lời rằng: Chỉ một Tăng thượng. Sẽ không tương ưng với cách trả lời của bản luận.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục thì đó là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục chăng?

Đáp: Đúng như vậy.

Hỏi: Giả sử thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục thì đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Dục chăng?

Đáp: Đúng như vậy, bởi vì không có thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục mà không phải là quả, cũng không có thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục mà không phải là nhân.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục thì đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục mà không phải là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục, Đại chủng của cõi Sắc không hiện rõ ở trước mắt.

2. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là Đại chủng hệ thuộc cõi Dục, đó là sinh ở cõi Sắc, không làm hóa hiện ở cõi Dục, không phát ra lời nói của cõi Dục.

3. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cũng là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục, Đại chủng của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt; hoặc là sinh ở cõi Sắc, làm hóa hiện ở cõi Dục, phát ra lời nói của cõi Dục.

4. Có lúc không phải là thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cũng không phải là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục thì đó là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục mà không phải là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục, không đạt được tâm thiện của cõi Sắc.

2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là Đại chủng hệ thuộc cõi Dục, đó là sinh ở cõi Sắc, không làm hóa hiện ở cõi Dục, không phát ra lời nói của cõi Dục.

3. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cũng là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở cõi Dục, phát ra lời nói của cõi Dục.

4. Có lúc không phải là thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cũng không phải là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục thì đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục mà không phải là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục, Đại chủng của cõi Sắc không hiện rõ ở trước mắt.

2. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là sinh ở cõi Sắc không làm hóa hiện ở cõi Dục, không phát ra lời nói của cõi Dục.

3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cũng là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục, Đại chủng của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt; hoặc là sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở cõi Dục, phát ra lời nói của cõi Dục.

4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cũng không phải là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục thì đó là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục mà không phải là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục không đạt được tâm thiện của cõi Sắc.

2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là sinh ở cõi Sắc không làm hóa hiện ở cõi Dục, không phát ra lời nói của cõi Dục.

3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cũng là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở cõi Dục, phát ra lời nói của cõi Dục.

4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cũng không phải là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh đến cõi Vô sắc.

Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc thì đó là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc chăng?

Đáp: Thành tựu các Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc thì lúc ấy nhất định thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của cõi Sắc, Đại chủng của cõi Sắc không hiện rõ ở trước mắt.

Hỏi: Sinh ở cõi Dục, trú vào những tâm nào của cõi Sắc, làm cho Đại chủng ấy hiện rõ ở trước mắt, là luôn luôn trú vào tâm thiện, hay là trú vào ba loại? Giả sử như vậy thì có gì sai? Cả ba đều có sai lầm. Nếu luôn luôn trú vào tâm thiện, thì luận Thi Thiết nói nên hiểu thế nào? Như nói: “ Bởi vì trú ở cõi này không gián đoạn, cho nên dị sinh khởi lên triền-sở triền của Sắc tham, quả báo năm uẩn thuộc cõi Sắc ở trong pháp hiện tại lấy Thủ làm duyên hướng về quả báo ở tương lai.” Nếu trú vào ba loại tâm thì tâm thiện có thể như vậy, bởi vì có sắc tùy chuyển làm quả của nó, tâm nhiễm ô và vô ký là có quả gì khiến cho nó hiện rõ trước mắt? Đáp: Có người đưa ra cách nói như vậy: Chỉ trú vào tâm thiện.

Hỏi: Luận Thi Thiết nói nên hiểu thế nào? Đáp: Luận ấy nói đến những sắc tăng trưởng trong thân.

Hỏi: Nếu như vậy thì luận ấy nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Bởi vì trú ở cõi này không gián đoạn, cho nên dị sinh khởi lên triền- sở triền của Vô sắc tham, quả báo bốn uẩn thuộc cõi Vô sắc ở trong pháp hiện tại lấy Thủ làm duyên hướng về quả báo ở tương lai.” Thân ấy cũng có những sắc tăng trưởng, vì sao không nói? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Nên nói mà không nói đến thì phải biết là nghĩa này có khác.

Có người nói: Lúc khởi lên triền của cõi ấy không có sắc tăng trưởng, vì vậy không nói đến. Lại có người nói: Trú vào ba loại tâm.

Hỏi: Tâm thiện có thể như vậy, bởi vì có quả tùy chuyển, hai tâm còn lại có quả gì khiến cho nó hiện rõ trước mắt? Đáp: Người ấy sinh ở cõi Dục, lúc khởi lên tâm thiện của cõi Sắc, bởi vì sắc tùy chuyển cho nên khiến nó hiện rõ trước mắt; lúc khởi lên tâm nhiễm ô, bởi vì có sắc thuộc Không giới của địa ấy, trú xen tạp lẫn nhau ở trong thân này, khiến cho nó hiện rõ trước mắt; lúc khởi lên tâm vô ký, bởi vì có sắc biến hóa của địa ấy, khiến cho nó hiện rõ trước mắt. Vì vậy trú vào ba loại tâm, đều có thể khởi lên Đại chủng của địa ấy.

********

 

Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu- Đồng loại, cùng sinh và hướng về nhau là nhân Câu hữu, sinh trước và sinh sau là nhân Đồng loại. Tăng thượng nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại.

Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Sinh khởi, nhân Nương tựa, nhân Tồn tại, nhân Duy trì và nhân Nuôi dưỡng. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại- Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu- Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Câu hữu- Đồng loại và Dị thục thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên?

Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.

Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên?

Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.

Hỏi: Các sắc hệ thuộc cõi Dục thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có sắc hệ thuộc cõi Dục mà không phải là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Dục, bởi vì các Đại chủng không phải là sở tạo.

2. Có sắc là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục mà không phải là hệ thuộc cõi Dục, đó là sắc không hệ thuộc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục. Điều này lại là thế nào? Đó là tất cả sắc tùy chuyển thuộc phẩm Pháp trí, và sắc tùy chuyển thuộc phẩm Loại trí dựa vào thân cõi Dục hiện rõ trước mắt.

3. Có sắc hệ thuộc cõi Dục cũng là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là sắc hệ thuộc cõi Dục, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục. Điều này lại là thế nào? Đó là sắc sở tạo Hữu đối hệ thuộc cõi Dục, và do Biểu mà khởi lên Vô biểu.

4. Có sắc không phải là hệ thuộc cõi Dục cũng không phải là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc; hoặc là sắc hệ thuộc cõi Sắc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc; hoặc là sắc không hệ thuộc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc.

Hỏi: Các sắc hệ thuộc cõi Sắc thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có sắc hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, nguyên cớ như trước.

2. Có sắc là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là hệ thuộc cõi Sắc, đó là sắc không hệ thuộc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc. Điều này lại là thế nào? Đó là sắc tùy chuyển thuộc phẩm Loại trí dựa vào thân cõi Sắc hiện rõ trước mắt.

3. Có sắc hệ thuộc cõi Sắc cũng là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sắc hệ thuộc cõi Sắc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc. Điều này lại là thế nào? Đó là sắc sở tạo Hữu đối hệ thuộc cõi Sắc, và Vô biểu tùy tâm chuyển hữu lậu.

4. Có sắc không phải là hệ thuộc cõi Sắc cũng không phải là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Dục; hoặc là sắc hệ thuộc cõi Dục, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục; hoặc là sắc không hệ thuộc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục.

Hỏi: Các sắc quá khứ thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo quá khứ chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biêt:

1. Có sắc quá khứ mà không phải là Đại chủng sở tạo quá khứ, đó là Đại chủng quá khứ, nguyên cớ như trước.

2. Có sắc là Đại chủng sở tạo quá khứ mà không phải là quá khứ, đó là sắc vị lai-hiện tại, Đại chủng sở tạo quá khứ. Điều này lại là thế nào? Đó là Biểu đã khởi lên Vô biểu vị lai-hiện tại, Đại chủng sở tạo quá khứ, bởi vì dựa vào Biểu của quá khứ.

3. Có sắc quá khứ cũng là Đại chủng sở tạo quá khứ, đó là sắc quá khứ, Đại chủng sở tạo quá khứ. Điều này lại là thế nào? Đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối quá khứ, Vô biểu tùy tâm chuyển, do Biểu mà khởi lên Vô biểu.

4. Có sắc không phải là quá khứ cũng không phải là Đại chủng sở tạo quá khứ, đó là Đại chủng vị lai-hiện tại; hoặc là sắc vị lai-hiện tại, Đại chủng sở tạo hiện tại; hoặc là sắc vị lai, Đại chủng sở tạo vị lai.

Hỏi: Các sắc vị lai thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo vị lai chăng?

Đáp: Các sắc là Đại chủng sở tạo vị lai thì tất cả sắc ấy là vị lai. Điều này lại là thế nào? Đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối thuộc vị lai, Vô biểu tùy tâm chuyển; hoặc là do Biểu mà khởi lên Vô biểu, Đại chủng sở tạo thuộc vị lai, bởi vì dựa vào Biểu của vị lai. Có sắc vị lai mà không phải là Đại chủng sở tạo vị lai, đó là Đại chủng thuộc vị lai; hoặc là sắc vị lai, Đại chủng sở tạo quá khứ-hiện tại. Điều này lại là thế nào? Đó là do Biểu mà khởi lên Vô biểu thuộc vị lai, Đại chủng sở tạo thuộc quá khứ-hiện tại, bởi vì dựa vào Biểu thuộc quá khứ-hiện tại.

Hỏi: Các sắc hiện tại thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo hiện tại chăng?

Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:

1. Có sắc hiện tại mà không phải là Đại chủng sở tạo hiện tại, đó là Đại chủng hiện tại; hoặc là sắc hiện tại, Đại chủng sở tạo quá khứ. Điều này lại là thế nào? Đó là do Biểu mà khởi lên Vô biểu hiện tại, Đại chủng sở tạo thuộc quá khứ, nguyên cớ như trước.

Hỏi: Sắc Vô biểu này cũng có Đại chủng sở y thuộc hiện tại, vì sao không nói?

Đáp: Bởi vì sắc ấy là dựa vào Chuyển chứ không phải là dựa vào Tạo. Sắc Vô biểu này có hai loại dựa vào: Một là dựa vào Chuyển(chuyển y), đó là Đại chủng hiện tại, nhờ vào lực ấy mà chuyển; Hai là dựa vào Tạo(tạo y), đó là Đại chủng quá khứ, nhờ vào lực ấy mà tạo. Trong này chỉ nói đến dựa vào Tạo, không nói đến dựa vào Chuyển, vì vậy cho nên không nói đến Năng tạo, bởi vì năm nhân đều là quá khứ.

2. Có sắc là Đại chủng sở tạo hiện tại mà không phải là hiện tại, đó là sắc vị lai, Đại chủng sở tạo hiện tại. Điều này lại là thế nào? Đó là do Biểu mà khởi lên Vô biểu thuộc vị lai, Đại chủng sở tạo thuộc hiện tại, nguyên cớ như trước.

3. Có sắc là hiện tại cũng là Đại chủng sở tạo hiện tại, đó là sắc hiện tại, Đại chủng sở tạo hiện tại. Điều này lại là thế nào? Đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối hiện tại, Vô biểu tùy tâm chuyển; hoặc là do Biểu mà khởi lên Vô biểu thuộc hiện tại, Đại chủng sở tạo hiện tại, bởi vì dựa vào Biểu thuộc hiên tại.

4. Có sắc không phải là hiện tại cũng không phải là Đại chủng sở tạo hiện tại, đó là Đại chủng thuộc quá khứ-vị lai; hoặc là sắc quá khứ, Đại chủng sở tạo thuộc quá khứ-vị lai; hoặc là sắc vị lai, Đại chủng sở tạo thuộc vị lai.

Địa là thế nào? Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi ngờ có được quyết định, nghĩa là trong luận này phần nhiều nói về Thắng nghĩa. Hoặc là có người sinh ra nghi ngờ: Người soạn luận ấy chỉ khéo về Thắng nghĩa, chứ không khéo về Thế tục. Vì làm cho mối nghi ấy được quyết định, hiển bày Địa giới… cùng với Địa… khác nhau, cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Địa là thế nào?

Đáp: Hiển bày hình sắc, đây là Địa thi thiết theo tưởng thuộc Thế tục, nghĩa là thế gian đối với những hình sắc hiển bày, dựa vào sự giả tưởng như nhau mà thi thiết tên gọi là Địa. Như thế gian nói: Địa xanh- vàng…, Địa dài-ngắn…

Hỏi: Địa giới là thế nào?

Đáp: Tiếp xúc tánh cứng, đây là Thể của Địa tự nhiên tạo ra (năng tạo) thuộc về Thắng nghĩa.

Hỏi: Thủy là thế nào?

Đáp: Hiển bày hình sắc, đây là Thủy thi thiết theo tưởng thuộc Thế tục, nghĩa là thế gian đối với những hình sắc hiển bày, dựa vào sự giả tưởng như nhau mà thi thiết tên gọi là Thủy. Như thế gian nói: Thủy xanh-vàng…, Thủy dài-ngắn…

Hỏi: Thủy giới là thế nào?

Đáp: Tiếp xúc tánh ướt, đây là Thể của Thủy tự nhiên tạo ra thuộc về Thắng nghĩa.

Hỏi: Hỏa là thế nào?

Đáp: Hiển bày hình sắc, đây là Hỏa thi thiết theo tưởng thuộc Thế tục, nghĩa là thế gian đối với những hình sắc hiển bày, dựa vào sự giả tưởng như nhau mà thi thiết tên gọi của Hỏa. Như thế gian nói: Hỏa xanh-vàng…, Hỏa dài-ngắn…

Hỏi: Hỏa giới là thế nào?

Đáp: Tiếp xúc tánh nóng, đây là Thể của Hỏa tự nhiên tạo ra thuộc về Thắng nghĩa.

Hỏi: Phong là thế nào?

Đáp: Tức là Phong giới.

Hỏi: Phong giới là thế nào?

Đáp: Tiếp xúc tánh động.

Hỏi: Vì sao không nói đến Phong thuộc Thế tục?

Đáp: Bởi vì thế gian đối với Phong không có sự giả tưởng.

Có Sư khác nói: Thế gian đối với Phong cũng khởi lên giả tưởng, nhưng vì ít cho nên không nói. Như thế gian nói: Gió này có bụi, gió này không có bụi, gió Tỳ-thấp-phược, gió Phệ-lam-bà, gió nhỏ-gió lớn, gió cuốn bụi xoáy tròn…

Địa-thủy-hỏa-phong do mấy Xứ thâu nhiếp? Cho đến nói rộng ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?

Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi ngờ có được quyết định, nghĩa là nghe về Địa… mà thế tục đã nói, liền cho rằng không có Thể, không phải là do Xứ thâu nhiếp, không phải là do Thức nhận biết; hoặc là cho rằng giả-thật cùng một Xứ thâu nhiếp, cùng một Thức nhận biết. Vì loại bỏ nghi ngờ ấy để hiển bày về Địa… giả tưởng cũng là Thể có thật, chỉ giả lập về tên gọi, ở trong năm Xứ tùy theo một Xứ thâu nhiếp, ở trong năm Thức tùy theo một Thức nhận biết. Lại hiển bày về giả- thật không cùng chung Xứ thâu nhiếp, không cùng chung Thức nhận biết. Bởi vì những nhân duyên này, cho nên soạn ra phần luận này.

Hỏi: Địa-thủy-hỏa-phong do mấy Xứ thâu nhiếp, do mấy Thức nhận biết?

Đáp: Địa-thủy-hỏa do một Xứ thâu nhiếp, đó là Sắc xứ, bởi vì do mắt mà thấy; do hai Thức nhận biết, đó là Nhãn thức và Ý thức, Nhãn thức giữ lấy tự tướng, Ý thức giữ lấy tự tướng và cọng tướng. Phong do một Xứ thâu nhiếp, đó là Xúc xứ, bởi vì do thân mà có được; do hai Thức nhận biết, đó là Thân thức và Ý thức, giữ lấy tự tướng và cọng tướng như trước nên biết.

Có người nói: Phong này cũng gồm chung Sắc xứ thâu nhiếp, và Nhãn thức nhận biết, nhưng vì ít cho nên không nói đến.

Hỏi: Địa-thủy-hỏa-phong giới do mấy Xứ thâu nhiếp, do mấy Thức nhận biết?

Đáp: Do một Xứ thâu nhiếp, đó là Xúc xứ, bởi vì do thân mà có được; do hai Thức nhận biết, đó là Thân thức và Ý thức, giữ lấy tự tướng và cọng tướng như trước nên biết.

Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên dẫn dắt (năng khiên), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động đẫn dắt (sở khiên)?

Đáp: Nếu số hữu tình đối với số hữu tình, thì chín Xứ tự nhiên dẫn dắt, chín Xứ thụ động dẫn dắt. Nếu số hữu tình đối với số phi hữu tình, thì chín Xứ tự nhiên dẫn dắt, bốn Xứ thụ động dẫn dắt. Nếu số phi hữu tình đối với số phi hữu tình, thì bốn Xứ tự nhiên dẫn dắt, bốn Xứ thụ động dẫn dắt. Nếu số phi hữu tình đối với số hữu tình, thì bốn Xứ tự nhiên dẫn dắt, chín Xứ thụ động dẫn dắt. Như nói về dẫn dắt, duy trì và vận chuyển… cũng như vậy.

Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên hạn lượng (năng lượng), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động hạn lượng (sở lượng)?

Đáp: Bốn Xứ là tự nhiên hạn lượng, bốn Xứ là thụ động hạn lượng, bởi vì năm căn vi diệu không phải là pháp hạn lượng.

Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên cân xứng (năng xưng), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động cân xứng (sở xưng)?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Bốn Xứ là tự nhiên cân xứng, bốn Xứ là thụ động cân xứng. Có Sư khác nói: Bốn Xứ là tự nhiên cân xứng, nặng là thụ động cân xứng.

Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên đốt cháy (năng thiêu), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động đốt cháy?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Bốn Xứ là tự nhiên đốt cháy, bốn Xứ là thụ động đốt cháy. Có Sư khác nói: Nóng là tự nhiên đốt cháy, bốn Xứ là thụ động đốt cháy.

Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên đoạn dứt (năng đoạn), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động đoạn dứt?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Bốn Xứ là tự nhiên đoạn dứt, bốn Xứ là thụ động đoạn dứt. Có Sư khác nói: Tánh cứng là tự nhiên đoạn dứt, bốn Xứ là thụ động đoạn dứt.

Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên rửa sạch (năng tẩy), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động rửa sạch (sở tẩy)?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Bốn Xứ là tự nhiên rửa sạch, bốn Xứ là thụ động rửa sạch.

Có Sư khác nói: Bốn Xứ là tự nhiên rửa sạch, Sắc xứ là thụ động rửa sạch, như nói rửa sạch rồi tươi sáng, hoặc là như sắc vàng sáng ngời.

Lại có người nói: Bốn Xứ là tự nhiên rửa sạch, Xúc xứ là thụ động

rửa sạch, như nói cái ly đựng bột tro để tắm gội đem đến bên hồ ấy, chùi rửa thân thể khiến cho không còn dơ bẩn.

Hoặc có người nói: Bốn Xứ là tự nhiên rửa sạch, mười hai Xứ là thụ động rửa sạch, bởi vì gột rửa cho nên mười hai Xứ bên trong thảy đều trong sáng sạch sẽ lìa hết những xấu xa dơ bẩn.

Hỏi: Bốn Đại chủng này mấy loại có thể làm tai họa?

Đáp: Ba loại, trừ ra Địa.

Hỏi: Vì sao Địa không có thể làm tai họa?

Đáp: Bởi vì không phải là thửa ruộng của tai họa, không phải là đồ chứa của tai họa, cho đến nói rộng ra.

Có người nói: Nhanh nhạy sắc bén mới có thể làm tai họa, tánh của địa chậm chạp cùn đùi không có thể làm tai họa.

Có người nói: Nếu có thể tổn hoại đến sự việc bên trong, thì Đại ấy đối với sự việc bên ngoài cũng có thể làm tai họa, nghĩa là đoạn Mạt-ma gọi là phá hỏng sự việc bên trong, lúc này chỉ có ba Đại, cho nên Địa không phải là tai họa.

Có người nói: Vì phá hỏng Địa cho nên thiết lập tai họa, ba Đại đối với Địa có thể đốt cháy-xâm lấn-đánh động cho nên nói làm tai họa, Địa thì không như vậy.

Có người nói: Nếu Địa cũng làm tai họa, thì phải từ Phong luân cho đến Tĩnh lự thứ nhất đều làm cho kiên cố, hợp lại làm một khối, lúc này mới thành kiếp chứ không phải nói là có thể phá hỏng.

Có người nói: Nếu Địa có thể làm tai họa, thì phải phá hoại đến Tĩnh lự thứ tư, nhưng không có các tai họa phá hỏng đến nơi ấy.

Hỏi: Trong này dựa vào luận mà phát sinh luận, vì sao tai họa của Địa ấy không đến được?

Đáp: Có người nói: Tức là bởi vì Địa không phải là tai họa.

Có người nói: Địa ấy nếu là tai họa đến được, vậy thì sẽ không có đỉnh cao nhất của tai họa, nghĩa là ba Tĩnh lự trên như thứ tự có thể làm đỉnh của ba tai họa. Nếu Tĩnh lự thứ tư do tai họa mà phá hỏng, thì lại không có nơi nào làm đỉnh cao của tai họa, bởi vì các Vô sắc không có nơi chốn.

Có người nói: Muốn tránh các cõi trời Tịnh Cư, bởi vì ở cõi đó lại không có nghĩa sinh lên phía trên. Nếu cõi ấy do tai họa đã đến được, thì trời Tịnh Cư không có ai hết thọ mạng mà Niết-bàn. Nếu như vậy thì làm sao biết thọ lượng của cõi ấy? Nếu nói cũng có người hết thọ mạng mà Niết-bàn, vậy thì tai họa của Địa ấy không biết từ đau mà khởi lên? Như nói: Nếu nơi nào thậm chí chỉ còn sót lại một loài kiến tồn tại thì tai họa sẽ không hủy hoại.

Có người nói: Nếu nơi nào có tai họa bên trong thì nơi ấy có tai họa bên ngoài, Tĩnh lự thứ tư không có tai họa bên trong cho nên tai họa bên ngoài không lan đến, nghĩa là bên trong Tĩnh lự thứ nhất có tầm-tứ như lửa, cho nên bên ngoài có tai họa của lửa; bên trong Tĩnh lự thứ hai có vui sướng như nước, cho nên bên ngoài có tai họa của nước; bên trong Tĩnh lự thứ ba có gió của hơi thở ra vào, cho nên bên ngoài có tai họa của gió; Tĩnh lự thứ tư lại không có tai họa bên trong, cho nên tai họa bên ngoài đều không có thể đến được.

Hỏi:Lúc tai họa của lửa khởi lên thì lửa từ đâu phát ra?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Lúc thế giới thành lập có bảy vầng mặt trời cùng lúc mà khởi lên, duy trì ở phía sau hai núi ẩn kín mà trú, sau đó ở nơi ấy một vầng mặt trời lên cao, vòng quanh Tô-mê-lô để mà chiếu rọi ánh sáng, đến lúc kiếp sắp hết thì tai họa của lửa khởi lên, sáu vầng mặt trời còn lại dần dần mà xuất hiện, bởi vì thế lực ấy cho nên thế giới đã bị hủy hoại.

Có người nói: Lúc thế giới sắp sửa hủy hoại, ngay một vầng mặt trời phân ra làm thành bảy mặt trời, bởi vì thế lực ấy cho nên thế giới đã bị hủy hoại.

Có người nói: Ngay một vầng mặt trời đến lúc kiếp sắp tận cùng, trở thành sức nóng gấp bảy lần đốt cháy cả thế giới.

Có người nói: Bảy vầng mặt trời trước đó ẩn kín dưới lòng đất, sau đó dần dần xuất hiện với tác dụng như trước.

Nói như vậy thì lực tăng thượng do nghiệp của các loài hữu tình khiến cho thế giới thành lập, đến lúc cuối cùng của kiếp bởi vì lực của nghiệp không còn, tùy theo nơi tiếp cận có tai họa của lửa sinh ra, cho đến cung trời cõi Phạm đều bị đốt cháy.

Hỏi: Lúc tai họa của nước khởi lên thì nước từ đâu phát ra?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Phía Tĩnh lự thứ ba mưa xuống nước tro nóng, từ đây cho đến cõi trời Cực Quang Tịnh đều bị nhấn chìm trong nước.

Có người nói: Từ dưới tầng Thủy luân vọt lên, bởi vì thế lực ấy cho nên thế giới đã bị hủy hoại.

Nói như vậy thì bởi vì lực tăng thượng do nghiệp của các loài hữu tình khiến cho thế giới thành lập, đến lúc cuối cùng của kiếp bởi vì lực của nghiệp không còn, tùy theo nơi tiếp cận có tai họa của nước sinh ra.

Bởi vì nhân duyên ấy cho nên thế giới đã bị hủy hoại.

Hỏi: Lúc tai họa của gió khởi lên thì gió từ đâu phát ra?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Phía Tĩnh lự thứ tư có luồng gió lớn là Bạn-điệp-bà bất ngờ nổi lên, trăm câu-chi cõi ở tầng Kim luân vây quanh núi chúa Diệu Cao… đều bị nhổ bật, khiến cho va chạm lẫn nhau quay cuồng lẫn lộn trên dưới, như nắm bột rang rải ra giữa hư không.

Có Sư khác nói: Từ dưới tầng Phong luân có gió mạnh nổi lên, thổi đến làm phân tán thế giới.

Nói như vậy thì bởi vì lực tăng thượng do nghiệp của các loài hữu tình khiến cho thế giới thành lập, đến lúc cuối cùng của kiếp bởi vì nghiệp lực không còn, tùy theo nơi tiếp cận có tai họa của gió sinh ra, cho đến cõi trời Biến Tịnh đều bị phân tán hủy hoại.

Hỏi: Lúc ba tai họa khởi lên thì tất cả mọi vật bên ngoài đều bị chuyển biến thuận theo tai họa ấy chăng?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Mọi vật đều biến chuyển thuận theo, nghĩa là lúc thế giới này khởi lên tai họa của lửa, tất cả mọi vật bên ngoài thảy đều khô và nhẹ, giống như cỏ khô-bông tơ-phấn hoa; lúc lửa vừa mới tiếp xúc hễ cháy thì không còn. Nếu tai họa của nước khởi lên thì tất cả mọi vật bên ngoài, đều bị tan thành nước như viên kẹo…; lúc nước vừa mới tiếp xúc thì liền tiêu tan hủy hoại. Nếu tai họa của gió khởi lên thì tất cả mọi vật bên ngoài, đều bị phân tán rời ra như nắm cát bột; lúc gió vừa mới tiếp xúc thì liền phân tán hủy hoại. Nếu như vậy thì các pháp sẽ rời bỏ tự tướng.

Nói như vậy thì lúc ba tai họa khởi lên, các vật cứng-ướt… cũng không có gì chuyển biến, nhưng bởi vì lực tăng thượng do nghiệp của hữu tình, khiến cho ba tai họa khởi lên có thể hủy hoại tất cả mọi vật khó hủy hoại.

Như vậy, ba tai họa cùng với những sự hủy hoại, chắc chắn là do Đồng phần của cõi và địa thâu nhiếp. Nghĩa là tai họa của cõi Dục có thể hủy hoại cõi Dục, tai họa của Tĩnh lự thứ nhất hủy hoại Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Tĩnh lự thứ ba cũng như vậy.

Hỏi: Nếu như vậy thì trong kinh nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Mặt đất- núi Diệu Cao… thảy đều xuyên thủng, gió thổi hết lửa lần lượt chuyển vòng cho đến cháy thấu trên cung cõi Phạm. Cõi trời Cực Quang Tịnh có hữu tình sinh sống chưa bao lâu, không có thể biết rõ ràng đối với sự thành lập và hủy hoại của kiếp, thấy rồi kinh sợ liền dấy lên ý niệm này: Đừng để cho ngọn lửa ấy đốt cháy hết cung cõi Phạm. Nên trở lại đốt cháy cõi này.”

Đáp: Nên biết kinh ấy dựa vào sự nối tiếp nhau mà nói, nghĩa là lửa cõi Sắc nối tiếp cõi Dục sinh ra, ngọn lửa ấy đốt cháy cung cõi Phạm, chứ không phải là lửa của cõi Dục. Nước và gió nối tiếp nhau dựa theo đây nên biết.

Hỏi: Ba tai họa này khởi lên trước sau thế nào?

Đáp: Ba tai họa của lửa-nước-gió trước sau như thứ tự, nhưng không phải là ba loại tiếp theo nhau mà sinh khởi, nghĩa là bảy tai họa của lửa theo thứ tự khởi lên trước, sau đó mới có một tai họa của nước sinh khởi. Như vậy trải qua bốn mươi chín kiếp thuộc lửa, và bảy kiếp thuộc nước; lại bảy tai họa của lửa, từ đó không gián đoạn mới có một tai họa của gió sinh khởi, bởi vì kiếp thuộc gió và nước đều sinh khởi tiếp sau lửa, cho nên kiếp thuộc lửa ba mà liên tục sinh khởi. Vì vậy dễ dàng giải thích về sáu mươi bốn kiếp thọ của cõi trời Biến Tịnh.

Như vậy đã nói là số lượng của Đại kiếp, mỗi một Đại kiếp đều có tám mươi Trung kiếp, bởi vì thành-trú-hoại-không đều là hai mươi kiếp. Vả lại, lúc bắt đầu kiếp thuộc lửa sắp đốt cháy hủy hoại, tuổi thọ của người ở châu Thiệm Bộ là tám vạn tuổi, an ổn vui sướng đầy đủ, loài người rất đông, thôn xóm thành ấp yên bình, gà bay-thú chạy bên nhau, con người phần nhiều tu tập mười nghiệp đạo thiện. Từ đây về sau hữu tình trong Nại-lạc-ca mạng chung không sinh trở lại nơi ấy, lúc bấy giờ đã vượt qua hai mươi kiếp Trú. Hai mươi kiếp Hoại bắt đầu từ đây, hữu tình địa ngục từ đây dần dần giảm bớt cho đến cuối cùng không có một hữu tình nào sót lại, gọi là cõi của hữu tình địa ngục hủy hoại. Tiếp theo là hủy hoại bàng sinh, tiếp theo là hủy hoại ngạ quỷ, mỗi một tướng hủy hoại nói như địa ngục. Tiếp theo là hủy hoại các hữu tình ở châu Thiệm bộ.

Hỏi: Bàng sinh và ngạ quỷ hủy hoại trước loài người, trong loài người cần đến những vị như sữa đặc…, những sự việc như kéo cày… làm sao có thể có được?

Đáp: Có người nói: Do lực tăng thượng thuộc nghiệp của loài người, có vật phi tình tựa như bàng sinh hiện ra, sản sinh những vị như sữa… làm các sự nghiệp.

Hỏi: Thân người đang có tám vạn loài trùng làm duyên duy trì khiến thân nối tiếp nhau, lúc ấy đã thiếu mất thì thân làm sao tồn tại?

Đáp: Lúc bấy giờ thân con người thuận theo pháp như vậy có thể tồn tại; như thân của các Bồ-tát và Chuyển Luân vương, tuy không có các loài trùng mà pháp tồn tại như vậy.

Nói như vậy thì trong các biển rộng là nơi cư trú chủ yếu của các loài bàng sinh, nếu đến lúc ở đó không còn có một bàng sinh nào, thì gọi là cõi của hữu tình bàng sinh hủy hoại. Nếu loài bàng sinh và loài người… ở xen lẫn, lúc loài người… hủy hoại thì bàng sinh mới hủy hoại theo. Hữu tình loài quỷ hủy hoại tương tự như vậy nên biết.

Nhưng loài người ở châu Thiệm Bộ sắp hủy hoại, lúc bấy giờ pháp vốn như vậy có một hữu tình, không có thầy mà tự mình suy nghĩ tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, từ Định ấy đứng dậy nói ra lời như vậy: Tĩnh lự thứ nhất này rất vui thích-rất yên lặng. Lần lượt chuyển vòng nói rộng ra khắp châu Thiệm Bộ, người nghe thâu nhiếp tâm tư đều tiến vào Định thứ nhất, từ đây xả bỏ tuổi thọ sinh lên cõi trời Phạm, hữu tình trong châu Thiệm Bộ dần dần giảm bớt, cho đến cuối cùng không có một hữu tình nào sót lại, gọi là cõi của hữu tình châu Thiệm Bộ hủy hoại. Tiếp theo là hủy hoại châu Tỳ-đề-ha, tiếp theo là hủy hoại châu Cù-đà-ni, mỗi một tướng hủy hoại nói như châu Thiệm Bộ. Châu Bắc Câu-lô như ba nẽo ác, không có người đạt được Tĩnh lự sinh đến cõi Phạm Thế, nhưng tuổi thọ ở đó hết rồi chắc chắn sinh đến trời cõi Dục, cho đến lúc cõi của hữu tình nơi ấy không còn, gọi là cõi của hữu tình Bắc Câu-lô hủy hoại. Loài người hủy hoại rồi, các cõi trời Tứ Đại Vương vào lúc bấy giờ pháp vốn như vậy có một hữu tình đạt được Tĩnh lự thứ nhất, từ Định ấy đứng dậy nói ra lời như trước; cho đến lúc cõi của hữu tình nơi ấy không còn, gọi là cõi của hữu tình trong loài trời ấy hủy hoại. Tiếp theo là hủy hoại cõi trời Tam Thập Tam, tiếp theo hủy hoại cõi trời Dạ Ma, tiếp theo hủy hoại cõi trời Đổ-sử-đa, tiếp theo hủy hoại cõi trời Lạc Biến Hóa, tiếp theo hủy hoại cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Mỗi một tướng hủy hoại nói như cõi trời thứ nhất.

Hữu tình cõi Dục lần lượt hủy hoại rồi, lúc ấy ở Tĩnh lự thứ nhất có một hữu tình, pháp vốn như vậy có thể tiến vào Tĩnh lự thứ hai, từ Định ấy đứng dậy nói ra lời như vậy: Tĩnh lự thứ hai rất vui thích-rất yên lặng. Như vậy âm thanh lần lượt chuyển vòng nói rộng ra khắp cung cõi Phạm, người nghe thâu nhiếp tâm tư tiến vào Tĩnh lự thứ hai, mạng chung đều sinh đến trong cõi trời ấy, hữu tình ở cõi trời Tĩnh lự thứ nhất dần dần giảm bớt, cho đến cuối cùng không có một hữu tình nào sót lại, gọi là cõi của hữu tình cõi trời Phạm hủy hoại.

Như vậy cõi Dục và các cung cõi Phạm, trống rỗng lâu dài, không có loài hữu tình, mặt đất và các núi ở châu Thiệm Bộ trải qua thời gian dài trời không tuôn mưa, tất cả các loại cỏ cây thảy đều khô cháy, lại không sinh ra nữa, thậm chí hoàn toàn không còn.

Trải qua thời gian dài lại có vầng mặt trời thứ hai xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy ao hồ khe suối khô cạn, thậm chí khiến cho nơi ấy hoàn toàn không có hơi nước thấm ướt.

Trải qua thời gian dài lại có vầng mặt trời thứ ba xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy tất cả sông ngòi khô cạn, thậm chí khiến cho nơi ấy hoàn toàn không có hơi nước thấm ướt.

Trải qua thời gian lâu dài lại có vầng mặt trời thứ tư xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy hồ Vô Nhiệt Não khô cạn. Hồ này chính là nơi phát xuất của bốn dòng sông lớn, đó là sông Căng-già, Tín-độ, Phược-sô và Tư-đa, thậm chí khiến cho bốn dòng sông ấy hoàn toàn không có hơi nước thấm ướt.

Trải qua thời gian dài lại có vầng mặt trời thứ năm xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy biển rộng dần dần khô cạn, thậm chí khiến cho biển rộng hoàn toàn không có hơi nước thấm ướt.

Trải qua thời gian dài lại có vầng mặt trời thứ sáu xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy mặt đất-núi Diệu Cao… thảy đều khô cháy phát ra khói lửa mù mịt.

Trải qua thời gian lâu dài lại có vầng mặt trời thứ bảy xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy mặt đất-núi chúa Diệu Cao…, cùng lúc phát ra lửa đốt cháy trong ngoài, cho đến cung cõi Phạm thảy đều cháy rụi. Trên từ cõi Phạm Thế-dưới đến tầng Phong luân, khắp nơi đều bị đốt cháy không còn gì ngoài tro bụi. Như bơ sữa… lúc đốt cháy tận cùng, không có gì sót lại; ở đây cũng như vậy, lúc bấy giờ trong cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất thảy đều trống rỗng, hoàn toàn không có gì. Hai mươi kiếp Hoại lúc này đã vượt qua, hai mươi kiếp Không bắt đầu từ đây.

Hỏi: Mấy kiếp hủy hoại hữu tình, mấy kiếp hủy hoại xứ sở?

Đáp: Có người nói: Mười kiếp hủy hoại hữu tình, mười kiếp hủy hoại xứ sở. Có người nói: Mười lăm kiếp hủy hoại hữu tình, năm kiếp hủy hoại xử sở.

Nói như vậy thì mười chín kiếp hủy hoại hữu tình, một kiếp hủy hoại xứ sở, bởi vì nghiệp khác nhau khó chuyển chứ không phải là nghiệp giống nhau.

Như vậy thế giới hủy hoại trải qua thời gian dài, ở giữa hư không phía dưới có gió nhẹ khởi lên, hai mươi kiếp Không lúc này đã vượt qua, hai mươi kiếp Thành bắt đầu từ đây. Gió nhẹ đã khởi lên dần dần rộng ra-dần dần dày lên, trải qua thời gian dài cuộn lại và kết thành vòng tròn, dày đến số lượng là mười sáu Du-thiện-na, rộng thì vô số lượng, Thể của nó cứng chặt, giả sử có một Đại Nặc-kiện-na(đại lực thần), dùng vòng Kim cang ra sức đánh vào, vòng Kim cang có lúc bể nát mà tầng Phong luân không tổn hại gì. Tiếp theo có vầng mây nổi lên trút mưa trên tầng Phong luân, giọt mưa lớn như trục xe, tích nước làm thành vòng tròn. Như vậy tầng Thủy luân ở giai đoạn chưa ngưng tụ, sâu mười một ức hai vạn Du-thiện-na.

Có người nói: Số lượng về bề rộng cùng với tầng Phong luân bằng nhau.

Có người nói: Nhỏ hẹp phân thành một trăm Câu-chi. Một trăm vòng Câu-chi, số lượng ấy đều bằng nhau, nghĩa là kéo thẳng mười hai ức ba ngàn bốn trăm năm mươi; số lượng vòng quanh bằng gấp ba lần, nghĩa là ba mươi sáu ức một vạn ba trăm năm mươi Du-thiện-na. Nước này không chảy sát bên cạnh, bởi vì nghiệp lực của hữu tình.

Có Sư khác nói: Do lực của gió đã gom lại, tiếp theo ở tầng Thủy luân, có gió khác khởi lên, gom lại đánh vào trên mặt nước này kết thành vàng, chính tầng Kim luân này dày ba ức hai vạn, tầng Thủy luân liền giảm bớt, chỉ sâu tám Lạc-ca.

Có người nói: Tầng Kim luân rộng như số lượng của nước.

Có Sư lại nói: Bề rộng ít hơn tầng Thủy luân. Tiếp theo có vầng mây nổi lên trút mưa trên tầng Kim luân, giọt mưa lớn như trục xe, trải qua thời gian lâu dài, tích nước rất nhiều sâu quá tám vạn, gió mạnh gom lại đánh vào làm thay đổi sinh ra các vật báu. Lại có luồng gió khác tách ra làm cho khác biệt, nghĩa là phân chia đất quý báu làm thành các núi-các châu, phân nước ngọt- mặn làm phạm vi trong-ngoài biển. Đầu tiên dùng bốn thứ báu vi diệu tạo thành núi Tô-mê-lô, nhô lên cao vút giữa biển ở trên tầng Kim luân, nghĩa là bốn mặt như thứ tự Bắc-Đông-Nam-Tây là vàng, bạc, phệ lưu ly, pha-chi-ca quý báu, tùy theo uy đức của vật báu mà sắc màu hiện rõ giữa bầu trời, vì vậy bầu trời của châu Thiệm Bộ tựa như màu sắc của phệ lưu ly. Núi này nhô lên khỏi mặt nước tám vạn Du-thiện-na, phần chìm trong nước cũng như vậy, đoan nghiêm đáng yêu. Tiếp đến dùng vật báu là vàng tạo thành bảy núi vàng, vây quanh núi Tô-mê-lô ở trên tầng Kim luân, phần chìm vào trong nước số lượng giống như núi Tô-mê-lô, phần nhô lên khỏi mặt nước hướng về nhau đều giảm một nửa. Tiếp đến dùng đất-đá… tạo thành bốn châu lớn, phía dưới dựa vào tầng Kim luân vây quanh bên ngoài núi vàng. Cuối cùng dùng sắt thép tạo thành núi vây tròn xung quanh, ở phía ngoài bốn châu như bức tường vây quanh, nhô lên khỏi mặt nước giảm bớt một nửa so với núi vàng thứ bảy, phần ở trong nước có số lượng giống như núi Tô-mê-lô… Số lượng bề rộng của các núi đều giống như số lượng nhô lên khỏi mặt nước. Giữa bảy núi vàng có bảy biển ở bên trong, trong đó chứa đầy nước tám công đức; phía ngoài bảy núi vàng có biển nước mặn, tám biển lớn này đều sâu tám vạn Duthiện-na, số lượng bề rộng của bảy biển trước như núi bao quanh.

Biển thứ tám, có người nói: Rộng ba ức hai vạn hai ngàn Duthiện-na.

Có người nói: Lại tăng thêm một ngàn hai trăm tám mươi bảy Duthiện-na rưỡi.

Núi Tô-mê-lô có bốn tầng xếp lên nhau, tầng thứ nhất nhô ngang một vạn sáu ngàn, tiếp đến ba tầng trên đều giảm một nửa, bốn tầng cách nhau với số lượng đều là mười ngàn.

Có người nói: Phần dưới của tầng thứ nhất bằng số lượng của phần chìm trong nước, hai tầng tiếp theo cách tầng dưới với số lượng đều là mười ngàn, tầng thứ tư cách tầng dưới là hai vạn. Bốn mặt của bốn tầng giống như núi Diệu Cao, do bốn thứ báu mà tạo thành trang nghiêm thù thắng vi diệu. Bốn tầng như sau: Kiên Thủ, Trì Man, Hằng Kiều, Tứ Vương Thiên Chúng cư trú duy trì hai núi…, trên bảy núi vàng cũng có thôn ấp thuộc quyền cai quản của Tứ Vương, các trời như Nhật- Nguyệt… ở bốn bậc của bảy núi, đều là thuộc về cõi trời Tứ Đại Vương Chúng, cõi trời này rộng nhất trong trời cõi Dục. Từ tầng thứ tư lại có bốn vạn Du-thiện-na, đến đỉnh núi Tô-mê-lô, là trú xứ của cõi trời Tam Thập Tam, đỉnh núi này bốn mặt đều là hai mươi ngàn; nếu dựa vào chu vi thì số lượng thành tám vạn.

Có Sư khác nói: Mỗi mặt đều là tám mươi ngàn, cùng với bốn phía của phần dưới thì số lượng ấy bằng nhau. Bốn góc của đỉnh núi đều có một ngọn núi, số lượng cao rộng ấy đều có năm trăm, có thần Dược Xoa tên gọi Kim Cang Thủ, cư trú trong đó bảo vệ các trời. Ở giữa đỉnh núi có thành tên gọi Thiện Kiến, mỗi mặt là hai ngàn rưỡi, chu vi là một vạn Du-thiện-na, thành bằng vàng cao với số lượng là một Du-thiện-na rưỡi, đất ở đó bằng phẳng do vàng ròng tạo thành, đều dùng một trăm lẻ một vật báu xen lẫn để trang nghiêm, mặt đất chạm vào mềm mại như tơ lụa Đố La, lúc đặt chân vào lún xuống ngang đầu gối tùy theo chân cao thấp, có gió nhẹ khởi lên thổi đi những hoa héo, khiến cho hoa tươi đẹp rải khắp mặt đất ấy, là thành lớn làm nơi đóng đô của Thiên Đế Thích. Thành có một ngàn cửa trang hoàng rất tráng lệ, cửa thành có năm trăm Dược Xoa áo xanh, mạnh khỏe đoan nghiêm với số lượng Duthiện-na, đều mặc giáp phục-cầm binh khí canh giữ cửa thành. Ở trong thành ấy có điện Thù Thắng, trang nghiêm đầy đủ các loại vật báu vi diệu, che mờ cung trời khác cho nên gọi là Thù Thắng, mỗi mặt là hai trăm năm mươi, chu vi là một ngàn Du-thiện-na. Bốn góc của thành ấy có bốn đài cao, dùng bốn thứ báu như vàng bạc… mà tạo thành, đủ loại trang nghiêm thật đáng yêu thích. Bốn phía bên ngoài thành trang nghiêm bốn khu vườn, là nơi cùng nhau dạo chơi vui thú của chư Thiên cõi ấy:

1. Khu vườn Chúng Xa, đó là trong khu vườn này tùy theo phước lực của chư Thiên mà các loại xe hiện ra.

2. Khu vườn Thô Ác, lúc chư Thiên sắp đánh trận tùy theo những sự cần thiết mà các loại giáp phục binh khí hiện ra.

3. Khu vườn Tạp Lâm, chư Thiên đi vào trong đó ngắm nhìn đều giống như nhau, cùng sinh ra niềm vui thù thắng.

4. Khu vườn Hỷ Lâm, trần cảnh dục lạc khác loại rất vi diệu đều tập trung trải qua ngắm nhìn không hề thỏa mãn. Như vậy hình dạng của bốn khu vườn đều vuông vức, mỗi một khu vườn có chu vi với số lượng một ngàn Du-thiện-na, chính giữa đều có một hồ Như Ý, mỗi phía đều có số lượng năm mươi Du-thiện-na, trong hồ ấy chứa đầy nước tám công đức, tùy theo ý muốn hoa đẹp- thuyền báu-chim xinh, tất cả đều đẹp đẽ kỳ lạ, đủ loại trang nghiêm. Bốn phía của bốn khu vườn có bốn khu đất tuyệt diệu, phần giữa cách khu vườn đều là hai mươi Duthiện-na, đất mỗi một phía có số lượng đều hai trăm, là nơi dạo chơi vui thú tốt đẹp của các Thiên chúng, chư Thiên ở nơi ấy so tài hơn kém và chơi đùa vui vẻ. Bên ngoài thành ở phía Đông Bắc có cây Viên Sinh, là nơi hưởng thụ dục lạc của trời Tam Thập Tam, gốc rễ sâu rộng năm Du-thiện-na, cao vút lên phía trên, cành nhánh phân bố cao rộng với số lượng bằng một trăm Du-thiện-na, lá trải ra-hoa nở rộ-tỏa hương tuyệt vời ngạt ngào thơm phức, thuận theo làn gió xông khắp một trăm Duthiện-na, nếu lúc ngược gió thì vẫn tỏa hương khắp năm mươi Du-thiệnna. Bên ngoài thành ở góc Tây Nam có tòa nhà Đại Thiện Pháp, trời Tam Thập Tam thường vào ngày mồng tám-ngày mười bốn-ngày mười lăm mỗi nửa tháng, tập hợp trong tòa nhà này để luận bàn tường tận về trời- người, và chế phục A-tố-lạc… Sự việc đúng như pháp hay không đúng như pháp, những loại như vậy nơi khác nói nhiều.

********

Đã nói về sự thành lập tầng Phong luân-Thủy luân-Kim luân và các biển- các núi- các châu làm xứ sở của Địa cư rồi, tiếp đến nói về sự thành lập Không cư làm nơi chốn cung điện cư trú của chư Thiên như cõi trời Đại Phạm… Nhưng cung điện ấy, có người nói: Dựa vào hư không. Có người nói: Mây dày trải khắp giữa hư không, giống như mặt đất, làm nơi nương tựa của cung điện ấy, bởi vì ngoài khí thế gian, đến Sắc Cứu Cánh, thì phía trên là Vô sắc cho nên không có thể thi thiết được.

Hỏi: Từ cõi trời Dạ Ma đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, nơi nương tựa dùng mây làm đất thì số lượng ấy như thế nào?

Đáp: Có người nói: Từ cõi trời Dạ Ma đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại dùng mây làm đất, đều giống như số lượng trên đỉnh núi Diệu Cao; cõi Sắc dùng mây làm đất thì phần dưới hẹp-phần trên rộng, nghĩa là Địa của Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-thứ ba-thứ tư, như thứ tự bằng số lượng các thế giới trong Tiểu thiên-Trung thiên-Đại thiên ở bốn châu ấy.

Có Sư khác nói: Cung điện của cõi trời Dạ Ma dùng mây làm đất, gấp bội so với đỉnh núi Diệu Cao; cho đến cung điện của cõi trời Tha Hóa Tự Tại dùng mây làm đất, so với trước lần lượt chuyển tiếp gấp bội lẫn nhau. Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-thứ ba như thứ tự, bằng số lượng thế giới ở Tiểu thiên-Trung thiên-Đại thiên; Tĩnh lự thứ tư thì số lượng ấy là vô biên. Vì vậy, nếu dựa vào Tĩnh lự thứ tư, khởi lên Hữu thân kiến thì rất khó đoạn trừ, bởi vì chấp vào Địa vô biên làm Ngã.

Hỏi: Địa của Tĩnh lự thứ tư, nếu như vô biên thì tai họa vốn không đến được, lẽ nào không phải là thường trú hay sao?

Đáp: Bởi vì sát-na vô thường cho nên không có lỗi này.

Có người nói: Trong Địa của Tĩnh lự thứ tư, cung điện đã nương tựa đều nhất định là vô thường. Nghĩa là bởi vì cung điện của địa ấy tùy theo lúc sinh-lúc chết của chư Thiên của cõi ấy cho nên cùng khởi lên- mất đi.

Cách nói này không hợp lý. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì theo lý thì không có hữu tình nào cùng chung xứ sở của nghiệp(khí- nghiệp), vì vậy như trước đã nói là hợp lý.

Các khí thế gian đã thành lập rồi, ban đầu có một hữu tình ở cõi trời Cực Quang Tịnh, bởi vì thọ mạng- nghiệp-phước tùy theo đã hết, cho nên từ cõi ấy chết rồi sinh đến cung trời Đại Phạm, về sau các hữu tình cũng từ cõi ấy chết đi có người sinh đến cõi Phạm Phụ, có người sinh đến cõi Phạm Chúng, có người sinh đến cung trời Tha Hóa Tự Tại, dần dần sinh xuống phía dưới, cho đến loài người ở Bắc châu làm đầu tiên, tiếp đến Cù-đà-ni, tiếp đến Tỳ-đề-ha, sau sinh ở Thiệm Bộ, tiếp đến sinh ở loài quỷ, tiếp đến sinh ở loài bàng sinh, sau sinh vào địa ngục. Bởi vì lực của pháp vốn như vậy, cho nên nếu xứ sở sau là Không thì nơi ấy nhất định Trú trước, nếu xứ sở trước là Không thì nơi ấy nhất định Trú sau. Nếu Đại địa ngục có một hữu tình sinh đến, thì lúc bấy giờ đã vượt qua hai mươi kiếp Thành, hai mươi kiếp Trú bắt đầu từ đây.

Hỏi: Mấy kiếp khí thế gian Thành, mấy kiếp hữu tình dần dần Trú?

Đáp: Có người nói: Mười kiếp khí thế gian Thành, mười kiếp hữu tình dần dần Trú. Có người nói: Năm kiếp khí thế gian Thành, mười lăm kiếp hữu tình dần dần Trú.

Nói như vậy thì một kiếp khí thế gian Thành, mười chín kiếp hữu tình dần dần Trú.

Hỏi: Giới hạn mấy thế giới cùng lúc Hoại-cùng lúc Thành?

Đáp: Có người nói: Giới hạn trong một trăm Câu-chi thế giới thuộc bốn Đại châu.

Có người nói: Vô số thế giới cùng lúc Hoại-cùng lúc Thành. Vì sao biết như vậy? Bởi vì lấy kinh làm lượng. Như trong kinh nói: “Đức Phật bảo với Tỳ kheo: Mắt của Ta thanh tịnh hơn hẳn mắt loài người, thấy vô số thế giới ở phương Đông…, hoặc có thế giới đang Hoại, hoặc có thế giới đã Không, hoặc có thế giới đang Thành, hoặc có thế giới đã Trú, như trời tuôn mưa lớn, giọt mưa giống như trục xe, không có gián đoạn-không có thiếu sót.” Ở đây cũng như vậy.

Hỏi: Vì sao tất cả các thế giới không cùng lúc Hoại-cùng lúc Thành?

Đáp: Bởi vì nghiệp của các hữu tình không như nhau. Nghĩa là loài hữu tình ở xứ sở này tăng trưởng về cọng nghiệp thì thế giới sẽ Thành, nếu cọng nghiệp không còn thì thế giới sẽ Hoại. Vả lại, loài hữu tình ở xứ sở ấy nếu nghiệp thanh tịnh tăng lên thì thế giới này sẽ Hoại, nếu nghiệp thanh tịnh giảm bớt thì thế giới này sẽ Thành.

Hỏi: Nếu các hữu tình vào lúc kiếp sắp Hoại còn lại nửa kiếp, bởi vì phá hoại sự hòa hợp của Tăng, thì rơi vào địa ngục vô gián có chết yểu hay không? Nếu có chết yểu thì nơi ấy làm sao cảm đến thọ mạng một kiếp? Nếu không chết yểu thì nơi ấy vào lúc kiếp Hoại lẽ nào không dừng lại? Như trong kinh nói: “Nếu nơi nào thậm chí có một trứng kiến tồn tại thì tai họa sẽ không hủy hoại.” Huống là nơi ấy còn tồn tại hay sao?

Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Nơi ấy không có chết yểu.

Hỏi: Nếu như vậy thì nơi ấy vào lúc kiếp Hoại lẽ nào không dừng lại hay sao?

Đáp: Lúc kiếp sắp Hoại, do lực tăng thượng của nghiệp, di chuyển đưa vào trong Đại địa ngục ở cõi khác, ví như ở kinh đô có sự việc vui mừng tốt đẹp, trước phải di chuyển người có tội rất nặng đưa vào trong ngục giam ở nơi hẻo lánh, sau đó ở chốn kinh đô mới ban lệnh ân xá.

Có Sư khác nói: Lúc kiếp sắp Hoại, bởi vì pháp vốn như vậy cho nên tâm niệm của hữu tình điều hòa thuần thiện, đối với những tội nặng khác hãy còn tự nhiên không làm, huống gì có người phá hoại sự hòa hợp của Tăng hay sao?

Lại có người nói: Lúc kiếp sắp hủy hoại, nếu người tạo ra nghiệp vô gián phá Tăng, thì mạng chung sẽ rơi vào trong địa ngục ở cõi khác, bởi vì pháp vốn như vậy cho nên không sinh vào nơi sắp hủy hoại. Như nói: Lúc kiếp lửa hủy hoại thế gian thì hữu tình sinh lên phía trên. Thời gian tai họa khởi lên kiếp nước-kiếp gió nói rộng ra cũng vậy. Nhưng tai họa của nước và gió có tướng hủy hoại khác nhau, nghĩa là nước có thể ngâm làm cho nát rữa, gió có thể đưa đẩy đánh vào nhau, thế lực hủy hoại xa gần không giống nhau. Lại như kiếp lửa, lúc thế gian thành lập theo thời gian trước sau, nước-gió cũng như vậy.

Như Đại kiếp ấy có ba tai họa lớn, như vậy Trung kiếp xuất hiện ba tai họa nhỏ:

  1. Đao binh.
  2. Dịch bệnh.
  3. Đói kém.

Đầu tiên lúc kiếp đao binh sắp sửa khởi lên, người ở châu Thiệm Bộ có tuổi thọ cao nhất là mười tuổi, bởi vì pháp sai trái-tham lamnhiễm ô nối tiếp nhau, yêu thương không bình đẳng che lấp tâm ý, tà pháp trói buộc-sân giận hiểm độc tăng lên, gặp nhau thì khởi tâm làm hại vô cùng mạnh mẽ. Như bây giờ thợ săn trông thấy chim thú giữa đồng vắng, hễ tay đã cầm thứ gì thì đều trở thành dao gậy, tất cả đều trở thành hung bạo mặc sức giết hại lẫn nhau, trong bảy ngày-bảy đêm người chết gần hết. Trong châu Thiệm Bộ chỉ còn lại một vạn người, tất cả đều khởi tâm Từ dần dần tăng thêm thọ lượng, lúc bấy giờ gọi là vượt qua kiếp đao binh.

Tiếp đến lúc kiếp dịch bệnh sắp sửa khởi lên, người ở châu Thiệm Bộ có tuổi thọ cao nhất là mười tuổi, bởi vì có đủ những lỗi lầm như trước, loài Phi nhân phun chất độc làm cho dịch bệnh lan truyền khắp nơi, gặp phải thì mạng chung chứ khó có thể cứu chữa được, cũng không nghe có tên gọi của thuốc thang chữa trị, lúc ấy trải qua bảy tháng-bảy ngày-bảy đêm, dịch bệnh lan truyền khắp nơi người chết gần hết. Trong châu Thiệm Bộ chỉ còn lại một vạn người, tất cả đều khởi tâm Từ dần dần tăng thêm thọ lượng, lúc bấy giờ gọi là vượt qua kiếp dịch bệnh.

Cuối cùng lúc kiếp đói kém sắp sửa khởi lên, người ở châu Thiệm Bộ có tuổi thọ cao nhất là mười tuổi, cũng có đủ những lỗi lầm như trước, trời-rồng giận dữ trách mắng không rưới xuống làn mưa ngọt ngào, vì vậy thế gian gặp phải nạn đói kém kéo dài. Bởi vì đói kém cho nên đã có tụ tập-bạch cốt-vận trù, nói theo ba loại khác nhau.

Bởi vì hai nhân cho nên gọi là có tụ tập:

1. Con người tụ tập, nghĩa là con người lúc ấy do rất đói kém yếu ớt cho nên tụ tập mà chết.

2. Hạt giống tụ tập, nghĩa là con người lúc ấy vì thêm nhiều con cháu, ngưng sự ăn uống của mình, bỏ vào trong hòm nhỏ muốn làm hạt giống, cho nên lúc đói kém gọi là có tụ tập.

Có xương trắng (bạch cốt) cũng bởi vì hai nhân:

1. Con người lúc ấy thân hình khô đét, mạng chung chưa bao lâu mà xương trắng đã hiện rõ.

2. Con người lúc ấy do đói kém bức ngặt, gom góp xương trắng nấu nước để mà uống.

Có vận dụng tính toán (vận trù) cũng bởi vì hai nhân:

1. Do lương thực ít ỏi mà truyền nhau tính toán chuyện ăn uống, nghĩa là trong một gia đình từ lớn đến nhỏ thuận theo sự tính toán đến ngày có được một ít thức ăn thô thiển.

2. Nghĩa là bởi vì tính toán để xoay xở cho nên ở nơi cất giấu có được một ít gạo mè, dùng nhiều nước mà nấu, phân chia cùng nhau uống để cứu giúp mạng sống còn lại.

Đói kém như vậy trải qua bảy năm-bảy tháng-bảy ngày-bảy đêm, do đói kém bức ngặt cho nên người chết gần hết. Trong châu Thiệm Bộ chỉ còn lại một vạn người, tất cả đều khởi tâm Từ dần dần tăng thêm thọ lượng, lúc bấy giờ gọi là vượt qua kiếp đói kém.

Ba tai họa bất ngờ này tuy là khó trừ, nhưng có lời của bậc Thánh nói để đối trị điều đó, nghĩa là nếu có người có thể một ngày một đêm giữ giới không giết hại, thì ở đời vị lai quyết định không gặp phải tai họa đao binh dấy khởi; nếu có người có thể dùng một quả Ha-lê-đát-kê, khởi tâm thanh tịnh ân cần dâng cúng cho Tăng chúng, thì ở đời vị lai quyết định không gặp phải tai họa dịch bệnh dấy khởi; nếu có người có thể dùng một nắm thức ăn, khởi tâm thanh tịnh ân cần dâng cúng cho Tăng chúng, thì ở đời vị lai quyết định không gặp phải tai họa đói kém dấy khởi.

Hỏi: Ba tai họa như vậy ở châu khác có hay không?

Đáp: Không có tai họa căn bản, mà có tương tự, nghĩa là sân giận tăng mạnh-thân lực yếu kém-nhiều lần cọng thêm đói khát. Đây là nói đến hai châu. Châu Bắc câu-lô cũng không có tương tự, bởi vì không có tội nghiệp mới sinh đến châu ấy, và bởi vì châu ấy không có sân giận tăng mạnh.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.