MẤY ĐIỆU SEN THANH
Sưu tập: Cư sĩ Bành Tế Thanh & Hy Tốc 
Việt dịch: Hòa thượng Thích thượng Thiền hạ Tâm
PHƯƠNG LIÊN TỊNH XỨ MẬT TỊNH ĐẠO TRÀNG

 

TẬP I
PHẦN BA
TỨ CHÚNG VÃNG SANH


HUỆ VĨNH

Huệ Vĩnh đại sư, người đời Tấn, họ Phan quê ở Hà Nội. Năm mười hai tuổi ngài xuất gia, theo thừa sự Sa môn Trúc Đàm Hiện. Ban sơ, đại sư tu thiền định ở Hằng Sơn. Kế lại cùng với ngài Huệ Viễn y chỉ tu học với Đạo An Pháp sư.

Niên hiệu Thái Nguyên năm đầu, đại sư đến Lô Sơn. Quan Thứ sử Đào Phạm mến hạnh đức, giỡ nhà mình đem lên núi xây cất thành ngôi Tây Lâm để cứng dường. Ngài giữ nét thanh đạm từ hòa, mặc áo vải, ăn cơm rau, đoan nghiêm kiệm ước sửa mình, mặt đường tỏ vẻ tươi cười, lời nói không thương tổn đến người cùng vật loại.

Về sau, đại sư để cảnh Tây Lâm cho chúng tu tịnh hạnh ở, riêng mình rời lên đảnh Lô Sơn, dựng một ngôi tĩnh thất lợp tranh, để thiền tư và niệm Phật. Khách lên non viếng thăm, đến trú xứ của ngài, thường nghe mùi hương lạ nhẹ nhàng thanh thoát. Nhân đó, hàng đạo tục thời bấy giờ gọi chỗ ở của đại sư là Hương Cốc. Không bao lâu, có con mãnh hổ tới lưu trụ nơi tĩnh thất của ngài, đê hâu hạ và giữ”gìn. Những tục khách vãng cảnh làm huyên náo, và các thú khác đến, đều bị hổ đuổi đi.

Có một độ đại sư nhân Phật sự phải xuống núi, lúc trở về thì đã xế chiều. Khi đến Ô Kiều, gặp vị tướng chủ binh ữại ở đó say rượu, cỡi ngựa đón đường không cho đi. Thấy trời sắp tối, ngài cầm tích trượng chỉ con ngựa, ngựa bỗng sợ hãi lồng lên, hất viên tướng té xuống cầu. Đại sư bước tới đỡ dậy an ủi, bảo quân hầu cận đưa về dinh. Nhân đó vị tướng cảm bịnh, khi lành mạnh vội lên non sám hối. Đại sư bảo: “Đó không phải là chủ ý của bần đạo, mà chính là thần Hộ giới xui nên đấy!” Lại một lúc nọ, Trấn nam tướng quân Hà Vô Kỵ, cho bộ tốt mời ngài đến nhiệm sở ở Tầm Dương, ý muốn vấn nạn. Nhưng khi thấỵ đại sư mang dép cỏ, ôm bát, cầm tích trượng tới nơi, thần thái thanh nhã phiêu diêu, nét mặt đoan nghiêm điềm tĩnh, tướng quân bỗng sanh lòng nể sợ cảm phục, tiếp đãi một cách ân trọng, rồi cho quân sĩ hộ tống đưa về. Hàng đạo tục nghe biết chuyện đó quy hướng ngày thêm đông nhiều.

Bình thời, đại sư siêng năng tinh tu không nài khổ nhọc, chí nguyên mãn báo thân được sanh về Cực Lạc. Niên hiệu Nghĩa Huy năm thứ mười, ngài xuống Tây Lâm, kế liền cảm bịnh nhẹ. Vài hôm sau, đại sư đang nằm, bỗng ngồi dậy vén áo tìm dép muốn bước đi. Đại chúng hỏi, ngài đáp: “Tây phương tam thánh đã đến!” Nói xong đứng chắp tay niệm Phật mà hóa. Thọ được 83 tuổi.

Khắp ngôi Tây Lâm, mùi hương lạ bay ngào ngạt, bảy hôm sau mới lần tan.


HUỆ KIỀN

Đời Tấn, Huệ Kiền pháp sư, họ Hoàng Phù, người ở Bắc địa. Ngài xuất gia thuở bé, nghiêm giữ giới hạnh, tiết tháo cứng cỏi. Tuổi trung niên, lên Lô Sơn nương với Viễn công hơn mười năm. Thấy đạo đức củaa Viễn công cũng đủ chấn hưng đạo phong ở vùng ấy, Huệ Kiền phát tâm du hóa các xứ Ngô, Việt để hoằng dương chánh pháp.

Vào đầu niên hiệu Nghĩa Hy, Pháp sư về trụ trì chùa Gia Tường ở Sơn Âm, khuyến hóa hàng tăng tục, tinh khổ hướng dẫn đại chúng tu hành. Như thế, trải qua năm độ nắng mưa, ngài nhiễm bịnh, tự biết mình sắp mãn phần, chí thành niệm cầu với đức Quán Thế Âm, nguyện sanh về An Dưỡng.

Phía Bắc vùng Sơn Âm có một ni tự, trụ trì là sư cô Tịnh Nghiêm, nguyên bậc người đạo đức giới hạnh. Một đêm, sư cô mộng thấy đức Quán Thế Âm từ cửa thành Tây đi đến, tướng đẹp mầu, phóng ánh sáng trong suốt rực rỡ hơn vầng nhật nguyệt. Trước sau tùy tùng các hàng thánh chúng, tràng phan, hoa cái hiển hiện trang nghiêm. Sư cô đảnh lễ thưa hỏi rằng: “Kính bạch đại sĩ! Chẳng hay pháp giá quang lâm về đâu?” Bồ Tát đáp: “Ta đến chùa Gia Tường đón rước Huệ Kiền Pháp sư”. Bên nầy, Kiền công cũng trông thấy thánh tướng, tuy đau nhiều, vẫn tinh tấn trì niệm, thần sắc như thường. Lúc ấy, thị giả và đại chúng đều nghe mùi hương lạ. Giây lát, Pháp sư chắp tay viên tich.

Hàng đạo tục nghe biết vịệc nầy, đều ngợi khen hâm mộ.


TĂNG TẾ

Tăng Tế pháp sư, người đời Tấn, chưa rõ xuất xứ từ đâu. Sau khi thọ đại giới, ngài lên Lô Sơn gia nhập Bạch Liên Xã, theo Viễn công tu học. Pháp sư ngộ sâu đến chỗ tinh yếu, hạnh giải siêu quần.

Hơn ba mươi tuổi, ngài thường xuống núi, đi khắp các thôn ấp khai giảng, hóa đạo quần chúng niệm Phật tu hành, được người đương thời xem như hàng sư tượng. Viễn Công hằng khen ngợi rằng: “Cùng với ta hoằng dương đại pháp, hẳn là Tăng Tế nầy chăng?”

Về sau, Pháp sư đau nặng, khẩn thiết niệm Phật, tưởng thánh tướng cõi Tây phương. Viễn công đến thăm, trao cho một cây đuốc, dạy rằng: “Ông nên vận tâm tưởng niệm về An Dưỡng!” Tăng Tế vâng lời, cầm đuốc nương nơi ghế, thỉnh chúng tụng kinh Vô Lượng Thọ, tự mình nhìn đuốc, định tâm chuyên tưởng không tán loạn. Đến canh năm, Pháp sư trrao cây đuốc cho đệ tử là Nguyên Bậc, dặn bảo theo chúng tu hành. Kế đó ngài tạm nằm nghỉ, mộng thấy mình cầm đuốc bay lên hư không về Tây phương, được đức A Di Đà tiếp dẫn để trên bàn tay, đưa đi dạo khắp mười phương quốc độ. Tỉnh giấc, Pháp sư mừng bảo chúng: “Tôi chỉ quan niệm có một đêm, liền được Phật tiếp dẫn, hiện tại thân không còn bịnh khổ nữa!”

Đêm sau, ngài đang ngồi bỗng đứng dậy, chăm chú nhìn lên hư không, rồi bảo Nguyên Bậc rằng: “Thánh tướng hiển hiện rất đẹp mầu. Phật đã đến rước, ta đi đây!” Rồi ! đứng xây mình hướng về Tây, chắp tay mà tịch. Lúc ấy nhằm thời tiết nóng bức, quàn để ba ngày mà thi thể không biến đổi, mùi hương lạ vẫn bay thanh thoát. Pháp sư thọ được 45 tuổi.


HUỆ CUNG

Đời Tấn, tăng sĩ Huệ Cung, người ở đất Dự Chương, huyện Phong Thành. Mến hạnh đức của Viễn công, ông kết bạn với chư sư: Tăng Quang, Huệ Lan, lên Lô Sơn cùng gia nhập Bạch Liên Xã, nương ở với đại chúng đồng tu học.

Hai vị kia tuy sức học không bằng Huệ Cung, song hanh tu Tịnh độ lại chuyên thiết chí thành hơn. Huệ Lan thường bảo Cung rằng: “Thầy tuy học rộng nghe nhiều, tài năng biện luận thông suốt, nhưng há không nhớ trong kinh có lời dạy: “Như kẻ điếc tấu âm nhạc cho mọi người thưởng thức, mà chính mình không tự nghe hay sao?” Huệ Cung chỉ mỉm cười, không mấy tin nhận để ý.

Bảy năm sau, Tăng Quang và Huệ Lan kế tiếp nhau vãng sanh, khi lâm chung đều có điềm lạ ứng hiện. Bóng quang âm không dừng nghỉ, lại qua năm độ xuân sang, Huệ Cung bỗng cảm bịnh nặng. Chừng ấy, sư chợt tỉnh ngộ, tự than rằng: “Cuộc luân hồi sáu nẻo, bánh xe sống chết quay mãi không dừng, ta sẽ đi về đâu?” Nói xong rơi lệ như mưa, gắng gượng đến trước bàn Phật sám hối. Đoạn, quyết chí xả thân liều chết, niệm Phật không xen hở. Hơn hai mươi hôm sau, sư bỗng mộng thấy Phật A Di Đà bưng đài vàng đến rước, tự thân nhẹ bay lên kim đài. Lại thấy Tăng Quang, Huệ Lan ngồi trên đài sen, ở trong ánh quang minh, bảo rằng: “Trưỡng lão vãng sanh tất vào ngôi thượng phẩm, chúng tôi khôn xiết an ủi vui mừng! Chỉ hận đã chìm lâu nơi cõi trược, duyên bạn lành tương hội hơi trễ muộn đó thôi!”

Tỉnh giấc, Huệ Cung bạch lại với đại chúng, rồi chắp tay vui vẻ phấn chấn niệm Phật mà tịch. Bấy giờ, vào khoảng niên hiệu Nghĩa Hy năm thứ mười một.


LƯU TRÌNH CHI

Cư sĩ Lưu Trình Chi, người đời Tấn, hiệu là Trọng Tư, cư ngụ tại Bành Thành. Ông mồ côi cha từ bé, thờ mẹ rất có hiếu.

Lớn lên, cư sĩ theo học Nho, kiêm thông về thuyết Lão, Trang. Tánh ngay thẳng, không chiều uốn theo thời tục. Ban sơ, ông làm chức Tham quân tại phủ nhà. Hàng công khanh thấy là người có tài cán, trước sau đua nhau tiến cử, nhưng Lưu Trình Chi đều khước từ. Về sau, nghe Huệ Viễn Pháp sư ở chùa Đông Lâm tại Lô Sơn, đang tu môn Niệm Phật tam muội, nhân thân mẫu quá cố, hiếu sự đã xong, cư sĩ lên non xin nương ở. Viễn công hỏi: “Đường quan lộc của ông hãy còn cao xa, tại sao không tiến bước?” Trình Chi đáp: “Nhà Tấn không được bền vững như đá bàn, lòng người lại dễ rã tan như trứng vỡ, tôi chẳng muốn rơi vào vòng hệ lụy!” Từ trước, ông đã có tánh bất khuất như thế, nên Lưu Dũ, một danh sĩ, từng đặt cho ngoại hiệu là Dị Dân.

Lúc ấy lại có các thanh tín sĩ như: Tông Xác, Châu Tục Chi, Trương Dã, Lôi Thứ Tôn, Trương Thuyên, Tất Vĩnh… lần lượt đến Lô Sơn. Khi số người câu hội đã khá đông, Viễn công kiến lập Bạch Liên Xã, suất lãnh đại chúng đối trước tượng Tây phương tam thánh, nguyện đồng tu tịnh nghiệp, và giao cho Trình Chi làm văn phát thệ chạm vào bia đá.

Về sau, cư sĩ qua Tây Lâm, cất một am nhỏ bên bờ suối bắc, nghiêm giữ tịnh giới, kiêm hạnh thiền tụng niệm Phật. Được nửa năm, trong định ông thấy ánh sáng của Phật chiếu xuống mặt đất đều thành sắc vàng ròng. Lại qua mười năm, trong khi đang niệm Phật, cư sĩ thấy đức A Di Đà phóng ánh sáng từ tướng bạch ngọc hào soi đến mình, duỗi cánh tay vàng buông xuống như tiếp dẫn và khuyến tấn an ủi. Trình Chi thưa: “Ước chi được Như Lai tay vàng xoa nơi đảnh, áo pháp phủ nơi thân con!” Đức Phật mỉm cười, xoa đầu và kéo áo cà sa phủ trên mình ông. Kế đó không bao lâu cư sĩ lại mộng vào ao thất bảo, thấy nước lạnh dường lóng lánh trong suốt, hoa sen các sắc đua nở rực rỡ. Một vị đầu hiện viên quang, ngực có chữ vạn chỉ nước ao bảo: “Hãy uống đi! Chính là bát công đức thủy đấy!” Trình Chi vâng lời vốc nước uống, cảm thấy vị thơm ngon. Lúc thức tỉnh mùi hương lạ phát ra từ các lỗ chân lông. Cư sĩ thuật lại các điều ấy, và nói với đại chúng rằng: “Duyên Tịnh độ của tôi nay đã đến thời thành thục!” Kế đó sắm lễ, thỉnh chư tăng tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, riêng mình lễ Phật và quì xuống niệm hương khấn nguyện rằng: “Do di giáo của đức Bổn sư, con mới biết được y chánh cõi Tây phương. Nén hương nầy xin trước cúng dường đức Thích Ca Như Lai, kế đó cúng dường đức A Di Dà Chánh giác, và sau cúng dường kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Con được sanh Tịnh độ nhờ công đức niệm Phật và trì tụng kinh nầy. Xin nguyện cùng tất cả hữu tình đồng sanh Cực Lạc!”

Khóa tụng hoàn mãn, cư sĩ giã biệt đại chúng, lên giường nằm nghiêng về Tây, chắp tay yên lặng mà hóa, thọ được 59 tuổi. Lúc ấy nhằm năm thứ sáu niên hiệu Nghĩa Hy.


TRƯƠNG KHÁNG

Trương Kháng, ngườị thời Thạch Tấn, chưa được rõ xuất xứ. Vào triều đại bấy giờ, ông làm quan đến chức Hàn lâm học sĩ.

Tuy thân nơi hoạn lộ, song chí ở Liên trì, ông tụng chú Đại Bi mười muôn biến nguyện sanh về Cực Lạc. Khóa tụng vừa đủ số, cư sĩ vướng bịnh, chỉ chuyên trì Phật hiệu. Một hôm, ông bỗng gọi gia nhơn bảo: “Cảnh Tây phương Tịnh độ rất gần, chỉ ở bên phía tây mái nhà nay. Ta thấy Phật A Di Đà ngồi trên hoa sen, còn thằng Ông Nhi ở trên đất Kim sa nơi ao thất bảo, đang  chơi đùa và lễ Phật”. Nói xong, xướng Phật hiệu liên tiếp, giây lát ngưng niệm yên lặng mà vãng sanh.

* Ông Nhi là cháu nội của Trương Kháng, tuổi còn bé? đã niệm Phật và mãn phần trước đó ít lâu.


KHUYẾT CÔNG TẮC

Khuyết Công Tắc, người ở nước Triệu. Đời Võ Đế nhà Tấn, ông cư ngụ tại Lạc Dương, tánh tình phóng khoáng điềm đạm, mỗi ngày thường tụng kinh Chánh Pháp Hoa.

Sau khi ông mãn phẫn, một thân hữu đến chùa Bạch Mã, lập trai hội để truy tiến cầu siêu cho. Đêm lại, khi chư tăng tụng kinh xong, bỗng nghe giữa hư không có tiếng nói. Tất cả đều ngước lên xem, thấy một vị hình tướng sáng đẹp, trông xuống bảo: “Tôi là Khuyết Công Tắc, hiện đã sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới. Nay cùng với chư Thượng thiện nhơn đến đây nghe kinh!”

Có ông Vệ Sĩ Độ ở Cấp Quận, lúc trước theo học với Khuyết Công Tắc. Mẹ ông vẫn thường đến chùa cúng dường chư tăng. Khi đó bà cũng phụ việc trai cúng dường pháp hội cầu siêu. Hôm sau, vừa sắp đến giờ ngọ, bà bỗng thấy một cái bát từ hư không sa xuống trước mặt. Bà cùng ông Vệ Sĩ Độ nhìn kỹ, thì đó là cái bát mà ông Khuyết Công Tắc vẫn thường dùng lúc sanh tiền. Trong bát đựng đầy hương phạm, mùi thơm bay khắp trai đường. Mỡi người thử ăn một muỗng, kết quả đến bảy ngày sau đều không thấy đói, các lỗ chân lông bay ra hơi thơm. Danh sĩ Chi Đạo Lâm nghe biết việc ấy, làm bài tán khen ngợi rằng:

Cao cả thay Khuyết Công!
Lặng sáng mà hiển linh.
Chánh niệm thần về miền Lạc cảnh.
Giác mê tích ứng tại Đông kinh.
Trong mây dường rõ tiếng,
Nét ngọc khó quên hình!
Nhiệm mầu khen nói khôn cùng tận!
Phật thánh ai rằng chuyện mộng minh?

***

TÂY TRAI TỊNH ĐỘ THI

Sang hèn niệm Phật chẳng hoài công
Đều được thần thông tướng tốt đồng.
Rải diệu sắc hoa làm Phật sự
Khắp vì trần cõi nổi hương phong.
Quang minh soi đến thân điềm lạc
Âm nhạc nghe rồi ngộ khổ không.
Tựa ngọc lan can xem bảo thọ
Không ngằn cõi Phật hiện bên trong.

Kinh hành nhẹ gót đất kỳ trân
Cỏ lạ hoa tươi mỗi bước xuân.
Thanh Tịnh đã không ba ác đạo
Trang nghiêm thường có các thiên nhân.
Trống treo quán nhật khi chiều xuống
Cảnh Phật tùy tâm thấy hiện lần.
Vô thỉ kiếp mê chừ mới tỉnh
Quê xưa nào cách điểm tiêm trần!

Ao báu lầu đài khắp chốn thanh
Mây lành ánh thoại diệt rồi sanh.
Đã không tửu sắc lìa phiền não
Dù có thiên ma chẳng đẩu tranh.
Khát uống cam tuyền loan phụng múa
Nhàn nghe nhạc thọ đức tâm thành.
Những mong gởi chất hoa sen ngọc
Dạo đất lưu ly lắng tiếng oanh.

Bọt bóng bền chi chút huyễn thân!
Sao còn buông thả niệm tham sân?
Đường tu thẳng tắt mau tìm đến
Lối mộng mờ mê gắng thoát lần.
Giữ giới dường như băng tuyết sạch
Gìn tâm cho được thánh hiền gần.
Nẻo về Tây cảnh không xa lắm!
Một niệm quay đầu thấy tánh chân.


TĂNG DUỆ

Tăng Duệ pháp sư, người vào thời Nam Bắc Triều, ở Ngụy quận thôn Trường Lạc. Từ thuở bé, ngài đã mến hạnh xuất gia, nhưng đến mười tám tuổi mới đạt chí nguyện. Sau khi xuống tóc, ngài nương theo Tăng Hiền đại sư làm đệ tử. Ngoài hai mươi tuổi, Pháp sư rộng thông kinh sử, đi du lịch các danh đô, tùy xứ diễn thuyết giáo pháp.

Pháp sư thông ngộ tuyệt thế, những bậc thầy dạy như Tăng Lãng thượng nhơn khi giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã, phải nhiều phen đối đáp khó khăn trước lời hỏi của ngài. Lúc giảng diễn giữa đại hội, Pháp sư trả lời thông suốt, biện luận tuôn tuôn như suối trào qua những lời vấn nạn, khiến thính chúng đều khuynh phục. Diêu Hưng vua nhà Tần, hỏi quan Tư Đồ là Diêu Tung rằng: “Duệ Công nhơn phẩm như thế nào?” Đáp: “Đó là cây tòng bá cao lớn nơi vùng Nghiệp, Vệ!” Tần chúa cho triệu thỉnh đến, các hàng công khanh đều tập họp, ý muốn xem tài khí của ngài ra sao. Pháp sư ngôn luận cao nhã uyên thâm, khiến vua Tần nhìn Diêu Tung và các triều thần bảo: “Đây là bậc tiêu lãnh trong bốn biển, nào phải chỉ riêng cây tòng bá ở vùng Nghiệp, Vệ đâu!”

Sau ngài theo La Thập thượng nhơn đến Quan Trung. Thượng nhơn trao cho ba quyển kinh Thiền Pháp Yếu Giải. Pháp sư xem rồi, y theo đó ngày đêm tu tập, tinh luyện Ngũ môn, khéo vào Lục tĩnh. Những kinh của Thượng nhơn phiên dịch, Tăng Duệ cùng các bậc danh đức khác đều có tham dự vào ban khảo chính. Trong ba ngàn môn đồ của ngài La Thập, Tăng Duệ, Tăng Triệu, Đạo Sinh, Đạo Dung, vì hạnh giải siêu tuyệt, nên được người đương thời tôn là Tứ Thánh. Kế đó, Pháp sư lại tới Lô Sơn nương theo Viễn công tu tịnh nghiệp.

Về sau, ngài đến kinh đô, trụ nơi chùa Ô Y, giảng thuyết các kinh, thính chúng đều tinh phục. Pháp sư nghiêm giữ giới hạnh, khéo nhiếp oai nghi, hoằng dương chánh pháp chuyên tinh niệm Phật, nguyện đem các công đức hồi hướng cầu sanh Cực Lạc. Khi nằm ngồi, ngài đều không dám xây lưng về phương Tây.

Vào năm Nguyên Gia thứ mười sáu, một hôm không đau bịnh chi, ngài bỗng cho họp tăng chúng, ngỏ lời từ biệt. Kế đó đi tắm gọi, rồi đắp y lên đại điện đốt hương lễ Phật. Đoạn trở xuống ngồi ngay ngắn nơi thiền tọa, day mặt vê Tầy chắp tay mà hóa.

Hôm ấy, cả chùa đều thấy khói thơm năm sắc từ phòng ngài bay ra. Pháp sư thọ được 67 tuổi.


HUỆ SÙNG

Huệ Sùng đại sư, người ở Lương Châu, thời Ngụy Võ Đế. Ngài là bậc đạo hạnh uyên thâm, được quan Thượng thơ Ngụy triều là Hàng Vạn Đức tôn làm môn sư. Đại sư cùng danh tăng Thích Huyền Cao mà hàng tăng tục lúc ấy mến đức xưng tụng là Thế Cao đồng được người đương thời tôn trọng kính ngưỡng.

Sau Ngụy Võ Đế nghe lời sàm tấu của quan Tư đồ Thôi Hạo và đạo sĩ Khấu Khiêm Chi, hạ lịnh hủy diệt Phật pháp. Thái tử Hoảng vì thông tin trước cho chư tăng hay để trốn tránh dấu cất kinh điển và pháp khí, nên bị đắc tội. Việc ấy liên lụy đến ngài Huyền Cao và Huệ Sùng, nên cả hai đều bị gia hình.

Bấy giờ, có tăng sĩ Pháp Đạt vốn hâm mộ đức hạnh của ngài Huyền Cao, nghe được tin ấy tuyệt thực thương khóc mấy ngày. Đang lúc bi ai, bỗng thấy Huyền Công từ hư khổng bay đến. Pháp Đạt đảnh lễ, nhân hỏi ngài cùng Huệ Sùng đại sư hiện sanh về nơi nào? Huyền Cao đáp: “Ta nguyện sanh ở nơi cõi trược để cứu độ chúng sanh, hiện đã chuyển thế. Còn Sùng công thường cầu về Cực Lạc, nay ý nguyện cũng đạt thành”. Nói xong liền ẩn mất.


ĐÀM GIÁM

Thích Đàm Giám, họ Triệu, người thời Nam Bắc Triều, ở Ký Châu. Ông xuất gia thuở bé, thờ ngài Trúc Đạo Tổ làm thầy. Tánh thanh đạm, Pháp sư ăn cơm rau, mặc áo vải, giữ luật hạnh rất tinh khổ.

Sau lại du phương đi khắp nơi hoằng pháp độ người. Khi tới Kinh Châu, ngài dừng bước tịnh tu ở ngôi Tận Tự tại Giang Lăng. Bấy giờ xuân thu đã hơn sáu mựơi tuổi.

Bình sanh, nếu có làm chút điều lành, Pháp sư đều hồi hướng cầu về Tây phương, nguyện được thấy Phật. Một hôm, trong khi thiền định, ngài thấy Phật A D Đà thân tướng rất cao đẹp trang nghiêm, cầm hoa sen rưới nước nơi đầu và mặt, dùng Phạm âm trong thanh vi diệu bảo: “Ta rưới pháp thủy gội rửa trần cấu, làm cho tâm ngươi thanh tịnh, khiến cả ba nghiệp đều được nghiêm sạch!” Nói đoạn, lại lấy một cành hoa sen trong bình báu trao cho.

Sau khi xuất định, pháp sự tỏ bày sự sống chết vô thường cùng đại chúng, và dặn dò hậu sự. Đêm đã khuya, chư tăng đều lui về liêu phòng, ngài đi chậm rãi nơi hành lang niệm Phật đến canh năm, tiếng càng lúc càng khẩn thiết. Đến sáng, đệ tử y thường lệ vào phòng thăm hỏi, thấy Pháp sư ngồi ngay thẳng bất động, lại gần xem thì đã viên tịch. Lúc ấy, ngài hưởng thọ được 70 tuổi.

Thời bấy giờ, lại có Thích Đạo Hải ở Giang Lăng, Thích Huệ Khảm ở Bắc Châu, Thích Đàm Hoằng ở Hoài Nam, Thích Huệ Cung ở Đông Châu, Thích Đạo Quang ở Đông Viên, Thích Đạo Quang ở Hoằng Nông, cùng phát nguyện cầu sanh Cực Lạc, khi lâm chung đều có điềm lành. Sự vãng sanh của chư đại đức kể trên, gây rất nhiều tín tâm cho hàng đạo tục.


ĐẠO TRÂN

Thích Đạo Trân, chưa được rõ xuất xứ. Vào đầu đời nhà Lương, Pháp sư tu ở Lô Sơn, tập quán tưởng đức A Di Đà, nhưng chí vãng sanh còn chưa nhất quyết.

Một đêm, ngài mộng thấy có nhiều người ngồi thuyền lướt nhẹ trong biển cả, hỏi đi đâu, đáp rằng: về cõi Cực Lạc. Đạo Trân ngỏ ý muốn xin theo, một vị trong thuyền bảo: “Ông chưa làm nhà tắm cho chư tăng và tụng kinh A Di Đà, tịnh nghiệp chứa thành, làm sao đi được?” Tỉnh giấc, Pháp sư lo công đức làm nhà tắm cho chư tăng, và tụng kinh A Di Đà trải nhiều năm không gián đoạn, về sau, đang ngồi quán tưởng trong phòng, ngài bỗng thấy có vị tăng bưng đài bạc đến nói: “Khi báo thân mãn, Pháp sư sẽ ngồi đài nầy. Xét theo công hạnh, ngài đáng ngồi đài vàng. Nhưng vì khi mới phát nguyện, tâm ngài còn do dự, nên chỉ được ngần ấy mà thôi!” Lúc xuất quán, Đạo Trân có niềm vui, song không nói lộ ra, chỉ ghi việc ấy vào nhựt ký cất kê trong hòm kinh.

Sau ngài mãn phần vào lúc giữa đêm. Người trong làng thấy như có vài ngàn cây đuốc thắp sáng từ lưng chừng núi trở lên. Họ nghĩ: chắc có lẽ là vị vương hầu nào đó lên non lễ Phật. Sáng ra hỏi lại, mới biết là điềm lạ lúc Đạo Trân Pháp sư viên tịch. Hàng đệ tử nhân mở hòm kinh, tìm thấy nhựt ký, mới biết đó là thoại ứng về sự vãng sanh.


ĐÀM LOAN

Đời Bắc Ngụy, Đàm Loan pháp sư người ở Nhạn Môn, tỉnh Sơn Tây. Thuở niên thiếu, nhân du lãm cảnh Ngũ Đài Sơn, thấy thần tích linh dị, ngài phát tâm xuất gia.

Về sau, trong khi đọc kinh Đại Tập, thấy văn nghĩa sâu mầu, Pháp sư nguyện chú giải ra cho mọi người đều thông hiểu. Nhưng sự nghiệp ấy mới được nửa chừng, ngài bỗng phát bịnh nặng, thay thầy đổi thuốc nhiều phen. Sau khi đã tạm thuyên giảm, Pháp sư than rằng: “Mạng người rất mong manh, cơn vô thường khó định. Ta nghe bậc thần tiên có phép tu trường sanh. Có lẽ trước nên cầu pháp ấy cho thân thể được kiện khang, sau mới hưng sùng Phật giáo!”

Nghĩ đoạn, ngài qua Giang Nam tìm các nhà đạo học như Đào Ẩn Cư, Đạo Hoằng Cảnh, khẩn cầu về Tiên thuật. Các vị ấy trao cho mười quyển Tiên kinh. Ngài vui vẻ mang trờ về.

Giữa đường, đến Lạc Dương, Pháp sư gặp Bồ Đề Lưu Chi Tam tạng, nhân hỏi: “Trong đạo Phật có pháp trường sanh bất tử như Tiên kinh nầy chăng?” Lưu Chi thượng nhơn nói: “Ở phương nầy làm gì có pháp trường sanh bất tử? Mười quyến kinh mà ông mang theo, nếu tu tập, chỉ có hiệu năng tạm thời không chết, kéo dài mạng Sống. Nhưng đến khi Tiên báo mãn, nghiệp lực hiện, kết cuộc vẫn xoay vần trong nẻo luân hồi. Như vậy, có chi gọi rằng quí? Luận về trường sanh bất tử, kỳ thật chỉ có Phật pháp mà thôi!” Nói xong, Tam tạng lấy trong đãy ra quyển kinh Thập Lục Quán trao cho và bảo: “Tu học theo đây, thì không còn luân chuyển trong sáu đường, thoát ly hẳn ba cõi. Sự dinh hư thành bại, đường họa phước xuống lên, cũng không còn ràng buộc được. Nói về thọ lượng, thì số kiếp như cát sông Hằng chẳng thể sánh ví bằng. Đây mới đích thật là phép trường sanh của đấng Kim Tiên chúng ta vậy”.

Ngài Đàm Loan nghe nói cả mừng, tiếp nhận và cảm tạ. Sau khi tham duyệt cùng so sánh kỹ hai pho sách, Pháp sư liền đốt bỏ Tiên kinh, chuyên tu theo Quán kinh. Từ đó ngài quán biệt được nghĩa sâu của pháp môn Niệm Phật, đem Thập Lục Quán kinh ra hoằng hóa. Lại soạn văn Lễ Tịnh Độ nối tiếp kệ văn của Tổ Long Thọ, và trứ tác bộ Vãng Sanh Luận Chú truyền trong đời. Ngụy chúa rất mến trọng, vời tới cung đình, tứ hiệu là Thần Loan. Kế đó, lại sắc cho Pháp sư trụ trì ngôi Đại Già Lam tại Tinh Châu, sau thuyên chuyển sang Huyền Trung Tự ở Phần Châu.

Niên hiệu Hưng Hòa thứ tư, một đêm ngài đang thiền quán, bỗng thấy có vị Phạm tăng đi đến bảo: “Ta là Long Thọ, đã về Tịnh độ từ lâu. Vì ông đồng chí, nên nay đến thăm viếng và báo cho hay là tịnh duyên đã thành thục”.

Xuất định, Pháp sư tự biết đã đến kỳ vãng sanh, tập họp tăng chúng lại răn dạy và bảo: “Nẻo luân chuyển rất xa vời, kiếp trần lao nhiều mỏi nhọc. Sự khổ nơi địa ngục rất đáng kinh sợ, duyên sen cõi Cực Lạc cần phải gắng tu!” Nói xong, dạy hàng đệ tử cao tiếng niệm Phật. Ngài bước xuống tòa, nghiêm kính day về Tây rập đầu cúi lạy mà viên tịch.

Lúc ấy, đại chúng thấy tràng phan bảo cái hương hoa thơm đẹp từ Tây phương nhiều như mây bay đến. Nhạc trời  rền vang nổi giữa hư không giây lâu mới dứt. Tin đồn đến triều, vua sắc cho dựng bia xây tháp ngài tại Văn Cốc ở miền tây Phần Châu. Dân chúng đương thời gọi Pháp sư là Đàm Loan Bồ Tát.


ĐẠO DŨ

Thích Đạo Dũ, chưa rõ xuất xứ, thường ở chùa Khai Giác, chuyên niệm Phật. Sư có tạo tượng đức A Di Đà bằng gỗ chiên đàn, cao độ ba tấc mộc. Mỗi khi trì niệm, hằng để tượng Phật trên đầu.

Một hôm, trong khi tĩnh định, thần thức đến Cực Lạc, sư thấy một hiền giả mới sanh về đó đi nhiễu quanh hoa sen đẹp ba vòng, cánh sen liền nở ra. Hiền giả bước vào ngôi giữa đài hoa. Sư cũng y theo, đến một đóa sen nhiễu ba vòng, nhưng hoa không nở. Sư dùng tay kéo cánh hoa, song tất cả bỗng đều héo rũ. Vừa lúc ấy, Phật A Di Đà hiện thân bảo: “Nghiệp chướng của ngươi hãy còn, phải trở về thành tâm sám hối mới có thể vãng sanh được! Tại sao ngươi tạo tượng ta quá nhỏ như thế!” Đạo Dũ thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Tâm lớn Phật lớn, tâm nhỏ Phật nhỏ”. Nói xong, liền thấy thân đức A Di Đà to lớn đầy khắp hư không. Phật bảo: “Ngươi hãy về tắm gội, khi sao mai mọc ta sẽ đến rước”. Xuất định, Đạo Dũ tắm. gội sạch sẽ, thành tâm lễ Phật sám hối thật lâu. Xong, thuật lại mọi việc khuyên đại chúng tinh tu và ngỏ lời từ biệt. Đến thời, sư ngồi niệm Phật giữa tiếng niệm Phật của chư tăng. Tất cả đồng thấy Phật đến rước, quang minh chiếu rực rỡ, trong tịnh thất sáng như ban ngày. Khi ánh sáng tắt, đại chúng lại xem thì sư đã viên tịch.

Lúc ấy nhằm niên hiệu Khai Hoàng thứ tám.


TRÍ KHẢI

Trí Khải đại sư, họ Trần, tự Đức An, quê ở Vĩnh Xuyên thuộc Kinh Châu, tinh Hồ Bắc. Đại sư ứng thế vào khoảng các đời Lương, Trần, Tùy. Bà mẹ mộng thấy mây thơm năm sắc hiện ra đoanh vây nơi thân rồi vào bụng, mà cảm mang thai ngài. Đêm đại sư đản sanh, trong nhà hương thơm bát ngát, thần quang chiếu sáng rực rỡ:

Ngài sanh ra đã bẩm tướng lạ: mày thanh tú, mắt dài sáng, mỗi tròng mắt có hai con ngươi nằm ngang. Nơi hai tay, mọi cùi chỏ đều có bốn cục xương gu. Khi nằm tất  nghiêng bên hữu, chắp hai tay. Lúc ngồi thì thường kiết già day mặt về Tây. Vừa hơi lớn, thấy tượng Phật liền lạy; gặp người xuất gia, tỏ dáng cung kính.

Năm lên bảy ngài theo mẹ vào chùa Quả Nguyện. Nghe một vị tăng tụng phẩm Phổ Môn, liền đọc lại thuộc lòng, như đã có học tập từ trước. Lúc mười bảy tuổi, đang khi lễ Phật rồi quì xuống thệ nguyện xuất gia, ngài bỗng như vào mộng, thấy cảnh giới biển rộng mênh mông, nước ngâm trong vắt. Gần mé biện có một tòa non cao chớn chở, mây phủ lưng chừng, mặt trời chiếu sáng. Khi ấy ngài thấy mình đứng dưới núi, trên đảnh có vị tăng cúi xuống đưa cánh tay dài kéo lên, dẫn vào một ngôi già lam, bảo: “ Về sau, ông sẽ trụ nơi đây để hoằng hóa”.

Năm mựời tám tuổi, ngài nương theo Pháp Chữ thượng nhơn ở Quả Nguyên Tự tại Sương Châu xuất gia. Kế đó, lại đến chùa núi Đại Hiền học tập Luật tạng, tụng kinh Vô Lượng Nghĩa, kinh Pháp Hoa, và tu Phổ Hiền Quán. Vào đầu niên hiệu Thiên Gia, nghe danh đức của Huệ Tư thiền sư ở núi Đại Tô tại Quảng Châu, đến tham bái. Huệ Tư vừa nhìn thấy ngài liền bảo: “Ta với ông xưa kia đồng nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở Linh Sơn đại hội, túc duyên theo đuổi, nay lại gặp nhau!” Nhân đó thiền sư khai thị về Tứ an lạc hạnh, và dạy cách kiến nhập Phổ Hiền đạo tràng. Đại sư lãnh giáo, nương tại đây nhập quán tu Pháp Hoa tam muội. Vừa được hai thất, khi tụng kinh Pháp Hoa đến phẩm Dược Vương câu: “Thị chân tinh tấn, thị danh chân pháp cúng dường Như Lai …”, thân tâm chợt rỗng không, lặng lẽ vào định. Trong định, ngài thấy hội Linh Sơn vẫn còn hiển hiện đông đảo chưa tan, liền thấu suốt ý chỉ Pháp Hoa và các pháp tướng, túc thông thầm phát. Đại sư đem sở chứng bạch với ngài Huệ Tư. Thiền sư than thở ngợi khen bảo: “Chỉ riêng ông mới chứng, duy có ta mới biết! Định cảnh ấy thuộc về tiền phương tiện và Pháp Hoa tam muội. Chỗ phát túc thông thuộc Sơ Triền Đà Ra Ni môn. Từ đây về sau, dù cho ngàn muôn văn tự pháp sự, cũng không thể làm cạn nguồn biện luận của ông được!”

Niên hiệu Đại Kiến năm đầu đời Trần, ngài đến chùa Ngỏa Quan ờ Kim Lăng khai giảng Pháp Hoa. Vua sắc chỉ đình triều một ngày, bảo quần thần tề tựu lại chùa nghe giảng đề kinh. Năm Đại Kiên thứ bảy, đại sư đến núi Thiên Thai ở miền duyên hải để tránh duyên an dưỡng. Đi tới ngọn núi phía nam, ngài trông thấy cảnh bỗng bồi hồi xúc động. Nơi đây có vị thần tăng hiệu là Định Quang đã cư ngụ từ ba mươi năm trước. Khi gặp nhau, thần tăng bảo: “Ông còn nhớ điềm ta đưa lên núi chăng? Ở sơn lãnh phía bắc có một nơi ngân địa, hãy lên đó kiến lập già lam độ chúng”. Đại sư y lời đến xem thấy cảnh đúng như điềm ứng trước, liền xây dựng chùa, trồng cây thông, dẫn nước suối, khiến cho ngôi tự viện càng thêm u nhã. Từ đó ngài giảng diễn các kinh giáo đại thừa, như Pháp Hoa, Kim Quang Minh, luận Ma Ha Chỉ Quán, rộng mở về thiền pháp, hàng tăng tục nương về ngày càng thêm đông, về phần chư thần quy hướng, như cha con Quan thánh và Võ An Vương đêu hiển linh cầu thọ giới, xin làm đệ tử hộ pháp.

Không bao lâu, đại sư lại nhận lời thỉnh của vua nhà Trần, trở về Kim Lăng giảng kinh Pháp Hoa Văn Cú tại chùa Quang Trạch. Nhà Trần mất, ngài vào Lô Sơn, kế lại châu du cac miền Kinh, Dương hoằng pháp. Năm Khai Hoàng thứ mười bốn đời Tùy, lại trở về núi Thiên Thai.

Cộng nghiệp lợi sanh của đại sư rất nhiều, nơi đây chỉ thuật phần đại khái. Trước sau, ngài tạo 36 ngôi chùa lớn, tổ chức cho biên chép 15 pho đại tạng kinh, độ hơn 14.000 vị xuất gia, trong đó có 32 bậc cao đồ đắc pháp, tạo 800.000 tượng Phật, Bồ Tát bằng vàng, đồng, cây chiên đàn, hoặc những thứ gỗ khác, khai 63 ao phóng sanh ở các vùng Hộ, Khê, Lương dài khoảng ba trăm dặm, soạn thuật các tập như Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Tịnh Độ Thập Nghi Luận, Ma Ha Chỉ Quán, Kim Quang Minh Văn Cú, Quán Kinh Sớ cùng nhiều kinh luận khác, mở những đàn truyền giới và các khóa diễn giảng khuyến hóa ngư dân miền duyên hải bỏ nghề chài lưới, cùng viết biểu tấu với vua nhà Trần xin xuống chỉ cấm việc sát sanh quanh vùng bờ biển núi Thiên Thai. Tóm lại, trong hai đời Trần và Tùy, ngài là bậc đại pháp vương hội trì chánh giáo. Thái tử Tấn Vương Quảng (Dạng để), từng thỉnh ngài đến hoàng cung cầu xin thọ giới Bồ Tát và tôn hiệu là Trí Giả đại sư. Sau ngài lại về quê cũ ở Kinh Châu, kiến thiết chùa Ngọc Tuyền, giảng dạy kinh pháp để báo ân người hương lữ.

Về ý nghĩa pháp môn Tịnh độ, trong Thập Nghi Luận, đại sư đã khai thị yếu lược như sau:

– “Muốn quyết định được sanh về Cực Lạc, phải có đủ hai hạnh: Yếm ly, Hân nguyện, nghĩa là chán bỏ và vui cầu.

– Yếm ly là thế nào? Nên xét nghĩ: hàng phàm phu chúng ta từ kiếp vô thỉ đến nay, vì đắm say tự ràng buộc theo năm điều dục lạc là: sắc đẹp, tiền của, danh vị, ăn uống và ngủ nghỉ, mà bị luân hồi trong sáu đường, chịu đủ không ngằn sự khổ não. Nếu chẳng khởi tâm chán bỏ, thì biết chừng nào mới được thoát ly? Phải quán xét tâm giả tạm nầy, bề ngoài chỉ một lớp da mỏng manh che phủ, bên trong chứa đầy các thứ tanh hôi như: ruột, gan, óc, phổi, xương, thịt, máu, mủ, đàm, dãi, nước tiểu, phẩn uế. Cửu khiếu lại thường tiết ra các thứ không sạch, các lỗ chân lông hằng ra mồ hôi bợn nhơ. Kinh Niết Bàn nói: “Thân nầy như vòng thành nhơ uế, loài quỉ La Sát ngu si hằng tham trước nương ở trong đó. Người có trí ai lại đắm luyến huyễn thân?” Lại trong kinh bảo: “Thân nầy không bền lâu, là chỗ nhóm họp của các thứ khổ, các thứ nhơ nhớp; là nơi sanh khởi các thứ ung nhọt ghẻ lác, các bịnh trong và ngoài. Thân nầy do phiền não dâm dục gây ra, là nghiệp chủng không sạch: Do tinh cha huyết mẹ hòa hợp, là mầm giống không sạch. Ở trong thai mẹ chật hẹp tối tăm nhơ nhớp, là chỗ trụ không sạch. Khi còn trong thai dùng chất máu huyết để sống, là sự ăn uống không sạch. Do sản môn sanh ra, là chỗ sanh không sạch. Từ bé đến già bề ngoài bao lớp da mỏng, bên trong đầy thứ tanh nhơ, lại đủ các sự suy yếu bịnh khổ, là cả thân không sạch. Lúc chết rồi lại sình thối nát rã, vòi tửa lúc nhúc, là kết cuộc không sạch. Thường quán sát bảy điều không sạch như thế, tất sẽ sanh niệm chán lìa. Dù chưa thể liền dứt được nghiệp vợ chồng, thì phiền não ái dục cũng lần lần nhẹ bớt. Lại phát nguyện mong sớm bỏ thân nhơ nhớp khổ não, cầu sanh Cực Lạc, được thân bằng chất báu ngọc kim cương đủ 32 tướng tốt, lần lần tiến chứng vào thân pháp tánh sáng suốt lặng trong.

– Còn Hân nguyện là thế nào? Nên nghĩ, nay ta cầu sanh Tịnh độ, trước là để được sống trong cảnh lầu các, cây hoa, ao hồ, âm nhạc, chim lạ, đủ vô lượng thứ báu, vô lượng sự trang nghiêm vui đẹp ở Liên bang. Sau đó, tiến tu để độ mình, thân bằng quyến thuộc, cùng tất cả chúng sanh trong vòng mê khổ. Nay ta nghiệp chướng nặng đầy, đạo lực yếu kém, nếu không biết tự lượng, mê ở cõi đời nhơ ác, cảnh duyên phiền não mạnh, tất sẽ bị sóng nghiệp cuốn lôi chìm đắm, sự độ mình không rồi, nói chi độ chúng? Như thế biết chừng nào mới thoát ly khỏi kiếp sa đọa luân hồi? Nếu được về Cực Lạc, tất ở cõi nghiêm sạch trang nghiêm, sống lâu vô lượng kiếp, gần gũi chư Phật, Bồ Tát, đủ các thuận duyên tiến tu, không còn lo thối chuyển. Khi đã chứng quả vô sanh, phân vô lượng thân vào các cõi trược, độ vô biên loài hàm thức, nào có muộn gì? Cho nên phát nguyện cầu sanh Tịnh độ, tức là phát tâm bồ đề, tức là phát tâm cầu Phật qụả, tức là phát tâm độ chúng sanh, tức là phát tâm nhiếp hóa chúng sanh về cõi Phật vậy”.

Năm Khai Hoàng thứ bảy đời Tùy, khi hóa duyên đã mãn, sắp nhập diệt, đại sư tập họp chúng bảo tụng các kinh Pháp Hoa, Vô Lượng Thọ, rồi khen ngợi rằng: “Lành thay Diệu Pháp Liên Hoa kinh, cha mẹ của pháp môn, bản tích rộng lớn, nhiệm mầu khó lường! Lành thay Vô Lượng Thọ kinh, bốn mươi tám nguyện trang nghiêm Tịnh độ, ao sen cây báu, dễ vãng sanh mà ít kẻ nguyện cầu! Người tạo ngũ nghịch thập ác tướng địa ngục hiện, một niệm cải hối còn được sanh về, huống là bậc giữ giới chuyên tu, tất công phu không luống uổng vậy!” Hàng đệ tử là Trí Lặng Pháp sư thưa thỉnh rằng: “Xin mở lượng từ bi, giải tỏ niềm nghi hoặc. Chưa rõ tôn đức chứng đến ngôi vị nào và khi mạng chung sẽ sanh về đâu?” Đại sư đáp: “Nếu ta không lãnh chúng, tất chứng vị Thanh tịnh lục căn. Vì tổn mình lợi người, nên chỉ đến ngôi Ngũ phẩm. Hiện thời các hàng thầy bạn theo hầu Phật và đức Quán Âm, Thế Chí đến rước ta vãng sanh!” Nói xong, hướng về Tây chắp tay xưng niệm A Di Đà Phật, Bát Nhã, Quán Âm rồi lặng lẽ như vào tam muội mà tịch.

Lúc ấy, nhằm ngày 24 tháng 11, đại sư thọ đựợc 67 tuổi. Khi sắp đưa linh quan về ngọn Phật Lũng để nhập tháp, mưa to xối xả không dứt. Các đệ tử cầu nguyện, mưa liền tạnh ráo, bầu trời trở nên trong sáng, gió thông vi vút tợ kêu thương, nước suối tràn reo như bi cảm. Lúc đưa linh quan đến tháp, trời mưa hương hoa lạ rơi lác đác, mọi người cầu nguyện đều được cảm ứng. Đại khái như Thích Huệ Diên ở chùa Thiên Hương, tả kinh Pháp Hoa cầu đại sư xác nhận đã sanh về cõi nào? Đêm lại, năm mộng thấy ngài theo đức Quán Âm từ phương Tây đi đến bảo: “Ta về cõi Cực Lạc ở Hoa Tạng thể giới, ông đã dứt hết lòng nghi chưa?” Đại sư là Sơ tổ tông Thiên Thai, lịch đại truyền thừa, đến nay môn phong hãy còn thạnh.


TRÍ THÔNG

Trí Thông pháp sư, họ Trình, quê ở tỉnh Hà Đông. Từ thuở bé ngài đã mộ đạo, thường cầu xin xuất gia. Cha mẹ lấy làm lạ, cuối cùng đều vui lòng chấp thuận, bảo hãy đợi hơi khôn lớn, qua mười tuổi sẽ cho xuống tóc.

Sau khi chí nguyện đạt thành, Pháp sư kính thuận thờ thầy không nài khổ nhọc, nghiêm giữ giới hạnh. Ngày đêm, lúc nào rỗi rảnh lại siêng năng niệm Phật tụng kinh. Sau ngài đến học kinh luật với Diên Pháp sư và Tuấn Luật sư. Học nghiệp đã thành, về chuyên tu Tịnh độ tại chùa. Ngoài ra còn kiêm tạo các phước lành như truyền giới, thuyết pháp, lập nhà Dưỡng lão, viện Cô nhi, thật hành cả tài thí lẫn pháp thí.

Năm Đại Nghiệp thứ bảy đời Tùy, vào tháng mười, Pháp sư nhiễm bịnh; dạy thị giả trợ niệm hồng danh A Di Đà Phật, một lòng hồi hướng cầu sanh Cực Lạc. Được vài hôm, ngài bỗng chợt ngồi dậy, mở mắt nhìn chăm chú về Tây giây lâu, rồi bảo: “Cảnh mầu đẹp không thể nghĩ bàn!” Vị tăng thị giả là Đảnh Cái hỏi, Pháp sư đáp: “Ta thấy lọng hoa, tràng báu cùng điện tháp rất trang nghiêm!” Đến tối bỗng hỏi: “Làm gì mà đốt đèn đuốc quá sáng chói như thế?” Rồi liền bảo tắt đèn. Giây lâu lại bảo: “Ồ lạ! Sao ánh sáng càng thêm rực rỡ?” Đảnh Cái thưa: “Đó tất là tướng tịnh nghiệp của thầy hiển lộ, không có chi lạ!” Trí Thông nghe nói, chắp tay niệm Phật đến sáng, rồi bảo: “Xin giã từ đại chúng, tôi sanh về Tịnh độ”. Nói xong liên viên tịch.

Lúc bấy giờ bỗng nhiên đất núi đều rung động, cửa song rách nứt. Vị tăng tại bản tự Đạo Huệ đang năm mơ màng, mộng thấy nơi đảnh non sau chùa hiện lên lầu đài điện các, từ từ nhẹ nương hư không bay thẳng về Tây.


PHÁP TRÍ

Đời Tùy, Thích Pháp Trí, chưa rõ xuất xứ, xuống tóc ly gia hồi còn thơ ấu. Lớn lên sư thường đến các hội giảng diễn lưu ý ghi nhớ các lời thuyết pháp

Lúc tuổi già, sư nghe nói: tu hành thẳng tắt không chi hơn niệm Phật, liền đến thưa với một vị cao đức rằng: “Tôi thấy luật dạy: phạm giới điều nhỏ phải bị đọa địa ngục trải qua một trung kiếp, thì có thể tin. Nhưng kinh nói: Chí thành niệm một câu A Di Đà Phật, diệt được tội nặng trong tám mươi ức kiếp sanh tử, lại chưa thể tin nhận!” Vị ấy bảo: “Đó đều là lời Phật dạy, tại sao ông lại sanh niệm tà kiến, tin điều nầy mà phủ nhận điều kia?” Sư nghe nói như chợt tỉnh ngộ, đến Đâu Suất Đài ở chùa Quốc Thanh, ngày đêm chuyên cần niệm Phật.

Một hôm đang khi niệm, sư bỗng thấy hai vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí hiện thân. Lại ngày khác, cảm ánh sáng từ bình báu nơi thiên quan của đức Đại Thế Chí soi chiếu đến thân. Khi sắp mãn phần, Pháp Trí đi từ giã các hàng đạo tục và bảo: “Tôi sắp về cõi Phật, các vị có chi để tiễn đưa chăng?” Theo lời an định, chúng hẹn sau ba ngày sẽ đến chùa thết tiệc tiễn hành. Đến kỳ, sau bữa ngọ trai, trong đại chúng có nhiều vị ở nghỉ lại phòng của sư để chờ xem.

Nửa đêm ấy, Pháp Trí đang ngồi niệm Phật nơi giường, chúng bỗng thấy ánh sáng kim sắc từ phương Tây chiếu đến, soi rộng xa ước vài trăm dặm. Lại xem, thì sư đã viên tịch. Lúc bấy giờ người trong các thuyền ở trên sông vùng gần đó, đều lầm tưởng rằng trời đã sáng. Nhưng giây lát trời bỗng tối lại, chờ đợi thật lâu mới thấy rạng đông. Hỏi ra, trong chùa bảo đó là điềm lành khi sư vãng sanh về Cực Lạc.


TÂY TRAI TỊNH ĐỘ THI

Người ngự sen lành, ao bảo trân
Long lanh nước bạc chiêu kim thân.
Tâm nhuần pháp diệu tiêu trần cấu
Chí độ hàng mê thoát khổ luân.
Hoa Tạng bể mầu chơi dạo khắp
Niết Bàn nhân đẹp đủ mười phân
Ta Bà biết mẩy quang âm đổi?
Cực Lạc thường hằng một kiếp xuân!

Cõi tịnh mong về bất tử hương
Ráng mây chiều tối ngắm tàn dương.
Hoa quỳnh cây bích tươi muôn vẻ
Điện ngọc lầu châu đẹp khác thường.
Sen báu long lanh theo nhạc gió
Nước ngân thấp thoáng bóng oan ương.
Lắng nghe bỗng ngộ vô sanh khúc
Tên họ ghi lên Tuyển Phật trường.

Đôi phen mộng đến cảnh Liên bang
Lối cũ quê xưa hiện rõ ràng.
Phơ phất phướng châu muôn nguyệt sáng
Lửng lơ lọng báu ức mây vàng.
Chim lành tắm gội ao kim thủy
Hoa lạ đua tươi vẻ ngọc lan.
Đang giấc chợt như ai gọi thức
Lò hương khói thoảng trống canh tàn!

Đài dao đầy gió, nước đầy ao
Muôn đóa sen lành tốt đẹp sao!
Khổng tước thanh hòa kêu nhã điệu
Thân tâm lặng lẽ thoát trần lao.
Ca sa đâu dụng đường kim tuyến
Anh lạc sáng tuôn ánh ngọc hào.
Lễ Phật vô vàn thân tướng hào
Đạo mầu ngộ pháp tổng trì cao.


PHÁP HỶ VÀ THỌ HỒNG 

Đời Tùy, Thích Pháp Hỷ, chưa rõ xuất xứ, chỉ thấy thường đi khắp nơi tham phỏng các bậc tri thức. Sự tu học của sư có thể gọi là tinh cần không chán mỏi.

Năm sáu mươi tuổi, sư mới được duyên lành gặp ngài Trí Giả ở núi Đại Tô, một phen nghe pháp âm liền được thâm ngộ. Từ đó Pháp Hỷ song tu thiền huệ và niệm Phật. Một thời kỳ, sư đang thật hành môn Phương đăng tam muội, trong định bỗng thấy có con chim trĩ đến kể oan khúc đòi nợ mạng. Vừa lúc đó, thần Hộ pháp hiện thân quở chim trĩ rằng: “Pháp sư sắp sanh về Tịnh độ, trong tương lai khi chứng đạo sẽ tế độ cho. Ngươi hãy lui đi, không nên khuấy rối!”

Khi gần mãn phần, sư đau bịnh, phát nguyện đem công đức tu một đời, hồi hướng cầu sanh Cực Lạc. Rồi xả bỏ tất cả, chí tâm niệm Phật. Lúc lâm chung, sư thấy đức Phật, hai vị Bồ Tát và chư thánh chúng đến rước, liền ngồi ngay ngắn mà thoát hóa.

Cùng thời gian ấy, có sư Thọ Hồng, người ở Phần Dương, hằng chuyên niệm Phật cầu sanh Tây phương. Khi lâm chung sư thấy các thiên đồng ở cung trời Đâu Suất đem phướn lọng, tấu âm nhạc xuống rước. Thọ Hồng từ khước nói: “Tôi cầu về Cực Lạc, không muốn sanh lên cõi trời!” Đoạn liền nhờ chúng cao tiếng niệm Phật. Giây phút, sư lại bảo: “Đức A Di Đà từ phương Tây đã đến!” Nói xong, liền chắp tay mà viên tịch.


HAI SA DI

Đời Tùy, tại Văn Châu, có hai Sa Di chưa rõ người ở đâu, đồng tâm nguyện tu môn Niệm Phật. Trải qua năm độ tháng mưa, vị lớn tuổi hơn trong cơn bịnh chết ngất, thần thức đến Tịnh độ, thấy Phật đảnh lễ và thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Có em Sa Di nhỏ tuổi cùng tu với con, không biết sẽ được vãng sanh chăng?” Phật bảo: “Do y khuyến khích, ngươi mới phát tâm. Nay ngươi hãy tạm trở về, gắng tu hành tinh tấn, ba năm sau cả hai sẽ đồng đến đây”.

Đúng kỳ hạn, hai Sa Di thấy Phật và thánh chúng từ Tây phương đến rước. Lúc ấy cõi đất rung động, hoa trời rơi xuống phơ phất lượn bay. Chúng xem lại, cả hai đồng chắp tay ngồi thoát hóa.


ĐẠO KIỆT

Đạo Kiệt pháp sư, họ Dương, người An ấp tỉnh Hà Đông, thuở còn bé đã có tâm xuất thế. Đời Tùy, năm Khai Hoàng thứ mười một, ngài nương theo Quýnh đại sự xuống tóc, thọ giới Cụ túc. Kế lại đến Thanh Châu, nghe Hà Ký luận sư giảng về Thành Thật Luận.

Khi thầy thế độ mãn phần, ngài lại châu du sang nước Tề, sưu tầm về Luận học. Pháp sư hằng mở các khóa diễn giảng, được số đông đại chúng nương theo tín phục. Thời gian lâu sau, ngài bỗng suy nghĩ rằng: “Từ trước đến nay ta  chỉ chuyên theo ngôn từ lý thuyết, nên đường chân tâm còn hãy mịt mờ. Muốn phát khởi trí huệ vô sanh, tất cần phải do nơi thiền định”. Nghĩ đoạn, bèn đình việc diễn giảng, sang Ma Cốc nương theo Chân Huệ đại sư học tham thiền. Lâu ngày, Pháp sư ngộ sâu vào lý duyên khởi, được ngài Chân Huệ tán thán khen là bậc lợi căn.

Đạo Kiệt tánh người thiểu dục ít nói, lạnh nhạt lợi danh, sự ăn mặc rất là thanh đạm. Những cảnh vui hoặc khổ xô đến, Pháp sư vẫn điềm nhiên, về sau, ngài làm tòa chủ chùa Thê Nham. Niên hiệu Trinh Quán năm đầu đời Đường vào ngày 28 tháng bảy, Pháp sư viên tịch tại bản sơn, thọ 55 tuổi.

Đương thời có cư sĩ Phần Xước ở Tang Tuyền, trước kia nguyên là vị tăng, nhân vua nhà Châu phế hủy Phật giáo, phải về tục. Tuy làm kẻ bạch y, cư sĩ vẫn thường tham dự các pháp hội, được Đạo Kiệt Pháp sư rất quí trọng. Sau khi cư sĩ từ trần, một hôm hai cô con gái đồng nằm mơ thấy cha từ hư không bay đến bảo: “Ta đã vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới. Nay biết Đạo Kiệt Pháp sư sắp mãn phần, nên đến đón rước về Liên bang”. Nói xong, đi thẳng qua hướng chùa Thê Nham.

Hôm ấy, Đạo Kiệt vì đau bịnh nên đình giảng. Khi lâm chung, ngài thấy thánh chúng và cư sĩ Phần Xước đứng giữa hư không tiếp dẫn. Cả chùa đều nghe mùi hương lạ và tiếng thiên nhạc rền rang.