Tng Thư Pht Hc

 

 
Đại Trí Độ Luận
(Mahàprajnàparamitàsatra) - Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ)
Dịch Phạn ra Hán: Cưu Ma La Thập - Dịch Hán ra Việt: Thích Thiện Siêu 
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Ấn hành 1997

 

Lời Nói Đầu 

Kinh Bát-Nhă (Prajna) được lưu hành rất sớm tại Ấn độ. Khoảng 700 năm sau khi Phật diệt độ (cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III Tây lịch), lúc Bồ-tát Long Thọ (Nagarjuna) ra đời đă có hai bộ kinh Bát-Nhă hoàn thiện là Tiểu Phẩm Bát Nhă, c̣n gọi là Bát-Nhă 8.000 bài tụng (Astasàhasrikà - Prajnăpàramità) gồm 10 cuốn 29 Phẩm và bộ Đại Phẩm Bát-Nhă 25.000 bài tụng (Pancavimsati - Sàhasrikà - Prajnăpàramita) gồm 27 hay 30, 40 cuốn 9 Phẩm.

Bồ-tát Long Thọ viết luận giải thích kinh Đại Phẩm Bát-Nhă đề tên là Maha Prajnăpàramità sastra, gồm có 100 cuốn 90 Phẩm.

Năm 402 Tây lịch, Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập (Kumarajva) đến Trung hoa dịch kinh Đại Phẩm Bát-Nhă ra Hán văn đề là Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật-đa kinh (tương đương Hội thứ hai trong kinh Đại Bát-nhă của ngài Huyền Trang dịch) và dịch Luận Maha Prajnăpàramità ra Hán văn tên là Đại Trí Độ luận hay Đại Trí Độ kinh luận, Trí luận, Đại luận, gồm 100 cuốn 90 Phẩm, từ Phẩm Tựa Đầu cho đến Phẩm Chúc Lụy cuối.

Có hai thể luận là Tôn Luận và Thích Luận. Lấy một ư nào trong Kinh nêu làm tôn chỉ rồi diễn dịch, hệ thống thành luận gọi là Tôn Luận, như luận Thập Nhị Môn, Trung luận, Du Già Sư Địa luận v.v… C̣n viết luận giải thích Kinh như luận Đại Trí Độ gọi là Thích Luận.

Căn cứ theo luận Đại Trí Độ th́ trong 90 Phẩm, 66 Phẩm đầu của Kinh là nói về Bát-nhă đạo, c̣n 24 Phẩm sau của Kinh là nói về Phương tiện đạo. Nếu căn cứ theo sách Đại Phẩm Kinh Nghĩa Lược Tự của ngài Cát Tạng th́ trong 90 Phẩm của Kinh, 6 Phẩm đầu Phật nói cho hạng thượng căn như Xá-lợi-phất v.v… Phẩm thứ 7 đến Phẩm thứ 14 Phật sai ngài Tu-bồ-đề nói cho hàng trung căn; từ Phẩm 45 đến Phẩm 90 là Phật nói cho hàng hạ căn như chư thiên, loài người.

Luận Đại Trí Độ là một bộ luận lớn, bộ luận căn bản của Phật pháp, giảng giải bao quát nhiều vấn đề liên quan đến học thuyết, tư tưởng, truyền thuyết, lịch sử, địa lư, các quy định thực tiễn, giới luật Tăng già; dẫn dụng nhiều Kinh sách bao hàm cả kinh A-hàm, luận A-tỳ-đàm của các Bộ phái, các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Duy-ma-cật, A-di-đà, luôn cả tư tưởng của phái Thắng luận… Cho nên ví nó như là một bộ Phật Giáo Bách Khoa Toàn Thư.

Tác phẩm của Bồ-tát Long Thọ có nhiều như Trung luận, Thập Nhị Môn luận, Đại Trí Độ luận, Thập Trụ Tỳ-bà-sa luận, Bồ-đề Tư lương luận, Hồi Tránh luận v.v… nhưng trong đó chủ yếu nhất phải kể là Trung luận và luận Đại Trí Độ. Ở Trung luận th́ nhấn mạnh về mặt giảng lư chơn không, c̣n ở luận Đại Trí Độ giải thích kinh Đại Phẩm Bát-nhă th́ nhấn mạnh về mặt thuyết giảng lư thật tướng diệu hữu. Không thấu triệt tính chơn không của hiện hữu th́ hữu ấy là vọng hữu, thấu triệt được tính chơn không của hiện hữu th́ hữu ấy là diệu hữu.

Tư tưởng "Không" của Bát-nhă là cốt gạt bỏ mọi quan niệm vọng tưởng cố định, luôn luôn nh́n thế giới theo hai mặt (nhị biên) là sinh diệt, có không, thường đoạn, một khác, hữu biên, vô biên v.v… V́ vậy mà chơn tánh của thế giới bị bóp méo, bị che lấp. Chỉ có thể nói chơn tánh của thế giới là không, là vô tướng, không sanh không diệt, không đi không lại, không có không không v.v… trong đó không có thể thêm vào một thuộc tánh nào nữa được

Đễ thấu triệt "Không tánh" ấy người ta thường theo hai lối quán là Tích không quán và Thể không quán. Quán pháp phân tích thấy các pháp không tự có mà phải do nhân duyên ḥa hợp mới có, có một cách giả tạo, trống rỗng, không có thật tánh; như vậy gọi là Tích không quán. Nếu không thông qua sự quán sát phân tích nhân duyên, mà chỉ thể nhận trực tiếp "Không tính" thấy sự vật như thấy trăng dưới nước, bóng trong gương v.v…; như vậy gọi là Thể không quán.

Bát-nhă chứng chơn không, không phải là dùng tư tưởng để hư vô hóa sự vật, hư vô hóa thế giới, mà là để thấy rơ thật tánh của sự vật, của thế giới là Không. Dù cho khi ta đang do vọng tưởng thấy sự vật có th́ tánh nó vẫn là Không, một cái Không tuyệt đối, không vướng một tướng ǵ; nó như một luồng gió mạnh thổi tan đi bao nhiêu đám mây mù lởn vởn che lấp tâm trí, làm cho mọi hành động bị lúng túng, vướng vấp, hạn hẹp. Và khi tâm trí đă ra khỏi mây mù vọng tưởng th́ mọi sinh hoạt sẽ tự tại vô ngại không vướng vào danh tướng ngă nhân. Khi đă có lối nh́n của Bát-nhă th́ các pháp môn tu hành đều được thành cứu kính Ba-la-mật.

Cái Không theo Bát-nhă là cái không tức nơi có mà không, chứ không phải diệt có thành không; cái Không theo Bát-nhă là cái Không tuyệt đối, chứ không phải cái Không đối đăi, không đối với có.

Các pháp tánh không mà chấp cho là thật có ấy là vọng tưởng lư luận. Nhưng nếu lại chấp tướng không mà phá hủy tất cả, th́ lại rơi vào tà kiến. V́ vậy mà trong luận này đă cảnh tỉnh như sau:

"Người tà kiến nói các pháp không, lại chấp thủ tướng không của các pháp. Người tà kiến tuy miệng nói hết thảy không, mà ở nơi tham ái th́ sanh tham ái, nơi sân giận th́ sanh sân giận, nơi kiêu mạn th́ sanh kiêu mạn, nơi ngu si th́ sanh ngu si, chỉ tự dối ḿnh như vậy. C̣n người chơn thật biết không, th́ tâm không lay động, nơi tất cả các chỗ kiết sử sanh không c̣n sanh lại được. Ví như hư không, khói lửa không làm nhơ, mưa lớn không làm ướt. Quán không được như vậy, các phiền năo không c̣n dính tâm".

Và một đoạn khác nói: "Người quán Chơn không, trước hết thực hành bố thí, tŕ giới, thiền định, tâm được mềm dịu, các kiết sử mỏng, vậy sau mới đắc Chơn không. C̣n người tà kiến th́ không có các việc như vậy, họ chỉ muốn dùng ức tưởng phân biệt, tà kiến thủ không. Ví như người chưa hề biết muối, khi thấy người khác nêm muối vào thức ăn, người ấy hỏi lư do th́ được người kia trả lời là muối sẽ làm cho đồ ăn ngon lành. Người ấy suy nghĩ, như vậy th́ muối càng nhiều càng ngon, liền lấy toàn muối bỏ vào đầy miệng mà ăn, bị muối làm lở miệng, trở lại trách hỏi người kia, người kia nói sao anh ngu vậy, phải biết trù lượng nhiều ít ḥa hợp mới ngon, chứ sao lại ăn cả toàn muối! Cũng như vậy, người vô trí nghe nói "Không giải thoát môn", liền bỏ hết không chịu thực hành các công việc công đức mà chỉ muốn chứng được Không. Thế là người tà kiến, dứt bỏ các thiện căn".

Tôi ước nguyện dịch bộ luận Đại Trí Độ này từ lâu nhưng nay mới đủ duyên thực hiện được bước đầu. Luận dẫn dụng nhiều Kinh luận, trong đó có các luận A-tỳ-đàm, được dẫn ra để chỉ chỗ sai lầm hoặc để giải thích tinh thần Bát-nhă. Nếu muốn hiểu cho hết th́ phải có th́ giờ đọc các luận A-tỳ-đàm mới được.

Luận này đă được ông Étienne Lamotte dịch ra tiếng Pháp nhan đề là Le Traité de la Grande vertu de Sagesse và Trường Đại học Louvain xuất bản tập đầu năm 1944, tập 3 năm 1970, tập 5 năm 1980. Các tập khác không rơ xuất bản năm nào v́ hiện trước mắt tôi chưa có được.

Tôi nghĩ rằng bản chữ Hán, chữ Pháp và bản chữ Việt đối chiếu với nhau th́ có thể giúp người đọc hiểu dễ dàng hơn.

Phật lịch 2541
Từ Đàm, tháng 9 năm 1997
Thích Thiện Siêu

 

Tập 01 || Tập 02 || Tập 03 || Tập 04 || Tập 05 || Lời Nói Đầu

Cuốn: 01 || 02 || 03 || 04 || 05 || 06 || 07 || 08 || 09 || 10 || 11 || 12 || 13 || 14 || 15 || 16 || 17 || 18 || 19 || 20

 

Trở lại

 
   
   
Cập nhật: 07-10-2010

Tŕnh bày: Tịnh Quang

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email:

tangthuphathoc@gmail.com