PHƯƠNG TIỆN TR̀ CHÚ
Tŕ tức là thọ
tŕ, thọ nơi tâm, tŕ nơi thân. ‘’Tŕ‘’ cũng
giống như dùng tay cầm vật ǵ. Tŕ niệm thần
Chú th́ đừng quên nó, đừng thiếu nó, phải
niệm từ từ, thời thời phút phút tụng tŕ Chú
này.
Tŕ Chú nên có
một đàn tràng, gọi là Chú đàn, cũng giống
như truyền giới, cần có giới đàn. Chú đàn
phải thanh tịnh, không cho người vào hỗn tạp,
chỉ có người tŕ Chú, tu pháp ở trong đó.
Nghi kiến lập đàn là phương tiện trước khi
tŕ Chú, kiến lập đàn vốn có quy củ nhất
định, trong Kinh Lăng Nghiêm có nói đến, đây
là v́ người tụng Kinh hành đạo, cầu hiện
chứng mà thiết lập. Hiện chứng là đời này
đắc được lợi ích của Chú. Nếu "truy tố" phát
tâm tán tŕ. "Truy" là người xuất gia ; "tố"
là người tại gia, tán tŕ tức là không có
đàn tràng, như vậy phải chuyên nhất tâm ư
kiền thành cung kính. Trong Kinh Lăng Nghiêm
có nói : ‘’Nếu có chúng sinh, tâm khởi tán
loạn, th́ chẳng phải là Tam Ma Địa (định lực).
Tâm nhớ miệng tŕ là Kim Cang Vương, thường
tùy tùng theo các người thiện nam, hà huống
người quyết định phát đại tâm bồ đề.’’ ‘’
Tán tâm tŕ Chú không ở trong định, th́ có
tám vạn bốn ngàn Kim Cang Vương hộ pháp
thường theo bạn, hà huống quyết định phát
đại tâm bồ đề !‘’ Trong Kinh lại nói : ‘’
Nếu không làm đàn, không nhập đạo tràng,
cũng không hành đạo, tụng tŕ Chú này, vẫn
đồng công đức nhập đạo tràng không khác. Cho
đến đọc tụng biên chép Chú này, có ở trong
người, th́ ở đâu cũng yên nhà cửa vườn tược,
tích nghiệp như thế không lâu sẽ ngộ vô sinh
nhẫn.’’
Chỉ nói đơn giản
chỗ chính yếu. Tŕ Chú phải "ba mật" tương
ưng mới đắc được cảm ứng. Ba mật tức là :
Miệng tụng thần Chú, tâm tưởng chữ Phạn, tay
kết ấn tướng, cũng gọi là ba đàn. Tại sao
gọi là thần Chú ? V́ diệu không thể tả. Tâm
tưởng chữ Phạn, là quán tưởng mặt sau tâm
Chú của mỗi chữ Phạn. Ba mật tương ưng tức
là phương tiện trước khi tŕ Chú.
Thứ nhất là ‘’ Chú ngữ đàn.’’ Tŕ Chú th́ tự
nhiên kết thành đàn, đây là nói mỗi ngày,
hoặc mỗi lần trước tiên niệm Chú Lăng Nghiêm
một biến, sau đó tŕ tâm Chú một trăm lẻ tám
biến. Tâm Chú tức là : ‘’ Đát điệt tha. Án a
na lệ t́ xá đề, bệ ra bạt xa ra đà rị, bàn
đà bàn đà nể, bạt xà ra bàng ni, phấn hổ
hồng đô lô ung, phấn ta bà ha.’’ Tâm Chú này
diệu không thể tả. Nếu trên thế gian không
c̣n ai niệm Chú Lăng Nghiêm, th́ tất cả yêu
ma quỷ quái đều xuất hiện ra đời. Tâm Chú
này có hai câu : ‘’ A na lệ, t́ xá đề.’’ Một
câu nghĩa là "dọc cùng tam tế", một câu
nghĩa là "ngang khắp mười phương". Một khi
niệm hai câu Chú này, th́ thiên ma ngoại đạo
không có chỗ đào thoát. Chúng sẽ lăo lăo
thực thực nghe vẫy kêu. Chỉ sức lực của hai
câu Chú này, thật không thể nghĩ bàn. Nếu
sáng sớm bạn tụng niệm Chú Lăng Nghiêm một
lần, sau đó tụng tâm Chú 108 lần, th́ sẽ
được phước báu vô lượng vô biên. Cho nên nói,
nếu bạn tŕ tụng Chú Lăng Nghiêm, th́ đời
sau sẽ đắc được giàu sang phú quư bảy đời.
Đây là nói bạn muốn cầu phước báu trời người,
nếu không muốn cầu, th́ đương nhiên không
cần. Nếu bạn muốn cầu quả báo xuất thế, th́
sẽ đạt được mục đích. Đây là ‘’ Chú ngữ đàn.’’
Thứ hai là :‘’
Tâm tưởng đàn.’’ Nghĩa là khi tụng tâm Chú,
th́ quán tưởng từng chữ Phạn. Nói đến chữ
Phạn, có lúc sự t́nh không nhất định minh
bạch, nếu minh bạch th́ nhuệ khí, cảm thấy
đă đủ rồi. Nếu không minh bạch, th́ cảm thấy
có chút ư nghĩa trong đó. Không minh bạch
th́ ví như ăn thức ăn, chưa ăn th́ cảm thấy
ngon, ăn rồi th́ nếm qua : chua ngọt đắng
cay, tâm tham ăn đă dừng lại, cảm thấy chẳng
c̣n ngon nữa. Tu hành cũng như thế.
Nếu bạn không
biết ư nghĩa của Chú, ư nghĩa chữ Phạn th́
cảm thấy diệu không thể tả. Tâm niệm luôn
luôn nghĩ muốn biết, nếu bạn biết rồi th́
không chú ư. Quán tưởng chữ Phạn cũng lại
như thế, v́ chữ Phạn chúng ta chưa học qua,
nên không biết ư nghĩa của nó, không giống
như chữ Tàu. Đây là chữ ‘’ đại ‘’ kia là hai
chữ ‘’ Bồ Tát.‘’ Quán tưởng chữ Phạn sẽ đắc
được ngũ nhăn lục thông, phải quán tưởng
từng chữ rơ ràng, mở mắt nhắm mắt đều thấy
rơ ràng, lâu dần th́ chỗ diệu dụng sẽ phát
sinh, có thể khiến cho bạn khai mở ngũ nhăn
lục thông, thông nhân đạt quả, là v́ chúng
ta không minh bạch chữ Phạn, th́ có một sức
lực thần diệu.
Quán tưởng chữ
Phạn cũng là phương pháp khóa tâm lại, chế
tâm tại một chỗ đừng cho khởi vọng tưởng, ấn
nhập từng chữ Phạn vào trong tâm, bất cứ mở
hoặc nhắm mắt đều rơ ràng. Như thế lâu dần
sẽ đắc được tam muội.
Thứ ba là :‘’ thủ ấn đàn.’’ Thủ ấn cũng gọi
là thủ quyết. Một số cho rằng Kháp quyết
niệm Chú tức là Sáp quyết. Đă minh bạch Chú
ngữ đàn và quán tưởng đàn rồi, th́ Thủ ấn
đàn cũng phải minh bạch. Trong quyển Nhứt Tự
Phật Đảnh Luân Vương Niệm Tụng Nghi Quy cũng
nói rơ : ‘’ Bạch tản cái Phật đỉnh ấn ‘’,
dùng hai ngón cái, mỗi ngón bắt lấy đầu ngón
thứ tư, chạm nhau, hai đầu ngón cong như
h́nh cái lọng, hai ngón giữa cong một chút
chạm nhau, hai ngón út dựng thẳng chạm nhau
tức thành đại bạch tản cái Phật đỉnh luân
vương. (Xem h́nh ở dưới).
Kháp quyết niệm
Chú, tức là bạn phải tập trung tinh thần,
bạn làm động tác này, th́ không nên khởi
vọng tưởng ǵ khác. Chẳng phải ư nghĩa ǵ
khác, chẳng phải nói một khi Kháp quyết th́
linh. Nếu bạn không có vọng tưởng ǵ khác,
không Kháp quyết cũng là ba mật tương ưng.
Nên biết chân lư, tại sao phải có ba mật
tương ưng ? V́ Chú ngữ đàn, quán tưởng đàn,
thủ ấn đàn, đều muốn bạn đừng khởi bất cứ
vọng tưởng ǵ. Cho nên chuyên nhất th́ linh,
phân chia th́ tán loạn.
Lại có Thủ ấn Kim Cang quyền, Kim Cang
chưởng, Kim Cang phược. Không giống ‘’ Bạch
tản cái Phật đỉnh ấn ’’ rất phức tạp. Hai
bàn tay nắm lại, gọi là Kim Cang chưởng,
nhưng đừng trợn mắt, bằng không th́ thành
Kim Cang trợn mắt. Mười ngón tay bắt chéo
với nhau ngửa lên, gọi là thủ ấn Kim Cang
chưởng, úp xuống gọi là thủ ấn Kim Cang
phược. (Xem h́nh ở dưới) Hết thảy pháp Tam
muội đều do Kim Cang quyền, Kim Cang chưởng,
Kim Cang phược sinh ra. Khi bạn niệm Chú th́
ba đàn tương ưng. Ba thủ ấn này muốn kết ấn
nào cũng được, đều thành ‘’Lăng Nghiêm vương
đại bạch tản cái Phật đỉnh tâm Chú ấn.’’ Sau
đó quán tưởng tụng niệm Chú này, th́ ba mật
sẽ tương ưng. Được như thế th́ sẽ đắc được
thân, miệng, ư tam luân không thể nghĩ bàn
của mười phương chư Phật. Bất cứ sở cầu thế
gian, xuất thế gian, không có ǵ mà chẳng
được như ư, nhưng tốt nhất vẫn là vô sở cầu.
V́ có sở cầu th́ có tâm tham, có tâm tham
th́ chẳng đắc được cảm ứng hiện thời, không
thể được vô lượng công đức. Nếu vô sở cầu
th́ công đức mới lớn.
Nếu bạn không thể bắt ấn, th́ trong bộ mật
có ba bài Chú, tùy ư niệm cũng thành đàn.
Thứ nhất là Pháp Giới Chân Ngôn : "Án phạ
nhật la đà đổ một.’’ Niệm rồi th́ pháp giới
đều thanh tịnh. Thứ hai là Thanh Tịnh Chân
Ngôn : ‘’ Án lam sa ha.’’ Thứ ba là khi
Phóng Diệm Khẩu th́ niệm Ba Đàn Chân Ngôn :
‘’ Án hạ hồng.’’ Ba đàn tức là Phật, Pháp,
Tăng.
Chữ "Án" là trên đỉnh Tỳ Lô làm Phật đàn.
Chữ "Hạ" là trong miệng Di Đà làm Pháp đàn.
Chữ "Hồng" là trong tâm A Súc làm Tăng đàn.
Ba câu Chú này mỗi câu niệm bảy biến, th́ ba
mật cũng tương ưng. Trước khi niệm Chú, niệm
ba bài Chú này cũng rất tốt.
Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát
Giảng giải :
Nam Mô là tiếng Phạn, dịch là "quy mạng", "cung
kính". Tức là đem thân tâm tính mạng của
chúng ta đều quy y cho Phật. Cung kính Phật
năm thể sát đất. Chỉ có Phật là chúng ta
tin. Lăng Nghiêm tức là tất cả sự việc, tức
không phải là một thứ việc, mà là bất cứ sự
việc ǵ cũng đều bao quát trong đó, cứu kính
đạt đến mức không thể phá hoại được. Câu này
là quy mạng tất cả chư Phật trong hội Lăng
Nghiêm, tất cả các Bồ Tát. Tụng Chú Lăng
Nghiêm th́ trước hết phải quy mạng Lăng
Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát, đọc ba lần.
Diệu trạm tổng tŕ Bất Động Tôn, Thủ Lăng
Nghiêm vương thế hi hữu.
Diệu trạm tổng tŕ Đấng Bất Động, Chú Thủ
Lăng Nghiêm hiếm có trong đời.
Giảng giải : "Diệu trạm", diệu tức là không
thể nghĩ bàn, không thể tưởng tượng được.
Nếu tưởng tượng được, biết được th́ không
nói đến diệu. Diệu là vượt ra ngoài ư dự
đoán. Tư tưởng không đạt đến được, cho nên
gọi là ‘’ Không thể nghĩ bàn.’’ Trạm là trạm
thâm, tức là sâu dày thậm thâm. Không những
là diệu, mà c̣n diệu sâu dày thậm thâm,
không thể nghĩ bàn.
"Tổng tŕ" là "tổng
tất cả Pháp, tŕ vô lượng nghĩa". Tổng tất
cả Pháp tức là bao quát hết thảy các Pháp.
Tŕ vô lượng nghĩa, tức là thọ tŕ nghĩa vô
lượng, đều bao quát ở trong đó. Cho nên
‘’diệu trạm‘’ là hiển mật viên dung. Tổng
tŕ là tùy duyên phổ ứng, tất cả tận hư
không biến pháp giới, cảnh giới có sự mong
cầu, không thể không cảm ứng. Bổn thể thường
trụ tức bất động, bổn thể là tịch nhiên bất
động, cảm mà toại thông. Diệu trạm, Tổng tŕ
và Bất động cả ba đều là diệu trạm, ba mà
một. Cả ba đều là tổng tŕ, một mà ba. Cả ba
đều là bất động, chẳng phải ba, chẳng phải
một, cũng ba cũng một. Phân tích kỹ th́ ư
nghĩa trong mỗi một cái đều có ba ư nghĩa.
"Đấng Bất Động"
tức là danh hiệu chỉ cho Phật.
"Hiếm có trong đời" là thế, xuất thế đều tốt
hơn hết.
"Chú Thủ Lăng Nghiêm hiếm có trong đời.’’
Câu này là khen ngợi Lăng Nghiêm đại định.
Tu hành Lăng Nghiêm vương đại định này, sẽ
sinh ra tất cả các định, tất cả các định đều
từ định này mà sinh ra. Hiếm có trong đời là
nói trên thế gian không dễ ǵ có, khó gặp
khó thấy nhất. Câu kệ này là do Ngài A Nan
bị Chú Phạm Thiên mê hoặc, Phật nói Chú Lăng
Nghiêm rồi phái Bồ Tát Văn Thù dùng ‘’Chú‘’
đi cứu Ngài A Nan đem về. Ngài A Nan cảm tạ
thâm ân của Phật, cho nên nói bài kệ h́nh
dung sự cảm thọ của Ngài.
Tiêu ngă ức kiếp điên đảo tưởng. Bất lịch
Tăng kỳ hoạch pháp thân.
Tiêu diệt tưởng điên đảo của con, trong
trăm ngàn ức kiếp, không phải trải qua số
kiếp A Tăng Kỳ, mà chứng được pháp thân.
Giảng giải : Con người từ vô lượng kiếp đến
nay, có những vọng tri vọng kiến, tà tri tà
kiến, điên đảo mộng tưởng. Tưởng điên đảo
tức là chẳng phải thường cho là thường,
chẳng phải đoạn cho là đoạn, chẳng có cho là
có, chẳng không cho là không ; chạy theo
cảnh giới không thật, không thể chuyển được
cảnh giới không thật, tức cũng là người bị
cảnh chuyển, mà không thể chuyển được cảnh,
tức cũng thường bị nghiệp phong dắt đi. Sự
sai lầm chỉ là chút chút không nhiều, nhưng
chỉ một chút chút này, mà khác biệt với chân
chánh thường trụ chân tâm, tính tịnh minh
thể, sai lầm hàng ngàn dặm. Điên đảo tức là
không nên tưởng mà tưởng, không nên tham mà
tham, không nên sân mà sân, không nên mê hồ
mà mê hồ. Nói rơ ra là tưởng điên đảo trong
tự tánh. Không thể đại công vô tư, tức là
điên đảo. Thứ tưởng điên đảo này, là nguyên
nhân khiến cho chúng ta thọ sinh tử, trong
sáu nẻo luân hồi. Tu th́ phải tiêu trừ tưởng
điên đảo. Như Ngài A Nan là người thông minh
như thế, mà vẫn có tưởng điên đảo giống nhau.
Sức trí nhớ của Ngài rất phi thường. Phật
nói hết thảy Kinh điển, một khi lọt qua tai
th́ vĩnh kiếp không quên. Nhưng khi Ngài
thấy nữ Ma Đăng Già th́ Ngài bị giao động,
liền theo cô ta vào trong nhà ngoại đạo. Đây
là tưởng điên đảo của Ngài. Người nam th́
tham, người nữ th́ ái, tức là tưởng điên đảo.
Đây là từ vô lượng kiếp đến nay đều có. Cho
nên nói Thủ Lăng Nghiêm Vương đại định, đại
pháp này rất hiếm có trong thế gian, sẽ tiêu
trừ tưởng điên đảo đời đời kiếp kiếp, từ vô
lượng kiếp đến nay.
‘’ Không phải
trải qua số kiếp a tăng kỳ mà chứng được
pháp thân.’’ Đức Phật tu hành trải qua ba
đại A tăng kỳ kiếp mới thành Phật. Cho nên :
Tam kỳ tu phước huệ,
Bách kiếp chủng tướng hảo.
Nghĩa là :
"Ba A Tăng kỳ tu phước huệ
Trăm kiếp trồng tướng tốt".
Tu phước một trăm đại kiếp, mới đắc được ba
mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. A tăng
kỳ kiếp tức vô lượng số, ba A tăng kỳ kiếp
tức là ba vô lượng số. Số mục này có bao
nhiêu ? Dùng máy điện toán cũng đếm không
được. Bây giờ Ngài A Nan nói : ‘’ Không phải
trải qua số kiếp A tăng kỳ, mà chứng được
pháp thân.’’ Tôi đắc được đại định kiên cố
của Chú Lăng Nghiêm, không cần trải qua ba A
tăng kỳ kiếp mà có thể đắc được pháp thân,
cũng sẽ thành Phật, chứng được pháp thân tự
tại, thần thông biến hóa. Thành tâm tụng Chú
Lăng Nghiêm th́ không cần trải qua thời gian
lâu dài cũng sẽ đắc được pháp thân.
Nguyện kim đắc quả thành Bảo vương, hườn
độ như thị Hằng sa chúng, tương thử thâm tâm
phụng trần sát, thị tắc danh vi báo phật ân.
Phục thỉnh Thế Tôn vị chứng minh, ngũ trược
ác thế thệ tiên nhập, như nhứt chúng sinh vị
thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê-hoàn.
Nay con nguyện khi đắc được quả Bảo Vương,
trở lại độ chúng sinh nhiều như số cát sông
Hằng, đem thân tâm này phụng sự chúng sinh,
khắp các cơi nhiều như số hạt bụi, đó mới là
báo ơn Phật. Lại thỉnh Đức Thế Tôn chứng
minh : Vào đời ác năm trược, con thề xin vào
trước. Nếu c̣n một chúng sinh chưa thành
Phật, con sẽ không thủ chứng quả vị Nê Hoàn.
Giảng giải : Ngài A Nan ở trước nói : ‘’
Tiêu diệt tưởng điên đảo của con trong trăm
ngàn ức kiếp, không phải trải qua số kiếp a
tăng kỳ mà chứng được pháp thân.’’ Bây giờ
lại nói : ‘’ Nay con nguyện khi đắc được quả
Bảo vương.’’ Nay tôi phát nguyện, nguyện
trước khi thành Phật, đắc quả tức là đắc
Phật quả, Bảo Vương tức là Phật.
"Trở lại độ chúng
sinh nhiều như số cát sông Hằng". Tôi thành
Phật không phải v́ chính ḿnh, c̣n phải trở
lại thế giới Ta Bà, giáo hóa chúng sinh
nhiều như số cát sông Hằng. Tất cả chúng
sinh tôi đều phải giáo hóa.
‘’ Đem thâm tâm
này phụng sự chúng sinh, thân khắp các cơi
nhiều như số hạt bụi.’’ Tâm tức trí huệ Bát
nhă. ‘’ Phụng sự chúng sinh khắp các cơi
nhiều như số hạt bụi.’’ Biến hóa đến mười
phương thế giới để giáo hóa chúng sinh. Tôi
dùng nguyện lực phổ biến khắp mười phương
cơi nước, nhiều như số hạt bụi thế giới, để
giáo hóa chúng sinh.
‘’ Đó mới là báo
ân Phật.’’ Dùng tâm chí thành khẩn thiết mới
báo đáp được ân đức của Phật đối với tôi.
‘’ Lại thỉnh Đức
Thế Tôn chứng minh.’’ Lại kiền thành thỉnh
cầu Thế Tôn chứng minh nguyện lực này của A
Nan.
‘’ Vào đời ác năm
trược con thề xin vào trước.’’ Chúng sinh
trong đời ác năm trược rất khó độ, tôi phải
độ trước. Năm trược là : Kiếp trược, kiến
trược, phiền năo trược, chúng sinh trược,
mạng trược, chúng sinh cang cường khó điều,
khó phục. Tôi phải vào trước thế giới Ta Bà
tội ác để độ chúng sinh.
‘’ Nếu c̣n một
chúng sinh chưa thành Phật, con sẽ không thủ
chứng quả vị Nê Hoàn.’’ Tôi thủy chung không
thể thủ chứng quả A La Hán. Sơ quả Tu Đà
Hoàn, nhị quả Tư Đà Hàm, tam quả A Na Hàm,
tứ quả A La Hán, cũng không thể thủ quả vị
Niết Bàn của Phật. Nếu c̣n chúng sinh chưa
thành Phật, th́ tôi ở tại đây đợi để giáo
hóa họ, khiến cho họ đều thành Phật, rồi sau
tôi mới thủ chứng quả vị Nê Hoàn. Quả vị Nê
Hoàn của nhị thừa tức quả vị A La Hán, Phật
th́ quả vị Niết Bàn, tức cũng là Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây là sự phát nguyện
của Ngài A Nan, đến giúp Phật hoằng dương,
trợ giúp Phật Thích Ca Mâu Ni để giáo hóa
Chúng sinh.
Đại hùng đại lực đại từ-bi, hi cánh thẩm
trừ vi tế hoặc, linh ngă tảo đăng vô thượng
giác, ư thập phương giới tọa đạo tràng.
Đại hùng đại lực đại từ bi. Nguyện cầu
trừ sạch hết hoặc vi tế, khiến cho con sớm
thành vô thượng giác. Kiến lập đại đạo tràng
trong khắp mười phương.
Giảng giải : ‘’ Đại hùng ‘’, tức là đại anh
hùng, cũng bao quát đại trí, đại huệ, đại
hạnh, đại nguyện trong đó.
‘’ Đại lực’’, càng không thể so sánh thứ sức
lực to lớn này. Tức có đại hùng lực, lại có
đại từ bi. Dùng đại hùng đại lực để chủ tŕ
tâm đại từ bi. Từ là ban cho chúng sinh hết
thảy sự vui sướng, bi là cứu hết thảy khổ
của chúng sinh. Thương chúng sinh không thể
cùng tận, tất cả nguyện của chúng sinh đều
đầy đủ. Chúng sinh có nguyện cầu ǵ với Phật,
Phật đều làm cho họ được như ư.
‘’ Nguyện cầu trừ
sạch hết hoặc vi tế’’. Ở trên đă thỉnh Phật
‘’ Tiêu diệt tưởng điên đảo của con, trong
trăm ngàn ức kiếp‘’, là chỉ tiêu trừ kiến
hoặc, tư hoặc bây giờ lại tiêu trừ trần sa
hoặc. Trần sa hoặc là một thứ hoặc vi tế,
chỗ mà bạn cảm giác không đến được, trầm ở
dưới đáy tâm của bạn, vọng niệm vi tế, vô
minh. Nguyện cầu đại hùng đại lực của Phật
Thế Tôn trừ khử mê hoặc vi tế của tôi.
‘’ Khiến cho con
sớm thành vô thượng giác.’’ Khiến cho con
sớm thành Phật đạo.
‘’ Kiến lập đại đạo tràng trong khắp mười
phương.’’ Kiến lập đạo tràng lớn trong mười
phương thế giới, để hoằng dương Phật Pháp.
Có người nói Ngài A Nan phát nguyện này rất
mâu thuẫn. Ở trước nói : ‘’ Nếu c̣n một
chúng sinh chưa thành Phật, con sẽ không thủ
chứng quả vị Nê Hoàn.’’ Bây giờ lại hy vọng
sớm thành Phật đạo, ngồi đạo tràng trong
mười phương thế giới. Nguyện này không phải
là mâu thuẫn chăng ? Không phải. Ở trước
Ngài nói : ‘’ Con sẽ không thủ chứng quả vị
Nê Hoàn ‘’. Là độ hết chúng sinh mới thủ
chứng quả Nê Hoàn, nếu chưa độ hết th́ không
thủ chứng chánh giác ! Bây giờ thỉnh Phật
gia bị cho Ngài. Khiến cho thô hoặc, tế hoặc
của Ngài dứt sạch, chúng sinh cũng độ hết,
khiến cho nguyện lực của Ngài mau chóng được
thành tựu.
‘’ Khiến ‘’ là sử
khiến cho Ngài sớm chứng được vô thượng giác,
sớm thành Phật đạo, tức cũng thỉnh Phật giúp
Ngài, Ngài phải độ hết chúng sinh. Nói : ‘’
Nếu c̣n một chúng sinh chưa thành Phật ‘’,
là chỉ chúng sinh có duyên với Ngài, Ngài
đều phải độ hết. Nếu chúng sinh không có
pháp duyên với Ngài, th́ đợi người khác độ,
không phải tôi là luật sư biện hộ cho Ngài A
Nan, chắc chắn là như thế. Nếu hết thảy tất
cả chúng sinh trên thế giới đợi Ngài A Nan
đi độ, th́ các Bồ Tát khác làm ǵ ? Đợi
hương khói chăng ? Không có lư này. Phật, Bồ
Tát cũng phân công hợp tác, mỗi vị tận hết
khả năng, tùy duyên độ sanh. Giống như chúng
ta ở đây có nhiều người khách đến, mọi người
phân công hợp tác, bên đây lo pḥng xá, bên
kia lo quét dọn, đằng kia th́ cắt cỏ. Đây
đều là ai lo việc nấy, là v́ thành tựu đạo
tràng, là ư nghĩa này. Cho nên bạn đừng cho
rằng Ngài A Nan phát nguyện này mâu thuẫn,
bạn phê b́nh như thế cũng làm cho Ngài A Nan
một thân tội quá. Ngài A Nan muốn độ bạn
nhưng mà bạn lại phê b́nh Ngài, nói Ngài mâu
thuẫn. Ngài A Nan mâu thuẫn là việc của Ngài,
chính bạn không mâu thuẫn th́ được rồi. Các
vị nghĩ xem, "đừng dùng tâm phàm phu để ḍ
Thánh trí, dùng tâm tiểu nhân để đo bụng
quân tử", chỉ loạn thêm, phê b́nh là không
thể được.
Thuấn nhă đa tánh khả tiêu vong,
thước-ca-ra tâm vô động chuyển.
Tính hư không có thể tiêu vong, tâm hư
không chẳng bao giờ lay động.
Giảng giải : ‘’Thuấn nhă đa‘’ là ǵ ?
‘’Thước ca la ‘’ lại là ǵ ?
‘’Thuấn nhă đa tính khả tiêu vong.’’ Là nói
tính hư không cũng có thể không c̣n. Bạn nói
hư không có thể không c̣n chăng ? Không thể.
V́ nó là không, c̣n tiêu cái ǵ ? Nó vốn là
không có ǵ, có ǵ để tiêu ? Nhưng Ngài A
Nan lại nói nó có thể tiêu vong. Đây chỉ là
từ giả thiết. Hư không không thể tiêu vong
cũng có thể tiêu vong.
Nam mô thường trụ thập phương Phật.
Nam mô thường trụ thập phương Pháp.
Nam mô thường trụ thập phương Tăng.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát.
Giảng giải : ‘’Nam mô thường trụ thập phương
Phật, Nam mô thường trụ thập phương Pháp,
Nam mô thường trụ thập phương Tăng.’’ Đây là
quy y Tam Bảo. Chúng ta quy y mười phương
chư Phật. Lại quy y pháp của Phật nói. Lại
quy y mười phương ba đời hiền Thánh Tăng.
Hiền Thánh Tăng là đại Bồ Tát, đại A La Hán
đều bao quát trong đó.
‘’ Nam mô Thích
Ca Mâu Ni Phật ‘’. Quy y mười phương Tam Bảo
rồi, lại quy y Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thích Ca Mâu Ni theo tiếng Phạn dịch là "năng
nhân tịch mặc", "năng nhân" là phổ độ chúng
sinh, "tịch mặc" là tịch nhiên bất động.
Năng nhân cũng là cảm mà toại thông. Hay
dùng nhân từ thí cho chúng sinh. Đây là động
tĩnh không hai. Năng nhân là động, tịch mặc
là tĩnh. Động tĩnh nhất như. Trong động tức
là tĩnh, trong tĩnh tức là động. Động không
ngại tĩnh, tĩnh không ngại động. Bạn tu đạo
tu đến động tĩnh nhất như, th́ t́m được bổn
thể, càng không có vọng niệm ǵ.
‘’Nam mô Phật
đảnh Thủ Lăng Nghiêm‘’. Lại quy y Phật đảnh
Thủ Lăng Nghiêm đại định này.
‘’ Nam mô Quán
Thế Âm Bồ Tát. ‘’ Lại quy y Quán Thế Âm Bồ
Tát.
‘’ Nam mô Kim
Cang Tạng Bồ Tát.’’ Lại quy y tám vạn bốn
ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát. Niệm Chú Lăng
Nghiêm th́ có tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng
Bồ Tát thường bảo hộ bạn, theo hầu hai bên.
Cho nên niệm Chú Lăng Nghiêm không phải là
sự trồng căn lành một đời một kiếp, mà là đă
trồng căn lành trong vô lượng trăm ngàn vạn
ức kiếp về trước, mới có thể học và tŕ tụng
Chú Lăng Nghiêm. Không phải trồng căn lành
nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm
đức Phật mà đă trồng căn lành với vô lượng
ngàn vạn đức Phật, mới gặp được Chú Lăng
Nghiêm.
Có người nghĩ : "Sư
phụ, hôm qua Ngài nói, không minh bạch là
diệu. Vậy tại sao lại phải giảng cho chúng
con nghe "! Tôi giảng là việc của tôi, bạn
không nghe là việc của bạn. Bạn có thể ngủ
tại đó, đó lại càng diệu, nhập Tam ma địa
ngủ. Một khi ngủ th́ đi gặp Chu Công. Chu
Công nói : ‘’ Hoan nghênh bạn đến ! Đánh một
ván cờ với bạn ‘’, th́ đánh cờ tại đó, đợi
giảng xong Chú Lăng Nghiêm th́ bạn cũng đánh
cờ xong, nói : ‘’ Ồ, cái ǵ thế ? ‘’ tôi
cũng không biết.
Có một vị cư sĩ muốn cầu tôi quán đảnh cho
các vị. Tôi cũng muốn làm tṛn ư nguyện của
các bạn. Bây giờ tôi dùng Quán Âm đại pháp
để quán đảnh toàn thể các bạn. Mọi người đều
ngồi tại chỗ, chắp tay lại, nhất tâm niệm
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, tốt nhất là hăy
nhắm mắt lại, đem tâm chân thành ra, đừng
hoài nghi cũng đừng có tâm thử nghiệm. Phải
nhất tâm nhất ư để tiếp thọ quán đảnh. Các
bạn tu Bốn Mươi Hai Thủ Nhăn, phải thành tâm
một chút, từ từ tu pháp này. Tu pháp này
tương lai sẽ đắc được thiên thủ thiên nhăn (ngàn
tay ngàn mắt). Giống như Bồ Tát Quán Âm đến
giáo hóa chúng ta. Đây là kỳ vọng của tôi
đối với các bạn. Tu pháp phải có hành vi
chánh đáng, tâm địa tốt, không thể dùng tâm
tham, không thể dùng tâm ô nhiễm đi lường
gạt người. Không thể dùng pháp này đi phan
duyên bên ngoài. Phải lăo lăo thực thực,
không thể có hành vi bất chánh đáng, điều
này rất quan trọng.
Nhĩ thời Thế Tôn, tùng nhục kế trung,
dơng bá bảo quang, quang trung dơng xuất,
thiên diệp bảo liên, hữu hóa Như Lai, tọa
bảo hoa trung, đảnh phóng thập đạo, bá bảo
quang minh, giai biến thị hiện thập Hằng hà
sa, Kim Cang Mật Tích, ḱnh sơn tŕ sử, biến
hư không giới, đại chúng ngưỡng quan, uỶ aí
kiêm bảo, cầu Phật ai hựu, nhứt tâm thính
Phật, vô kiến đảnh tướng, phóng quang Như
Lai, tuyên thuyết Thần Chú.
Lúc bấy giờ, từ trong nhục kế của Đức Thế
Tôn, vọt ra trăm luồng quang minh báu.
Trong quang minh vọt ra hoa sen báu ngàn
cánh. Trong hoa sen báu ngàn cánh, có hóa
thân Như Lai ngồi trên đỉnh, phóng ra mười
đạo trăm quang minh báu, mỗi mỗi quang minh,
đều biến hiện vô số Kim Cang Mật Tích, nhiều
như số cát mười sông Hằng, tay bưng núi, tay
cầm chùy đầy khắp trong hư không. Đại chúng
đều chiêm ngưỡng quan sát, vừa sợ vừa thích,
cầu Phật thương xót, một ḷng lắng nghe Phật,
từ tướng vô kiến đảnh của Như Lai, phóng
quang minh diễn nói thần Chú.
Giảng giải : ‘’ Lúc bấy giờ ‘’, tức là lúc
nói Chú Lăng Nghiêm. Bây giờ lại là lúc
giảng Chú Lăng Nghiêm. Nói Chú Lăng Nghiêm
là mấy ngàn năm về trước. Giảng Chú Lăng
Nghiêm là mấy ngàn năm về sau. Nghe Chú Lăng
Nghiêm là bây giờ, không phải quá khứ, cũng
không phải vị lai. V́ quá khứ đă qua rồi, vị
lai th́ chưa đến. C̣n về hiện tại, hiện tại
cũng không ngừng. Nay bạn nói đây là hiện
tại th́ đă quá khứ rồi. Hiện tại cũng không
tồn tại. Tại sao nói như thế ? V́ tâm quá
khứ không thể đắc được, tâm hiện tại không
thể đắc được, tâm vị lai không thể đắc được,
ba tâm không thể đắc được. Chỉ có Chú Lăng
Nghiêm là đắc được.
‘’
Đức Thế Tôn ‘’, là thế, xuất thế, đều tôn
kính. Lại không so sánh th́ càng tôn quư,
cao siêu tức là Phật. Lúc đó từ trên đỉnh
nhục kế của Phật phóng ra trăm luồng quang
minh báu, trong quang minh báu vọt ra hoa
sen báu ngàn cánh. Trăm báu ở đây là biểu
hiện bách giới. Hoa sen báu ngàn cánh là
biểu hiện thiên như. Nói là nói như thế,
thật ra không phải là biểu hiện bách giới
thiên như mà là vô cùng vô tận, vô lượng vô
biên. Có thể nói ba ngàn đại thiên thế giới,
đâu chẳng phải từ trăm quang minh báu hóa
thành. Trên hoa sen báu có hóa thân của Phật.
Hóa thân là do không mà hóa có. Nói nó có,
nó lại không có, nói nó không có, nó lại có.
Hốt hiển, hốt ẩn, hốt có, hốt không. Ngước
mặt xem ở trước, hốt nhiên lại ở sau. Hóa
thân Như Lai, tức là Phật biến hóa thân,
ngồi trên hoa sen báu ngàn cánh. Trên đầu
hóa thân Như Lai, lại phóng ra mười luồng
trăm quang minh báu. Mười luồng quang minh
biểu hiện mười pháp giới. Mỗi mỗi quang minh
đều phổ biến thị hiện Bồ Tát Kim Cang Mật
Tích nhiều như số cát mười sông Hằng. Kim
Cang Mật Tích cũng là Kim Cang Hộ Pháp, tức
cũng là Hộ Pháp Kim Cang. Mật Tích tức là
trầm mặc bảo hộ bạn. Niệm Chú có ít nhứt tám
vạn bốn ngàn Kim Cang bảo hộ bạn. Thực ra
không chỉ có chừng ấy, mà có nhiều như số
cát mười sông Hằng, dùng máy điện toán cũng
tính không được, số Hộ Pháp Kim Cang trong
trầm mặc bảo hộ bạn. Bạn tự ḿnh không nh́n
thấy, nhưng có thật.
Bồ
Tát Kim Cang Tạng một tay bưng quả núi lớn,
một tay cầm cái chùy báu lớn, xem lớn cỡ nào,
đầy khắp hư không.
"Đại
chúng đều chiêm ngưỡng quan sát, vừa sợ vừa
thích, cầu Phật thương xót". Sợ sệt, trong
tâm như có con thỏ đang nhảy nhót. Nói không
dám nh́n, lại bỏ chẳng đặng, muốn nh́n lại
sợ sệt, đầu tóc đều dựng đứng, toàn thân đều
nổi da gà.
"Vừa
sợ vừa thích", vừa có sợ vừa có sự ưa thích.
Hai thứ tâm t́nh, hai thứ tư tưởng.
‘’
Cầu Phật thương xót‘’. Lúc đó bèn cầu Phật
Thích Ca thương xót chúng ta.
‘’ Một ḷng lắng nghe Phật ‘’. Lúc đó thật
không có vọng tưởng, nhất tâm, không có tâm
thứ hai. Không giống như các bạn nghe Chú
Lăng Nghiêm, pháp sư giảng tại đây mà trong
tâm khởi vọng tưởng, không thể nhất tâm.
Đương nhiên tôi không có đại oai đức như
Phật, cho nên tôi giảng cho các bạn nghe,
các bạn đều khởi vọng tưởng.
‘’
Từ tướng vô kiến đảnh của Như Lai.‘’ Không
thấy được tướng đảnh của Phật. Tướng vô kiến
đảnh này nh́n tựa có như không có, nói không
có lại như có. Tướng vô kiến đảnh là bạn
nh́n không thấy, cũng là không chỗ nào mà
chẳng thấy, chẳng nh́n chẳng thấy.
‘’
Phóng ra quang minh diễn nói thần Chú.’’ Tức
là Như Lai biến hóa trên hoa sen báu lớn,
trên tướng vô kiến đảnh của Ngài sinh ra
trăm quang minh báu, trăm quang minh báu lại
có hoa sen báu ngàn cánh. Trên hoa sen báu
ngàn cánh lại có hóa thân Như Lai, lại phóng
đại quang minh diễn nói thần Chú. Đây là
Phật hóa Phật tuyên thuyết thần Chú. Không
phải một số người có thể nghe được. Đương
thời, đều là những vị pháp thân Đại Sĩ, đại
Bồ Tát mới có thể nghe được thần Chú. Bạn
muốn nghe th́ trước phải học Chú Lăng
Nghiêm. Học xong rồi mới có thể nghe.